Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
LỜI NÓI ĐẦU
Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ một nền kinh tế nào cũng luôn giữ vai
trò quan trọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Với tư cách
là một định chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng sẽ thực hiện việc lưu
chuyển tiền trong nền kinh tế linh hoạt và hiệu quả hơn thông qua việc huy
động, phân phối nguồn vốn trong xã hội. Sự vững mạnh của HTNH sẽ nói sự
vững mạnh của hệ thống tài chính của một quốc gia. Để đánh giá được hiệu
quả trong hoạt động kinh tế thì cách tốt nhất là phải đánh giá được chất lượng
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Việc lượng hoá chất lượng hoạt động của
hệ thống ngân hàng lại chỉ có thể được thực hiện thông qua công tác kiểm
toán, trong đó kiểm toán nội bộ có vai trò rất quan trọng.
Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán mới được bắt đầu thực hiện vào cuối
những năm 80 và kiểm toán nội bộ được áp dụng thực hiện vào đầu những
năm 90-91 nhưng dã khẳng định được vai trò rất quan trọng của nó. Sau gần
10 năm hoạt động KTNB trong các NHTM đã đạt được nhiều thành quả
nhưng bên cạnh đó công tác KTNB cũng phát sinh nhiều vấn đề bất cập như
những sai phạm trong qui trình KTNB, qui tắc của KTNB, tổ chức
Xuất phát từ những vấn đề này đã nảy sinh trong tôi ý tưởng nghiên cứu
đề tài “ Hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương
mại”.
Nội dung đề tài bao gồm những phần sau:
Phần I: Những vấn đề lý luận về KTNB trong các NHTM Việt Nam
I. Bản chất, chức năng và nhiệm vụ của KTNB
II. Nội dung, hình thức của KTNB
III. Qui trình về trình tự KTNB
IV. Sự cần thiết phải KTNB trong các NHTM
Phần II: Thực trạng của hoạt động KTNB trong các NHTM ở Việt
Nam hiện nay và các ý kiến đề xuất
I. Thực trạng khó khăn
II. Ý kiến đề xuất
s dng ngõn sỏch nh nc
2
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
* Kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp
hành nghề kiểm toán, kinh doanh ngành nghề dịch vụ kế toán và tư vấn dưới
sự bảo hộ và thừa nhận của pháp luật.
Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán báo cáo tài chính
và thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng ngoài ra còn thực hiện
các dịch vụ tư vấn về tài chính - kế toán thuế. Ở Việt Nam, tính đến đầu năm
1998, trong lĩnh vực kiểm toán độc lập có 6 công ty KTNN, 4 công ty kiểm
toán 100% vốn nước ngoài, 2 công ty liên doanh và một số công ty tư nhân.
*Kiểm toán nội bộ là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên không
chuyên n ghiệp thực hiện kiểm toán phục vụ mục đích kiểm tra nền tàI
chính quản trị nội bộ trong doanh nghiệp.
Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là tiến hành các cuộc kiểm toán nghiệp vụ
để đánh giá hiệu quả và hiệu năng của các nghiệp vụ cuả bộ phận, của đơn vị
được kiểm toán.
1. Bản chất của KTNB
Xuất phát từ quan điểm thuần tuý về kế toán nhằm phát hiện các sai sót,
gian lận, KTNB đã dần dần mở rộng phạm vi hoạt động trên tất cả các lĩnh
vực hoạt động của của doanh nghiệp và hướng hoạt động KTNB vào việc cải
thiện và nâng cao chất lượng hoạt động tăng cường sức mạnh cho cơ chế
kiểm soát nội bộ.
Lịch sử phát triển cho thấy KTNB là một nghề mới mẻ và không được
qui định bởi pháp luật, không mang tính bắt buộc. Tuy lúc đầu KTNB mang
tính chất không chuyên, không tồn tại ở các doanh nghiệp hay được coi như
một phần kiểm toán độc lập nhưng về sau nó đã trở thành một nghề có tính
chuyên nghiệp.
