Hng dn hc sinh rốn luyn cỏc k nng a lớ
v tr li mt s cõu hi ụn tp phn a lớ cỏc vựng kinh t
sở giáo dục & đào tạo hng yên
trờng thpt nam khoái châu
============
Tất cả
vì
học sinh
thân yêu
Học, Học
nữa,
Học mãi
gd &
đt
Lĩnh vực : Địa lí
Tên tác giả
:
Đào Thị Hải Yến
Chức vụ : Giáo viên
Năm học: 2015 - 2016
Ngi thc hin: o Th Hi Yn - Trng THPT Nam Khoỏi Chõu
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã từng bước
được đổi mới. Quá trình dạy học muốn đạt kết quả cao cần có sự thống nhất, phù
hợp giữa các yếu tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
chức…
Trước nhu cầu ngày càng cao của xã hội, quá trình dạy học không chỉ
trang bị cho học sinh những kiến thức mà quan trọng hơn là phải hình thành
và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, linh
hoạt. Đối với môn Địa lí trong nhà trường phổ thông, ngoài yêu cầu hình
thành cho học sinh kiến thức cơ bản, cần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng
cần thiết.
Hoạt động dạy và học đạt kết quả tốt, đó là mục tiêu, là nhiệm vụ, đồng
thời đó là mong muốn của cả thầy và trò trong quá trình dạy và học tích cực.
Kết quả được thể hiện ở chỗ học sinh có chủ động nắm bắt kiến thức hay
không, kết quả các bài kiểm ta, các bài thi như thế nào....Tuy nhiên hiện nay
việc dạy và học môn Địa lí nói chung và môn Địa lí ở THPT nói riêng còn
gặp phải những khó khăn như sau:
- Thứ nhất, do điều kiện số tiết học và thời gian một tiết học trên lớp còn
hạn chế, nội dung kiến thức của bài còn nhiều và trong bài còn nhiều thuật ngữ
khó hiểu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưa phổ biến.
- Thứ hai, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức và rèn luyện
kĩ năng địa lí chưa thật đầy đủ và hệ thống.
- Thứ ba, hiện nay việc dạy và học bộ môn địa lí trong nhà trường phổ
thông vẫn còn bị coi nhẹ. Đối với môn Địa lí, các em vẫn quan niệm đây là
môn phụ nên không say mê, chú ý học và không ghi chép bài đầy đủ. Môn
Địa lí chỉ được quan tâm khi học sinh phải thi tốt nghiệp. Vì vậy, cả giáo viên
Địa lí đạt kết quả tốt.
- Khi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu sâu và hoàn thành đề tài này đã giúp
tôi củng cố thêm kiến thức chuyên môn.
3. Đối tượng và phạm vi của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu là HS khối 12 trường Nam Khoái Châu
- Phạm vi của đề tài: Căn cứ vào nội dung chương trình SGK và trình độ
nhận thức của học sinh, cùng với kinh nghiệm của bản thân, đề tài chỉ tập
trung đi sâu vào hướng dẫn học sinh trả lời một số câu hỏi của phần địa lí các
vùng kinh tế và rèn luyện các kỹ năng địa lí cơ bản.
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-2-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
4. Giả thuyết khoa học
Việc rèn luyện các kĩ năng địa lí và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa
lí các vùng kinh tế của học sinh khối 12 trường THPT Nam Khoái Châu chưa
thật sự được tốt.
Cách rèn luyện các kĩ năng địa lí như: Kĩ năng làm việc với bản đồ,kĩ
năng làm việc với Atlat đị lí Việt Nam, kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số
liệu thống kê, kĩ năng vẽ biểu đồ từ bảng số liệu đã cho và nhận xét và kĩ
năng tính toán trong địa lí.Cùng với việc hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi
phần các vùng kinh tế sẽ giúp cho việc học môn địa lí 12 trở lên nhẹ nhành
hơn, đạt kết quả cao hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận về rèn luyện các kĩ năng địa lí và trả lời một số
kinh tế.
Chương 3: Những kết quả thực hiện.
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-4-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: RÈN LUYỆN CÁC KĨ NĂNG ĐỊA LÍ CƠ BẢN
I. Kĩ năng địa lí
1) Học Địa lí ở THPT, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng:
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật,
hiện tượng địa lí; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,...
- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải
quyết một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duy
kinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán.
2) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ:
- Bắt chước: Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
- Thao tác: Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước máy
móc.
- Chuẩn hoá: Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp
nhàng, đúng đắn và thường được thực hiện một cách độc lập, không phải
hướng dẫn.
- Phối hợp: Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và ổn
định.
Bình thường
Không tốt
3. Kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu thống kê của bạn.
Tốt
Bình thường
Không tốt
4. Kĩ năng vẽ biểu đồ và nhận xét biểu đồ từ bảng số liệu đã cho
Tốt
Bình thường
Không tốt
5. Kĩ năng tính toán trong đại lí
Tốt
Bình thường
Không tốt
Bảng 1. Các kĩ năng địa lí của học sinh
Kĩ năng
12A4 (38HS)
12A6 (42HS)
12A7 (40HS)
23
69%
22
53%
20
50%
23
51%
Với kết quả này tôi nhận thấy đa số học sinh ở trường THPT Nam Khoái
Châu nói chung và các lớp tôi dạy nói riêng việc thực hành các kĩ năng địa lí
của HS nhìn chung còn rất yếu (có tới trên 80% HS chưa thành thạo với các
kĩ năng địa lí). Tiếp tục tìm hiểu thêm thông qua phỏng vấn 60 học sinh về
những kĩ năng địa lí mà em biết, tôi nhận thấy như sau:
- Với kĩ năng làm việc với bản đồ và Át lát thì các em mới hiểu hệ thống kí, ước hiệu bản đồ, nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ, xác
định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ; còn mô tả đặc điểm đối tượng
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-6-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
trên bản đồ, xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ, xác định các mối
quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ,mô tả tổng hợp một khu vực,
một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật,
động vật, dân cư, kinh tế).
