Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
LỜI NÓI ĐẦU
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì nhu
cầu về vốn của các nghành, các thành phần kinh tế ngày càng tăng để phục vụ
cho phát triển và mở rộng sản xuất. Đáp ứng yêu cầu đó thì hệ thống các ngân
hàng đã ra đời với tư cách là các nhà trung gian tài chính. Nhưng để giúp cho
các nhà quản lý và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra,
kiểm soát nguồn vốn một cách có hiệu quả, đồng thời tránh sự lợi dụng những
kẽ hở trong hệ thống quản lý của một số cán bộ nhằm thu lợi bất chính thì cần
phải có một công cụ thích hợp đó chính là công tác kiểm toán.
Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán nói chung cũng bắt đầu được thực
hiện vào cuối những năm 80 và kiểm toán nội bộ (KTNB) được áp dụng thực
hiện vào đầu những năm 90-91. Sự phát triển mạnh mẽ của kiểm toán nói
chung và kiểm toán nội bộ nói riêng đã tác động lớn đến tính hiệu quả, xu
hướng hoạt động của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế - mọi doanh nghiệp
và đơn vị kinh doanh trong đó có các NHTM đều phải điều chỉnh và hoàn
thiện các hoạt động của mình nhằm xây dựng tổ chức mình ngày càng mạnh
mẽ hơn, tạo sự tin cậy hơn trong công chúng để tăng sức cạnh tranh của mình
trong nền kinh tế. Hệ thống NHTM Việt Nam cũng thực hiện hoạt động
KTNB xuất phát từ chính nhu cầu của mình để tạo ra những động lực thúc
đẩy phát triển.
Để có thể tìm hiểu sâu vấn đề này tôi chọn chuyên đề “Phương hướng
hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại”.
Nội dung đề tài bao gồm những phần sau:
Phần I: Lý luận chung về KTNB trong các NHTM ở Việt Nam
I. Bản chất, chức năng và nhiệm vụ của KTNB
II. Trình tự tiến hành KTNB
1
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
III. Sự cần thiết phải KTNB trong các NHTM
Phần II: Thực trạng của hoạt động KTNB trong các NHTM ở Việt
3
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
Sai lầm và gian lận là các khiếm khuyết, các vi phạm đối với nguyên tắc
và luật lệ kế toán đã được qui định. Sự khác biệt giữa sai lầm và gian lận nằm
trong yếu tố ý đồ.
Sai lầm là sự vi phạm do bất cẩn, vô ý hay kém cỏi mà người thực hiện
hoàn toàn không có.
Gian lận là một sự vi phạm do cố tình mà người thực hiện có ý đồ phạm
pháp rõ rệt.
Trên thực tế kiểm toán viên nhiều khi khó phân biệt xem sự vi phạm nào
là sai lầm và sự vi phạm nào là gian lận. Xác định một trường hợp vi phạm là
có ý đồ hay không có ý đồ hoàn toàn không đơn giản.
Các dạng sai lầm thường gặp là do thiếu sót, do định khoản sai, nhầm lẫn
về ghi sổ và chuyển khoản sổ, nhầm lẫn do trùng lắp, sai lầm bù trừ nhau, sai
lầm về nguyên tắc.
Các hình thức gian lận thường gặp là gian lận tiền bạc và tài sản tạo
dựng tình huống.
Có nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau.
a- Theo chức năng của kiểm toán có 3 nội dung sau:
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán báo cáo tài chính
- Kiểm toán tuân thủ
* Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động đánh giá tính hiệu quả, tác dụng của 1 phương án
kinh doanh, 1 qui trình công nghệ hay một loại TSCĐ muốn đưa vào hoạt
động. Kiểm toán hoạt động sử dụng các kỹ năng khác nhau: kế toán, tài chính,
kinh tế, kỹ thuật và khoa học... Kết thúc cuộc kiểm toàn thường lập một bản
4
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
giải trình đánh giá, kết luận các mặt tốt, xấu gửi cho các cơ quan có thẩm
Nội dung công việc của kiểm toán báo cáo tài chính gồm:
- Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính tin cậy của
báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi giám đốc ký duyệt và
công bố.
- Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị
được ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm bảo đảm sụ hợp lý và hiệu quả.
b- Theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán có thể gồm 3 loại:
- Kiểm toán độc lập
- Kiểm toán nội bộ
- Kiểm toán Nhà nước.
* Kiểm toán độc lập là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên độc
lập hành nghề trong các công ty kiểm toán hoặc trong các văn phòng kiểm
toán chuyên nghiệp tiến hành. Trên thế giới, kiểm toán độc lập là loại hoạt
động dịch vụ tư vấn dưới sự bảo hộ và thừa nhận của pháp luật. Ngày nay
công việc kiểm toán độc lập càng ngày càng được quản lý chặt chẽ bởi các
hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán. Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc
lập là kiểm toán báo cáo tài chính và thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của
khách hàng ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ tư vấn về tài chính - kế toán
thuế. Ở Việt Nam trong những năm gần đây kiểm toán độc lập đã và đang
phát triển mạnh mẽ.
* KTNB là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị
viên hành theo yêu cầu của giám độc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị.