KTNB là công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp để kiểm
soát, đánh giá, phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá và
đó nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức KTNB
nhằm đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin đó.
Để thực hiện yêu cầu KTNB có các chức năng cơ bản là kiểm tra, xác
nhận, đánh giá
Phạm vi kiểm tra, xác nhận và đánh giá của KTNB bao gồm:
- Độ tin cậy của thông tin tài chính - kế toán do kế toán tổng hợp xử lý
và trình bày.
4
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
- Tính tuân thủ luật pháp và các qui chế, các qui định của nhà nước, các
qui định của bản thân doanh nghiệp.
- Tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực,
lựa chọn các phương án các quyết định kinh tế.
3. Nhiệm vụ của KTNB
Để làm đúng và trọn vẹn chức năng của mình, kiểm toán nội bộ có
nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất là kiểm tra và đánh giá tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả
của hệ thống KTNB trong đơn vị, trong doanh nghiệp.
Thứ hai là kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh
tế, tài chính, của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp
trước khi trình ký duyệt và công bố.
Thứ ba là kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ luật pháp chính sách, chế độ
tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị,
của ban giám đốc doanh nghiệp.
Thứ tư là phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong
bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến hoàn
thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là những nhiệm vụ cơ bản nhất mà một cuộc KTNB cần phải hoàn
thành để đáp ứng yêu cầu về thông tin cho doanh nghiệp cũng như những
cấp dưới về việc chấp hành các qui định, qui chế.
Nội dung công việc kiểm toán tuân thủ
- Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán,
chế độ quản lý của nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách, nghị
quyết, quyết định, qui chế của hội đồng quản trị, của ban giám đốc.
- Kiểm tra tính tuân thủ các qui định về nguyên tắc, qui trình nghiệp vụ,
thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc, của từng biện
pháp trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, chính sách, các chuẩn mực kế
toán từ khâu lập chứng từ vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán, tổng
hợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị đến lưu
trữ tài liệu kế toán
6
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
c) Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị nhằm kiểm
tra xác nhận các thông tin số liệu trên báo cáo tài chính được tập hợp có trung
thực và hợp lý không, có phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán
thông dụng đã được chấp nhận không,
Nội dung kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị gồm:
Thứ nhất là kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính
tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi được duyệt và
công bố.
Thứ hai là kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
quản trị đưa ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm bảo đảm sự hợp lý và hiệu quả.
2. Các hình thức kiểm toán nội bộ
Hoạt động KTNB có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuỳ
từng điều kiện hoàn cảnh và trong từng khoảng thời gian không gian cụ thể
cần và có thể vận dụng các hình thức kiểm toán một cách thật linh hoạt sao
cho có hiệu quả. Trên thực tế trong công tác KTNB người ta sử dụng các hình
không mang lại kết quả mong muốn về các sai sót, tiêu cực (nếu có) đã gây ra
những hậu quả khó có thể khắc phục.
c) Kiểm toán phòng ngừa và kiểm toán sau hoạt động
Kiểm toán phòng ngừa là loại hình kiểm toán bao gồm những biện pháp
phòng ngừa được áp dụng trước hay ngay sau khi một nghiệp vụ kế toán phát
sinh nhằm bảo đảm cho bộ máy kế toán hoạt động chuẩn xác và hợp thức, loại
trừ các sai phạm trước hay ngay khi chúng xuất hiện.
Kiểm toán sau hoạt động chỉ nhằm xem xét, khảo sát để xác định xem
các sổ kế toán có trung thực chính xác không, đồng thời phát giác các vi
phạm, gian lận nếu có.
Hai hình thức này mặc dù có sự khác nhau nhưng vẫn có sự hỗ trợ nhau
rất hữu hiệu. Một mặt, chính nhờ các kinh nghiệm, các kết luận được rút từ
những cuộc kiểm toán sau hoạt động mà các chuyên gia mới xây dựng, thiết
lập các biện pháp phòng ngừa cho công tác kiểm toán phòng ngừa. Mặt khác,
việc ban hành các biện pháp phòng ngừa không chỉ đơn thuần đưa ra các chỉ
thị, các qui định mà còn phải có những sự kiểm toán theo dõi sự tuân thủ,
chấp hành nữa, đó là một dạng kiểm toán sau hoạt động đầu tiên.
