SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG )
…..
Người thực hiện: Nguyễn Thị Binh
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
¨
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn £
- Lĩnh vực khác: Quản lý chuyên môn 1
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh
1 Hiện vật khác
NĂM HỌC 2015-2016
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ tư vấn thúc đẩy trong công tác thanh tra
Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc văn nghị luận
Phối hợp giữa giáo viên và học sinh để nâng cao hiệu quả giờ dạy Ngữ
văn
Một vài kinh nghiệm giúp học sinh đọc- hiểu văn bảnvăn học
2
--------o0o--------
VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG )
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Nâng cao chất lượng dạy và học là vấn đề mà ngành giáo dục quan tâm hàng
đầu. Bởi vậy mỗi giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp luôn cố gắng tìm tòi
những phương pháp tối ưu nhất để nâng cao chất lượng. Trong chương trình Ngữ
văn bậc THPT hiện hành số lượng bài học văn bản Văn Học chiếm phần lớn so
với các bài học về Tiếng Việt và lý thuyết Làm Văn. Cho nên, làm thế nào để
giúp học sinh Đọc – hiểu văn bản một cách hiệu quả luôn là điều trăn trở ở mỗi
giáo viên văn
- Ngữ Văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, ảnh hưởng to lớn trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ Văn cũng là
một môn học thuộc nhóm công cụ giúp học sinh hình thành nhiều kỹ năng hỗ trợ
cho việc học tập các môn khác như kỹ năng giải thích, phân tích, chứng minh ,
bình luận... Đặc biệt , kỹ năng đặc thù của môn văn là diễn đạt sẽ gúp ích to lớn
cho học sinh trong mọi lĩnh vực cuộc sống suốt một đời người . Cho nên áp dụng
tích hợp trong giảng dạy môn Ngữ văn là việc không thể thiếu.
- Bởi vậy, với tâm huyết của 33 năm dạy học , tôi muốn đóng góp thêm cho sự
nghiệp giáo dục “VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ NÂNG
- Bởi “Tích hợp là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự
nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu
quả của chúng (...), là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý chi
phối, định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người. Lý thuyết tích
hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm lý luận dạy học phổ
biến trên thế giới hiện nay. Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên
hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển
các chương trình giáo dục”. ( TS. Hoàng Thị Tuyết - Đại học Sư phạm TP.HCM )
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích hợp sẽ mang
lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức
tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và
rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối với học sinh. Thay đổi cách dạy này
không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải
đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề dạy học tích hợp. Không đòi
hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học".
Thạc sĩ Nguyễn Hồng Liên, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết: “Việc
dạy tích hợp góp phần hình thành và phát triển kĩ năng quyết định, giao tiếp và
làm việc nhóm. Nội dung được giảm tải nhằm tăng thời gian và không gian cho
GV áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo và tương tác, HS phát huy tốt hơn
quyền chủ động học tập của mình. Việc dạy học không chú trọng vào việc dạy kiến
thức mà nhấn mạnh vào việc hình thành cho học sinh phương pháp và kỹ năng tư
duy trong học tập, đòi hỏi giáo viên phải có những sáng tạo trong phương pháp
dạy học”.
- Bản thân môn ngữ văn đã là môn học mang tính tích hợp cao . Nó vừa là môn
học nghệ thuật lại vừa là môn công cụ.
+ Môn học nghệ thuật là môn học về cái đẹp, nhằm đem đến cho học sinh khả
năng phát hiện, cảm thụ cái đẹp . Cái đẹp về nhân phẩm đạo đức, về tư tưởng tình
cảm, về cuộc sống của con người … cái đẹp về ngôn từ, nghệ thuật …
+ Môn công cụ là môn học mang ý nghĩa thực hành, mà ở đây chính là cách đọc hiểu văn bản, cách tạo lập văn bản, cách diễn đạt sao cho đúng, cho hay (cả nói và
viết). Nó là then chốt của năng lực giao tiếp – Một năng lực không thể thiếu trong
viên ở 6 trường THPT tại TP.HCM không hiểu dạy học tích hợp là gì.