6
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
* Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là công việc là kiểm toán do cơ quan
kiểm toán nhà nước tiến hành để xem xét việc chấp hành các chính sách, luật
lệ, chế độ của nhà nước và sự đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại
các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Kiểm toán nhà nước có
nhiệm vụ kiểm tra, xác nhận việc chi tiêu đúng mục đích, đúng dự toán và có
2. Chức năng của KTNB
Trong doanh nghiệp, KTNB là bộ phận chịu trách nhiệm xem xét lại một
cách định kỳ các biện pháp mà ban giám đốc và các nhà quản lý ở mọi cấp áp
dụng để quản lý và kiểm soát doanh nghiệp. Chức năng này được đảm nhiệm
bởi một bộ phận chịu sự điều hành của Ban giám đốc nhưng hoàn toàn độc
lập với tất cả các bộ phận khác. KTNB có 3 chức năng cơ bản là kiểm tra,
xác nhận và đánh giá.
Phạm vi kiểm tra, xác nhận và đánh giá của KTNB bao gồm:
- Độ tin cậy của thông tin tài chính - kế toán do kế toán tổng hợp xử lý
và trình bày.
- Tính tuân thủ luật pháp và các qui chế, các qui định của nhà nước, các
qui định của bản thân doanh nghiệp.
- Tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực,
lựa chọn các phương án các quyết định kinh tế.
3. Nhiệm vụ của KTNB
Để làm đúng và trọn vẹn chức năng của mình, kiểm toán nội bộ có
nhiệm vụ sau đây:
- Kiểm tra và đánh giá tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống KTNB trong đơn vị, trong doanh nghiệp.
8
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
- Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài
chính, của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khi
trình ký duyệt và công bố.
- Kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ luật pháp chính sách, chế độ tài chính,
kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị, của ban
giám đốc doanh nghiệp.
- Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ
tài sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến hoàn thiện hệ
Kiểm toán thường xuyên là thực hiện các việc thẩm tra, xem xét liên tục,
hàng tuần, hàng tháng trong suốt năm. Hình thức này tỏ ra khá hữu hiệu vì có
thể giúp cho việc phát hiện mau chóng kịp thời các sai sót, nhờ đó hạn chế
ngăn chặn được các tác hại. Nhờ đó thực hiện thường xuyên, các cuộc kiểm
toán này có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa rất hiệu quả.
Kiểm toán định kỳ chỉ nhằm theo dõi tình hình qua các báo cáo tài chính
kế toán hàng tháng, thàng quý hay cả năm nghiên cứu đánh giá bảng cân đối
kế toán giữa năm hay cuối năm để đưa ra những nhận xét kết luận, đánh giá
công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Do khoảng cách về thời gian kiểm toán cách nhau khá xa nên nhiều khi
không mang lại kết quả mong muốn về các sai trái, tiêu cực (nếu có) đã gây ra
những hậu quả khó có thể khắc phục.
c) Kiểm toán phòng ngừa và kiểm toán sau hoạt động
Kiểm toán phòng ngừa là loại hình kiểm toán bao gồm những biện pháp
phòng ngừa được áp dụng trước hay ngay sau khi một nghiệp vụ kế toán phát
sinh nhằm bảo đảm cho bộ máy kế toán hoạt động chuẩn xác và hợp thức, loại
trừ các sai phạm trước hay ngay khi chúng xuất hiện.
10
Chuyên đề kế toán trởng
Kim toỏn sau hot ng ch nhm xem xột kho sỏt xỏc nh xem cỏc
s k toỏn cú trung thc chớnh xỏc khụng, ng thi phỏt giỏc cỏc vi phm,
gian ln nu cú.
Hai hỡnh thc ny mc dự cú s khỏc nhau nhng vn cú s h tr nhau
rt hu hiu. Mt mt, chớnh nh cỏc kinh nghim, cỏc kt lun c rỳt t
nhng cuc kim toỏn sau hot ng m cỏc chuyờn gia mi xõy dng, thit
lp cỏc bin phỏp phũng nga cho cụng tỏc kim toỏn phũng nga. Mt khỏc,
vic ban hnh cỏc bin phỏp phũng nga khụng ch n thun a ra cỏc ch
th, cỏc qui nh m cũn phi cú nhng s kim toỏn theo dừi s tuõn th,
chp hnh na, ú l mt dng kim toỏn sau hot ng u tiờn.
II. TRèNH T TIN HNH KIM TON NI B
- Đánh giá khả năng sai sót nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại nghiệp
vụ, từng hoạt động kinh tế, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong các nghiệp
vụ phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp .
- Thực hiện phân tích, khảo sát,các khoản mục chính, khảo sát, bổ xung
các chi tiết, xem xét các sự kiện tiếp sau, đang kết quả cuộc kiểm toán.
- Các bước tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng qui trình
của một cuộc kiểm toán và các bước tiến hành kiểm toán phải được ghi nhận
trên tài liệu hồ sơ kiểm toán .
4. Kết thúc cuộc kiểm toán
Khi kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểm
toán. Trong báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quả
kiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra cho từng cuộc kiểm toán, các phân
tích đầy đủ, hợp lý của báo cáo kiểm toán, báo cáo kết quả từ hàng năm trước
12