3. Đối tượng của KTNB
Đối tượng của công tác kiểm toán là xem xét đánh giá sự hợp thức của
các số liệu, tài liệu kế toán. Để có thể đạt đến mục đích này công việc phải
8
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
làm là xác định các sổ kế toán, các số liệu kế toán được kiểm tra không chứa
đựng một sai lầm hay gian lận nào.
Do đó đối tượng của kiểm toán là loại trừ các sai lầm và gian lận
Sai lầm và gian lận là các khiếm khuyết, các vi phạm đối với nguyên tắc
và luật lệ kế toán đã được qui định. Sự khác biệt giữa sai lầm và gian lận nằm
trong yếu tố ý đồ.
Sai lầm là sự vi phạm do bất cẩn, vô ý hay kém cỏi mà người thực hiện
hoàn toàn không có.
đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp.
- Xem xét các báo cáo, tài liệu, hồ sơ kiểm toán trước đó, kể cả các tài
liệu bên ngoài doanh nghiệp có liên quan đến cuộc kiểm toán; tóm tắt thông
tin cần phải kiểm tra trong quá trình kiểm toán sắp tới, thu thập và chuẩn bị
các mẫu, các chương trình, các chỉ dẫn cho cuộc kiểm toán sẽ được tiến hành.
3) Thực hiện việc kiểm toán
Các nhiệm vụ trong bước này gồm:
Thu thập và đánh giá đầy đủ các bằng chứng cần thiết có liên quan kể cả
các chứng cứ bên ngoài doanh nghiệp.
Xem xét, đánh giá việc thực hiện các chính sách, qui định trong thực tế
hoạt động của doanh nghiệp.
Đánh giá khả năng sai sót nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại nghiệp vụ,
từng hoạt động kinh tế, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong các nghiệp vụ
phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp .
Phân tích, khảo sát các khoản mục chính, khảo sát, bổ xung các chi tiết,
xem xét các sự kiện tiếp sau, đang kết quả cuộc kiểm toán.
Các bước tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng qui trình
của một cuộc kiểm toán và phải được ghi nhận trên tài liệu hồ sơ kiểm toán .
4. Kết thúc cuộc kiểm toán
Khi kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểm
toán. Trong báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quả
kiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra,….,đề xuất các kiến nghị và biện
pháp xử lý các sai sót, gian lận, các vi phạm, nêu các giải pháp cần thiết để
nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
10
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
Phúc tra kết quả kiểm toán là công việc tiếp sau cuộc kiểm toán nhằm
kiểm tra lại việc triển khai thực hiện những kiến nghị, những đề nghị xử lý và
những giải pháp đã nêu trong báo cáo kiểm toán ở các bộ phận quản lý, điều
hành kinh doanh của doanh nghiệp.
sự biến động giá trị của đồng tiền. Do đó mà hoạt động của NHTM cũng gắn
liền với rủi ro.
- Hoạt động của NHTM gắn liền với một mảng trong nền KTQD nếu
như trình độ pháp lý và khả năng điều hành của các cấp lãnh đạo chỉ cần có
một chút sơ xuất là có thể gây ra thiệt hại lớn cho nền kinh tế rất dễ dẫn đến
tình trạng phá sản lan truyền giữa các NHTM trong nền kinh tế.
- Rủi ro có thể đến với bất kỳ một ngân hàng nào nếu như nó không có
sức cạnh tranh trên thị trường, không tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc
trên thị trường.