. Nghiên cứu của cá nhân tại trường sở tại là THPT Long Khánh và một số giáo
viên các trường lân cận qua 15 giờ dự : 5 giờ khối 10; 5 giờ khối 11; 5 giờ khối
12 tôi nhận thấy việc hiểu về tích hợp cũng chưa đúng, khả năng vận dụng tích
hợp của giáo viên chưa cao. Vẫn có giáo viên cho rằng : Việc đưa bản đồ địa lý,
lịch sử vào bài giảng ngữ văn là tích hợp Văn- Sử- Địa . Khi đọc- hiểu một bài thơ
cho học sinh hát một bài nào đó có liên quan tích hợp Thơ- Nhạc , hay đưa một
đoạn phim vào giờ học là tích hợp Văn học- Điện ảnh …vv…
- Thứ 3 : Giáo viên không đủ thời gian để nghiên cứu sâu vào các bộ môn khác để
kiếm tìm kiến thức và cách lý giải đúng đắn nhất cho vấn đề trong môn học của
mình
- Thứ 4 : Các môn liên quan trực tiếp đến ngôn từ nghệ thuật của văn bản văn học
như âm nhạc, hội họa không được đưa vào chương trình học, nên cả giáo viên lẫn
học sinh, hầu hết, thiếu hiểu biết nên gặp nhiều khó khăn
- Thứ 5 : Do học lệch, thiên về các môn thi Đại học, nên học sinh không quan tâm
một số môn học khác, nhất là các môn khoa học xã hội liên quan đến môn Ngữ văn
như Sử . địa, giáo dục công dân…
- Thức 6 : Kỹ năng vận dụng tích hợp của học sinh còn kém. Câu hỏi có tính tích
hợp đặt ra , các em phải mất rất nhiều thời gian suy nghĩ, thảo luận tìm tòi dẫn đến
thời gian cho các công đoạn của tiết học bị ảnh hưởng.
Các chuyên gia cho rằng do không hiểu đúng, hiểu nhầm khái niệm này nên việc
dạy học tích hợp ở phổ thông hiện nay chưa phát huy hiệu quả.
b. Thuận lợi :
- Các cấp lãnh đạo quan tâm, ủng hộ việc dạy tích hợp . Bộ , Sở đã có những
chương trình tập huấn công phu đến các cán bộ chủ chốt cơ sở như tổ trưởng tổ
5
phó, hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn và đội ngũ giáo viên thuộc hội đồng bộ
môn Sở , trường. Đã đầu tư nhiều phương tiện dạy học có thể đáp ứng một phần
- Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xi trình bày một vài kinh nghiệm dạy tích
hợp của cá nhân trong phạm vi hẹp của việc giảng dạy môn Ngữ văn và cụ thể
là trong các giờ đọc – hiểu văn bản văn học.
2. Để tích hợp hiệu quả trong bài đọc – Hiểu văn bản, tôi thường chuẩn bị kỹ bài
giảng, suy nghĩ về các phương pháp dạy học tích cực để vận tốt nhất. Làm sao vừa
tinh lọc kiến thức trong bài đọc văn , vừa mở rộng nâng cao bằng các kiến thức
liên quan được tích hợp.
Để thực hiện được điều này tôi thường nghiên cứu những kiến thức cần tích hợp,
phân chia học sinh theo nhóm về nhà tìm hiểu, làm bài thuyết trình ngắn, đến giờ
học trình bày.
Một nhóm trình bày vấn đề của mình, các nhóm khác nhận xét đánh giá, có thể
tranh cãi. Vì các kiến thức được tích hợp thường để làm rõ, khắc sâu các chi tiết,
hình ảnh … của văn bản văn học.
3. Để thực hiện tốt các giải pháp tích hợp nâng cao hiệu quả giờ Đọc – hiểu văn
bản văn học chúng ta cũng cần xác định rõ yêu cầu về giáo án có tính tích
hợp của giờ đọc hiểu văn bản Văn học.
- Thứ nhất : Giáo án tích hợp vẫn phải bám chặt trọng tâm kiến thức kỹ
năng của bài Đọc Văn
- Thứ 2 : Phải xác định và thể hiện rõ nội dung tích hợp và phương pháp vận
dụng các nội dung tích hợp, vì thực chất tích hợp là nội dung kiến thức chứ
không phải phương pháp giảng dạy. Nội dung tích hợp được đưa vào góp
phần làm nổi bật và khắc sâu hơn trọng tâm kiến thức, tạo hiệu quả cho các
kỹ năng đọc văn bản Văn học. Nội dung tích hợp được đưa vào bằng bất cứ
phương pháp giảng dạy tích cực nào do giáo viên lựa chọn khi cảm thấy phù
hợp. Có thề đàm thoại, thảo luận, nêu vấn đề… thậm chí diễn giảng cũng
được.
- Thứ 3: Phải chuẩn bị công phu kỹ lưỡng những kiến thức và đồ dùng dạy học
liên quan.
4. Và quan trọng nhất là tổ chức điều khiển giờ dạy và học thế nào cho có hiệu
quả cao nhất.
tác giả trong việc lựa chọn đề tài và chủ đề phản ánh của tác phẩm , cũng như việc
sử dụng thể loại, phương thức biểu đạt , biện pháp nghệ thuật , ngôn ngữ …của
văn bản.
Ví Dụ :
+ Ở chương trình lớp 10 :
. Khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu “ Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, không thể
không dựng lại bối cảnh lịch sử hừng hực hào khí Đông A, nhưng công cuộc cứu
nước vẫn chưa hoàn tòn thắng lợi.
Có vậy ở phần nội dung mới giúp học sinh hiểu được nỗi “ thẹn” cao cả của nhà
thơ.
. Khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu “ Cảnh ngày hè”, không thể không nói đến
hoàn cảnh lịch sử đất nước trong thời gian sau chiến thắng Lam Sơn , khi bọn gian
thần bắt đầu trỗi dậy lộng hành… Nếu không giúp HS hiểu hoàn cảnh xã hội lúc
đó thì không thể lí giải nỗi buồn man mác thấm sau câu chữ của bài thơ ( Phần này
có thể dùng cách kể vài mẩu chuyện lích sử )
+ Ở chương trình 11:
. Khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu bài “ Tràng giang” , ngoài kiến thức về hoàn
cảnh nhà thơ – lúc này là sinh viên- Một chiều ngồi ở bến Chèm, nhìn sông Hồng
sóng nước mênh mông, còn cần nói thêm. Tuy lúc này phong trào cách mạng đã
8
lan rộng, nhưng nhiều học sinh sinh viên vẫn chưa được giác ngộ, giới trí thức, đặc
biệt giới văn nghệ sĩ trẻ vẫn luẩn quẩn với cái tôi cô đơn ảo não… Có vậy khi
khám phá “ nỗi sầu vũ trụ” trong bài thơ học sinh mới hiểu đó là nỗi sầu thế hệ,
nỗi sầu nhân thế … v..v…
+ Ở chương trình 12 cũng vậy
Ví dụ :
. Đọc – Hiểu bài “ Nguyễn Đình Chiểu Ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc”, Ta
cũng cần nói rõ tình hình lịc sử chính trị 1963, vận mệnh đất nước ngàn cân treo
ngôn ngữ ..vv.. ) .
Ở đây tự nhiên ta phải vận dụng thao tác bình luận
- Để nhấn mạnh khắc sâu làm nổi bật một ý nào đó, nhiều khi ta phải so sánh, đối
chiếu liên hệ kiến thức giữa các văn bản khác nhau trong chương trình cũng có thể
ngoài chương trình
( VD:
9
Ví dụ khi giảng về sự cam chịu vô điều của nhân vật người đàn bà hàng chài
trước những trận đòn của người chồng vũ phu trong “ Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu, chúng ta cũng nên liên hệ với sự cam chịu của nhân vật Mỵ
trong “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài để thấy tính chất khác nhau của nhân vật
trong văn học sau năm 1975 và trước năm 1975. Cũng là cam chịu, nhưng ở Mỵ là
sự bất lực trước bạo lực cường quyền, của chế độ nam quyền và những ràng buộc
của hủ tục trong chế độ cũ. Còn cam chịu của người đàn bà hàng chài là sự nhẫn
nhịn chủ động để vượt hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Mỵ là trong thân phận
nô lệ, Người đàn bà hàng chài là trong tư cách người làm chủ cuộc đời mình, hiểu
rõ trong hoàn cảnh cụ thể cần chấp nhận điều gì… )
- Trình bày ( Văn nói hoặc viết ngắn những cảm nhận ) cảm nhận ....bằng một
đoạn văn ta phải vận dụng tổng hợp tất cả các kiến thức khác nhau trong nhóm...
Có thể nói , đây là nhóm kiến thức quan trọng, không thể thiếu trong giờ đọc
văn
Vì nội dung là điều tác giả muốn phản ánh. Đó là cuộc sống, là tư tưởng, tình
cảm của tác giả đối với cuộc sống, con người . Còn Nghệ thuật, là những hình
thức cụ thể tác giả lựa chọn sử dụng để trình bày diễn đạt nội dung sao cho rõ
ràng, chuyển tải đủ nhất ấn tượng nhất đến với người đọc.