Rủi ro mang tính chủ quan của con người cũng làm ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro đó có thể là do:
Một là, trình độ quản lý, khả năng điều hành của các cấp lãnh đạo
không có tính chuyên môn. Bên cạnh đó có một số khác trong khi quản lý
điều hành còn thể hiện tính quan liêu, thiếu sâu sát, buông lỏng quản lý. Từ
đó dẫn đến hàng loạt trường hợp các phòng tín dụng, kế toán thực hiện nghiệp
vụ không đúng quy định của NHNN. Tất cả những sai sót đó nhìn bề ngoài
tuy không nghiêm trọng nhưng chúng có thể đưa đến những ruỉ ro khó lường
đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hai là, phẩm chất cán bộ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng cần có tính
trách nhiệm rất cao trong công tác quản lý tài sản, tài chính. Đội ngũ cán bộ
ngân hàng phải trong sạch, vững mạnh.
Ba là, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào quả lý. Hiện
nay, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý còn chưa cao nên
công tác quản trị điều hành của các cấp lãnh đạo ngân hàng đối với các chi
nhánh trực thuộc chưa được nhanh chóng và nhạy bén. Điều này có thể đem
đến rủi ro mất các cơ hội kinh doanh của ngân hàng.
Bốn là, chất lượng công tác kiểm soát nội bộ ở các NHTM, công việc
này còn mang nặng tính hình thức, chiếu lệ, thực hiện không đều đặn, thiếu
thường xuyên và thiếu năng động. Do đó kết quả mang lại thường chỉ để sửa
sai sót, rút kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp sau nhiều hơn là ngăn chặn kịp thời
vậy khi tổng hợp quyết toán toàn NHTM thì cần thiết phải thẩm tra, xem xét,
đánh giá cho đúng chuẩn mực từng nghiệp vụ phát sinh, từng loại báo cáo tài
chính. Để thẩm tra, xem xét, đánh giá các báo cáo tài chính từ cơ sở cho phù
hợp với các loại chuẩn mực thì cần thiết phải có đội ngũ KTVNB tiến hành
13
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
kiểm toán và ký xác nhận vào từng loại báo cáo trước khi tập hợp toàn ngân
hàng.
Nói tóm lại, KTNB trở nên hết sức cần thiết đối với các NHTM. Nó tạo
điều kiện cho các NHTM luôn có ý thức tự hoàn thiện các hoạt động của
mình, nâng cao và củng cố niềm tin, uy tín của ngân hàng trên thị trường, là
điều kiện vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại của các NHTM. Do dó, các
NHTM không những phải làm tốt công tác KTNB mà còn biến nó trở thành
một công cụ cạnh tranh của mình trên thị trường.
3. Các loại KTNB trong ngân hàng
KTNB trong ngân hàng được chia thành các loại khác nhau dựa vào các
giai đoạn phát sinh, thực hiện và kết thúc nghiệp vụ ngân hàng và mỗi loại lại
có tác dụng cụ thể khác nhau.
- Kiểm toán giai đoạn 1 : còn gọi là kiểm toán trước. Trong cuộc kiểm
toán giai đoạn này nhờ vào sự thành thạo về các qui định, qui chế kiểm toán
viên nội bộ có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý của hồ sơ, chứng từ
trước khi nghiệp vụ được thực hiện.
- Kiểm toán giai đoạn 2 : còn gọi là kiểm toán trong của quy trình thực
hiện. Giai đoạn này các kiểm toán viên lựa chọn cách thức, phương pháp
kiểm toán áp dụng thích hợp phụ thuộc vào từng nghiệp vụ và từng loại rủi ro
khác nhau.
Tác dụng của kiểm toán giai đoạn này là giám sát quá trình thực hiện,
hạn chế khả năng xảy ra lệch lạc, sai sót như thực hiện không đúng trình tự
nghiệp vụ qui định, sai sót về thủ tục hoặc sai sót về số tiền nhằm ngăn chặn
kịp thời những thiệt hại về sau.
kiểm toán toàn bộ hoạt động từng thời kỳ, từng lĩnh vực từ đó đánh giá một
cách độc lập và chính xác kết quả hoạt động kinh doanh và thực trạng tài
chính của mình.