Phương hướng ra đề thi THPT quốc gia Ngữ văn hiện nay đã nói rõ điều
này.
b. Vận dụng nhóm kiến thức thứ hai : các môn nghệ thuật gần gũi như âm nhạc,
11
Tranh do học sinh Thạch Thảo vẽ bằng bút chì tại lớp theo trí tưởng tượng khi học bài Tây Tiến
. Nói đến tính nhạc trong “ Đất nước” của Nguyễn Đình Thi , hay “ Đàn Ghi ta
của Lorca” của Thanh Thảo , “ Sóng” của Xuân Quỳnh .... Chúng ta phải vận dụng
kiến thức âm nhạc chỉ cho học trò thấy cấu trúc của bạn nhạc có khúc dạo, có cao
trào, có khoảng lặng... ra sao, tiết tấu , trường độ , cao độ ...thế nào …
VD :
+ Tính nhạc của bài “Đàn Ghi ta của Lorca”: Khi nói về cái chết tức tưởi bi
tráng của Lorca, bản nhạc ở quãng cao trào. Những câu thơ hiệp vần chân bằng
thanh trắc tạo nên nhạc điệu réo rắt nhói vào lòng người , xót xa đau đớn.
“Tiếng ghi ta nâu
Bầu trời cô gái ấy
Tiếng Ghi ta lá xanh biết mấy
Tiếng Ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
Tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”
+ Tính nhạc ở bài “ Sóng” được thể hiện ở sự gối dòng, gối câu, gối đoạn tạo âm
điệu triền miên dạt dào của sóng. Đến cảm xúc cao trào của nỗi nhớ , khổ thơ bỗng
dài ra, nhạc thơ cũng cao lên.
“ Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Nếu giảng bài thơ đã được phổ nhạc, thì có thể cho HS hát lên . Cũng có thể
cho những học sinh có hiểu biết về âm nhạc, tự phổ nhạc, hát lên. “ Tự biên tự
diễn” của học sinh có thể chưa hay nhưng giờ học chắc chắn sẽ thêm phần hào
hứng.
12
Cả đoạn văn thanh bằng chiếm ưu thế tạo nên một giai điệu du dương. Đặc biệt
câu đầu “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà” lập tức đưa người đọc hoàn toàn thoát
khỏi cảnh sóng nước dữ dội, đến cảm giác êm dịu của quãng sông êm đềm, hiền
hòa thơ mộng.
Ngược lại, đoạn tả “ ghềnh Hát Lóong dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng,
cuồn cuộn” tòan thanh trắc ( dấu sắc , như gợi hình những hòn đá sắc ) gợi âm
thanh của những va đập mạnh mẽ của sóng vào đá.
* Vận dụng nhóm thứ ba: kiến thức các bộ môn khoa học xã hội như lịch sử, địa
lý, văn hóa, giáo dục công dân…
+ Ngoài phần tiểu dẫn luôn vận dụng đến kiến thức lịch sử thì khi đọc - hiểu văn
bản một số tác phẩm cụ thể chúng ta phải có vốn kiến thức lịch sử, địa lý, văn hóa,
giáo dục..vv.. nhất định để lý giải một số vấn đề, giúp học sinh hiểu rõ, sâu hơn về
tác phẩm ( Có thể về một chi tiết nào đó, một nội dung nào đó … ) .
VD: Đọc – hiểu văn bản “người lái đò Sông Đà” ở chương trình lớp 12.
Để lý giải tại sao dòng sông Đà lắm thác nhiều ghềnh cũng có những quãng êm
đềm đẹp như thơ… giáo viên phải nắm vững, tích hợp một số kiến thức địa lý về
Đặc điểm vùng núi Tây Bắc trong khi giảng , học sinh sẽ hiểu bài hơn.
- Giới hạn: Nằm giữa sông Hồng và sông Cả
- Hướng nghiêng và hướng núi: đều có hướng Tây Bắc – Đông Nam
- Đây là vùng núi cao và đồ sộ nhất Việt Nam, núi cao & trung bình chiếm ưu thế,
nhiều đỉnh cao trên 2000m: Phanxipang, Pu Si Lung, Phu Luông, Phu Trà, Pu Huổi
Long,…
+ Mang đặc điểm hình thái của núi trẻ:
sống núi rõ, sắc sảo, sườn dốc, khe sâu,
độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn.
.
- Có 3 mạch núi chính:
+ Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn, có
đỉnh Phan-xi-Păng cao 3143m.
+ Phía tây là địa hình núi cao trung bình
vụ” để học sinh hiểu sâu hơn những nét đẹp truyền thống, văn hóa mà thơ Nguyễn
Khoa Điềm muốn khắc sâu …
* Vận dụng kiến thức nhóm thứ tư : kiến thức các bộ môn khác …
Ngữ văn là môn học có tính tổng hợp cao. Trong tác phẩm chứa nhiều loại kiến
thức. Đặc biệt , ở tác phẩm của những nhà văn, thơ có phong cách tài hoa uyên bác
VD : Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu “ Người lái đò sông Đà”, giáo viên phải tích
hợp không chỉ Lịch sử, Địa lý, giáo dục môi trường , mà còn tích hợp cả các phân
môn của bộ môn Thể dục, Quốc phòng , Vật lý , thậm chí cả nghệ thuật lái ô tô….