15
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KTNB TRONG CÁC
NHTM VÀ NHỮNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
I. THỰC TRẠNG, KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC KTNB Ở CÁC NHTM
Trong những năm gần đây, hệ thống các tổ chức tín dụng không ngừng
lớn mạnh cả về lượng cũng như chất. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 1999 cả
nước có 6 ngân hàng quốc doanh, 51 NHTM cổ phần, 25 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh với nước ngoài, 13 công ty tài chính và
công ty cho thuê tài chính, 996 quỹ tín dụng nhân dân. Hệ thống mạng lưới
ngân hàng quốc doanh cũng không ngừng phát triển, mở rộng đến mọi vùng
của đất nước. Sự lớn mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và
của hệ thống ngân hàng nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc phát triển
kinh tế xã hội. Cùng với sự lớn mạnh đó, KTNB cũng đi vào hoạt động và trở
thành một bộ phận quan trọng trong các NHTM.
1. Thực trạng của công tác KTNB trong các NHTM
Công tác KTNB mới được áp dụng trong các doanh nghiệp nói chung và
các ngân hàng nói riêng vài năm trở lại đây nên những số liệu tổng kết về
công tác này rất hạn chế và mang tính chất chung chung bởi công tác này
chưa được tổng kết trên phạm vi rộng. Nhưng KTNB đã nhanh chóng thể hiện
tính hiệu quả trong công tác kiểm tra, xác nhận giúp cho các ngân hàng có
được những thông tin chính xác về tình hình hoạt động của mình.
Trước hết, cần đề cập đến mô hình tổ chức công tác KTNB trong các
NHTM hiện nay.
Đối với các NHTM lớn, hoạt động trên địa bàn rộng, mức độ các hoạt
động gửi tiền, rút tiền, cho vay, thanh toán nhiều, phát sinh nhiều nghiệp vụ
và các nghiệp vụ cũng phức tạp hơn. Do đó khối lượng công tác kế toán trong
thiện chúng đúng lúc, tránh được các sai sót gian lận kéo theo từ vấn đề đó.
Hai là, do NHTM thường tham gia vào các giao dịch lớn, với số lượng
tiền tệ rất lớn, các nghiệp vụ phát sinh nhiều, việc nhầm lẫn trong quá trình
hạch toán là khó tránh khỏi. Hầu hết các trường hợp kế toán có thể phát hiện
ra nhưng khi thực hiện công tác KTNB tạo điều kiện giúp cho việc rà soát của
các nhân viên kế toán nhanh hơn.
17
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
Ba là, các NHTM thường tổ chức hoạt động kinh doanh với một mạng
lưới các chi nhánh, các phòng giao dịch trải rộng theo các khu vực hành
chính. Vì vậy, việc phân cấp quản lý điều hành kinh doanh, chỉ tiêu tài chính
là điều tất yếu. Bên cạnh đó là sự phân tán về hoạt động hạch toán kế toán,
hoạt động kiểm tra, kiểm soát. Nếu như cứ tiếp tục tiến hành duy trì chế độ
quyết toán các báo cáo tài chính như hiện nay là các đơn vị cơ sở lập các báo
cáo trên cơ sở các nghiệp vụ phát sinh từ cơ sở và gửi báo cáo lên trung tâm
điều hành kiểm tra xem xét sơ bộ sau đó tập hợp toàn bộ hệ thống NHTM.
Như vậy rõ ràng cách làm này không đảm bảo tính chính xác cao mà thông
thường thì các đơn vị lập báo cáo có thể là cố ý dấu để những khoản có lợi
cho đơn vị họ hay những điều không tốt có hại đến tình hình tài chính, tình
hình phân phối kết quả thu nhập của đơn vị mình. Mặt khác, cũng có thể có
những khoản sai sót mà tự bản thân đơn vị cơ sở không thể phát hiện ra khi
lập baó cáo quyết toán.