Thử đọc đoạn văn sau, chúng ta sẽ rõ – Tòan là những “ Thuật ngữ” của bộ môn
thể Dục , Quốc phòng ! Khi giáo viên vận dụng để phân tích văn bản, học sinh cảm
thấy hiểu bài và thích thú.
“ Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới. Phối hợp với đá, nước thác
reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Một hòn ấy
trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước
khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì
tiến gần vào. Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng
thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo
võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thế quân liều mạng vào sát nách mà đá
trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước
bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận
nước vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất,
15
cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò [...]. Mặt sông
trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa
vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống
lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm
vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng
trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy gọn ngắn tỉnh táo của
tích hợp, vì thế không nhàm, chán. Kiến thức văn học được khám phá một cách
đầy cảm hứng.
Học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình
huống thực tế trong giờ học, được áp dụng thực tiễn, thấy rõ học đi đôi với hành, ít
phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Hiệu quả giờ Đọc hiểu văn bản văn học
được nâng cao rõ rệt. Và cùng vớ môn Ngữ Văn, kiến thức một số môn khác khi
được vận dụng, tự nhiên đã được củng cố ,
3. Bảng thống kê chất lượng giảng dạy trong mấy năm gần đây
16
Trong hai năm qua, tôi cùng các đồng nghiệp ở THPT Long Khánh và một số
trường lân cận đã áp dụng và đạt hiệu quả khá cao.
17
V. ĐÊ XUÂT KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Qua quá trình thực hiện, tôi nhận thấy khi chưa có SGK mới theo hướng tích
hợp, kinh nghiệm này có thể phổ biến rộng rãi, góp phần nâng cao hiệu quả giảng
dạy môn Ngữ văn ở THPT
- Cũng từ thực tiễn giảng dạy, tôi có một vài kiến nghị như sau
1. Bộ giáo dục và đào tạo cần có chương trình giảng dạy theo hướng tích hợp rõ
rệt, cụ thể hơn.
2. Nhà trường cần đạt ra vấn đề tích hợp trong sinh hoạt tổ chuyên môn.
3. Tổ chuyên môn nên nghiên cứu kiến thức tích hợp phù hợp với bài giảng
4. Giáo viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức cần thiết, nhưng khi tích hợp
phải chừng mực để tránh ôm đồm khiến bài học của trò thêm rườm rà, phản tác
dụng.
5. Vận dụng tích cực các phương pháp giảng dạy phát huy tính chủ động của
Đơn vị .....................................
–––––––––––
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
................................, ngày
tháng
năm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: .....................................
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: .. “VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG )
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Bình.
Đơn vị:
Chức vụ: Giáo viên
Tổ Văn trường THPT Long Khánh
Họ và tên giám khảo 1: ............................................................ Chức vụ: ........................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Số điện thoại của giám khảo: ............................................................................................................
* Nhận xét, đánh giá, cho điểm và xếp loại sáng kiến kinh nghiệm:
1. Tính mới
Đơn vị .....................................
–––––––––––
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
................................, ngày
tháng
năm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2015-2016
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm Tên sáng kiến kinh nghiệm: .
“VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG )
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Bình.
Đơn vị:
Chức vụ: Giáo viên
Tổ Văn trường THPT Long Khánh
Họ và tên giám khảo 2: ............................................................ Chức vụ: ........................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................................
Số điện thoại của giám khảo: ............................................................................................................
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị .....................................
–––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
................................, ngày
tháng
năm
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: .....................................
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
“VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TÍCH HỢP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
( BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Họ và tên tác giả: Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Bình.
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Văn trường THPT Long Khánh
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
1
- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... 1
- Phương pháp giáo dục
Trong Tổ/Phòng/Ban 1
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT 1
Trong ngành 1
Xếp loại chung: Xuất sắc 1
Khá 1
Đạt 1
Không xếp loại 1
Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao
chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận sáng kiến kinh nghiệm này đã được tổ chức thực
hiện tại đơn vị, được Hội đồng khoa học, sáng kiến đơn vị xem xét, đánh giá, cho điểm, xếp loại
theo quy định.
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của tác giả và người có thẩm quyền,
đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi cuốn sáng kiến kinh nghiệm.
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ
họ tên và đóng dấu của đơn vị)
22
23