Việc thực hiện KTNB sẽ giúp các ngân hàng kiểm tra ngay tính trung
thực hợp lý về các thông tin mà chi nhánh chuẩn bị trình lên trung tâm. Do đó
khi tập hợp toàn ngành hệ thống NHTM thì bộ phận KTVNB của trung tâm
cần xác định lại những thông tin đó một lần nữa với các dữ liệu đã thu thập
được. Chính vì vậy mà khi tiến hành kiểm toán trong toàn bộ hệ thống
NHTM, các NHTM sẽ tránh được khối lượng công việc dồn dập và tiết kiệm
được thời gian, kết quả kiểm tra và xác nhận có độ chính xác cao hơn và rút
ngắn được các thủ tục.
trong các ngân hàng đều được hình thành từ các cán bộ nhân viên trong ngành
ngân hàng sau khi được ngân hàng cử đi đào tạo một thời gian. Chính vì thế
họ không phải là những người am hiểu tường tận về lĩnh vực kiểm toán. Do
đó trình độ chuyên môn của họ không cao. Điều này tác động trực tiếp đến
chất lượng. đến tính hiệu quả của công tác kiểm toán nội bộ.
Có thể nói đây là một trong số những vướng mắc lớn của chúng ta trong
lĩnh vực kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng.
Sự phát triển mạnh mẽ của KTNB trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi mỗi
đơn vị nói chung và mỗi ngân hàng phải có một hệ thống các văn bản làm căn
cứ pháp lý cho hoạt động này. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xây dựng hệ thống
các văn bản qui định về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
bộ phận KTNB mà mỗi ngân hàng phải thực hiện là hết sức khó khăn. Bởi vì
hệ thống các văn bản này có ý nghĩa quan trọng đối với bộ phận KTNB giúp
cho các KTVNB có căn cứ pháp lý và định hướng trong khi thực hiện nhiệm
19
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
vụ, thể hiện mức độ quan tâm khác nhau đối với lĩnh vực KTNB ở một ngân
hàng là một nhân tố quyết định chất lượng của hoạt động KTNB.
Do xuất phát từ trình độ chuyên môn của các KTVNB còn hạn chế và
thiếu những căn cứ pháp lý cho công tác kiểm toán nội bộ làm cho quá trình
thực hiện hoạt động này diễn ra chậm chạp, gặp phải nhiều khó khăn đặc biệt
trong công tác lập kế hoạch kiểm toán và lựa chọn phương pháp kiểm toán.
Và khi đã lập được kế hoạch rồi nhưng công tác chuẩn bị lại không hoàn thiện
nhiều khi còn làm sai lệch kế hoạch đã vạch ra.
Hoạt động KTNB còn gặp phải nhiều khó khăn là do tính chất hoạt động
trong các NHTM. Cụ thể là:
- Do khối lượng giao dịch ở các NHTM là rất lớn, khối lượng tiền tệ
cũng lớn nên hiện nay hầu hết các NHTM đều phải có hệ thống máy vi tính
trợ giúp. Trước đây, nói chung các nghiệp vụ đều có chứng từ gốc để chứng
minh và hầu hết các kết quả của quá trình xử lý là rõ ràng đối với người sử
vực kiểm toán, các NHTM lớn có đủ khả năng và điều kiện nên mời hẳn một
chuyên gia về kiểm toán thực hiện và chịu trách nhiệm về công tác kiểm toán
trong cơ quan mình thêm vào đó là đưa các chuyên gia này đi học thêm về
lĩnh vực Ngân hàng.
Hai là, để cho công tác KTNB đạt được hiệu quả cao, trước hết các
NHTM phải tự xác định cụ thể hơn các chuẩn mực mà mình cần phải thực
hiện và những chuẩn mực mà Nhà nước yêu cầu. Từ các chuẩn mực này, các
KTNB sẽ có phương hướng rõ ràng trong quá trình thực hiện, tránh được tình
trạng chuẩn mực không cụ thể, không rõ ràng làm cho các KTNB Bộ không
thể có căn cứ để đối chiếu.
Ba là, việc định ra căn cứ pháp lý, phân định rõ ràng chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn của các KTNB trong các NHTM cũng là những yếu tố tác động
đến tính hiệu quả của công tác KTNB. Ngân hàng nào làm tốt công tác này
chứng tỏ Ngân hàng đó quan tâm đến sự hiện diện của KTNB và từ đó các
KTNB có động lực làm việc tốt hơn và nó được khẳng định bằng chất lượng
của hoạt động KTNB. Do đó các Ngân hàng nên thực hiện tốt công tác này.
Bốn là, để tăng cường và đảm bảo hiệu quả hoạt động KTNB cần phải
có sự trợ giúp đầy đủ và đúng lúc của chính các nhà quản lý cấp cao cũng như
sự hợp tác toàn diện của các bộ phận và cá nhân trong đơn vị. Sự trợ giúp và
hợp tác này có thể thể hiện ở chỗ các nhà quản lý các cá nhân và các bộ phận
thực hiện tốt các nhiệm vụ và các yêu cầu mà CTVNB đề ra. Cùng với các
21
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
CTVNB tiến hành thu thập giúp các tài liệu, trình các tài liệu mà CTVNB
cần.
Năm là, ngoài việc xác định rõ các chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ
của CTVNB, của bộ phận KTNB, các NHTM phải ban hành các qui định về
kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán toàn bộ hoạt động từng thời kỳ, từng
lĩnh vực nhằm đánh giá một cách độc lập và chính xác kết quả hoạt động kinh
doanh và thực trạng tài chính của mình.
gia trong lĩnh vực kiểm toán đến nói chuyện để nâng cao kinh nghiệm cho các
KTVNB của cơ quan. Thêm vào đó là các NHTM cần quan tâm đến lợi ích ,
đến nhu cầu của các KTVNB , tạo động lực cho đội ngũ này hăng say làm
việc.
b) Ý kiến đề xuất đối với Nhà nước
Một là, mặc dù công tác KTNB xuất phát từ nhu cầu cụ thể từng đơn vị
kinh tế nói chung và của từng ngân hàng nói riêng nhưng trong điều kiện hiện
nay, do sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động này cùng với trình độ hạn chế
của các NHTM trong việc đưa ra các qui chế pháp lý,các văn bản về pháp lý
cho công tác hoạt động của chính đơn vị mình nên đề nghị Nhà nước có chính
sách hỗ trợ, giúp đỡ các ngân hàng trong công tác này. Đó là Nhà nước nên
đưa ra một khung pháp lý về KTNB để các đơn vị tiện sử dụng từ đó áp dụng
vào đơn vị mình và có cơ sở để xây dựng các qui chế pháp lý cho đơn vị. Đây
chính là việc Nhà nước tạo ra môi trường hoạt động cho các đơn vị nói chung
và các ngân hàng nói riêng.
Hai là, xuất phát từ trình độ chung về kiểm toán ở Việt Nam là thấp,
nước ta lại chưa có nhiều trung tâm chính quy, chính thức đào tạo các kiểm
toán viên nên đề nghị Nhà nước sớm giao cho trung tâm kiểm toán trách
nhiệm đào tạo ,kinh phí để mở rộng hơn nữa qui mô đào tạo.
Ba là, Nhà nước nên sớm có các biện pháp để giúp các doanh nghiệp
nói chung và các ngân hàng nói riêng giải quyết các vướng mắc hiện tại , tạo
điều kiện cho công tác kiểm toán ngày càng được hoàn chỉnh.
23
Chuyªn ®Ò kÕ to¸n trëng
KẾT LUẬN
Có thể khẳng định rằng KTNB là nhu cầu hoạt động tất yếu của mỗi
doanh nghiệp nói chung và của mỗi NHTM nói riêng. Điều này ngày càng
được khẳng định rõ nét đối với các nước vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị
trường như ở nước ta hiện nay. Yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng các
thông tin đặc biệt là thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của