- Kĩ năng vẽ biểu đồ từ bảng số liệu đã cho và rút ra nhận xét cần thiết. Đối
với kĩ năng này đa số học sinh biết vẽ các dạng biểu đồ nhưng phần nhận xét
+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình
thái và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ.
+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ.
+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ.
+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa
hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế).
Đối với HS lớp 12, những việc làm trên tất yếu phải được thực hiện một
cách thành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ năng bản đồ là đọc bản đồ (phân
tích được các mối liên hệ nhân quả, mô tả tổng hợp một lãnh thổ, một ngành,
một thành phần tự nhiên...).
- Muốn đọc được bản đồ, yêu cầu phải có kiến thức địa lí.
b) Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam
Quan trọng và không thể thiếu trong quá trình ôn tập môn địa lí là phải
rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích và xử lí thông tin dựa vào Atlat địa
lí Việt Nam. Atlat được coi là “cuốn SGK thứ hai” có rất nhiều các bản đồ,
biểu đồ, các số liệu thống kê… Việc sử dụng Atlat và vận dụng các kĩ năng
địa lí sẽ giúp các em giảm được 50% việc học thuộc lòng bài học một cách
máy móc, không có hiệu quả. Việc sử dụng Atlat thường xuyên không chỉ
giúp ghi nhớ, khắc sâu kiến thức mà còn củng cố kĩ năng sử dụng Atlat để tập
trung kiến thức làm tốt bài thi.
- Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlát Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong
tất cả các đề thi môn Địa lí. Để khai thác kiến thức từ Atlát, yêu cầu HS phải
sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kĩ năng địa lí, đồng thời phải sử dụng kĩ
năng tư duy, trong nhiều trường hợp còn cần đến óc sáng tạo. Do vậy, trong
nhiều đề thi có đến 2 câu hỏi yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt nam
- Thông thường câu hỏi gắn với Atlát có dạng "Dựa vào Atlát Địa lí Việt
Nam và kiến thức đã học...".
+ Ở các vùng núi, độ cao trên 500 - 600 m đến 1600 - 1700 m có đất mùn
vàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 - 1700 m có đất mùn alit núi cao, diện tích
không lớn.
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven
biển ở các đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ.
Ngoài ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ.
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-9-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông
Hậu.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm rải rác ven biển.
+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất cát ven biển: phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam
Trung Bộ.
- Những kiến thức phải huy động từ vốn tri thức đã có:
+ Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở
các miền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau.
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan: tập trung ở các cao nguyên Tây
Nguyên khoảng trên 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong
hoá đá ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ trên
900.000 ha.
- Đất xám
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven
biển ở các đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ (trên
900.000 ha). Ngoài ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đất phù sa
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và
sông Hậu. Đây là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ đất thịt đến sét,
phần lớn diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành
bởi sự bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến
thịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng.
- Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ. Đất
phèn có đặc tính chua; đất mặn có loại mặn ít, có loại mặn nhiều,...
- Đất cát ven biển: phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam
Trung Bộ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng.
- Các yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam rất đa dạng. Trong
phạm vi ôn thi tốt nghiệp môn Địa lí THPT những năm trước cũng như kì thi
THPT quốc gia, cần lưu ý tập trung vào các chủ điểm sau:
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-11-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
+ Trình bày vị trí địa lí của quốc gia, miền, vùng, tỉnh, trung tâm công
-12-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
nhiên; đặc điểm dân cư và lao động; đặc điểm kinh tế - xã hội; địa lí một số
ngành kinh tế chính).
- Để khai thác các kiến thức địa lí theo những chủ điểm trên, cần lưu ý kĩ
thuật sử dụng các trang của Atlát Địa lí Việt Nam.
+ Sử dụng trang mở đầu của Atlát Địa lí Việt Nam:
Đối với trang này, HS cần hiểu được ý nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của
Atlat; nắm chắc kí hiệu chung ở trang mở đầu.
+ Sử dụng các trang bản đồ của Atlat Địa lí Việt Nam:
Làm việc với các trang của Atlát, HS phải xác định được vị trí địa lí, giới
hạn của lãnh thổ, vùng kinh tế; nêu đặc điểm của các đối tượng địa lí (đất, khí
hậu, nguồn nước, khoáng sản, dân cư, dân tộc); trình bày sự phân bố các đối
tượng địa lí, như: khoáng sản, đất đai, địa hình, dân cư, trung tâm công
nghiệp, mạng lưới giao thông, đô thị,...; giải thích sự phân bố các đối tượng
địa lí; phân tích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí, phân tích mối quan hệ
giữa các yếu tố tự nhiên với nhau (khí hậu và sông ngòi, đất và sinh vật, cấu
trúc địa chất và địa hình,...), giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế, dân cư và
kinh tế, kinh tế và kinh tế, tự nhiên - dân cư và kinh tế,...; đánh giá các nguồn
lực phát triển ngành và vùng kinh tế; trình bày tiềm năng, hiện trạng và hướng
phát triển của một ngành, lãnh thổ; phân tích mối quan hệ giữa các ngành và
các lãnh thổ kinh tế với nhau; so sánh các vùng kinh tế về các mặt; trình bày
tổng hợp các đặc điểm của một lãnh thổ.
Trong rất nhiều trường hợp, HS phải chồng xếp các trang bản đồ Atlát để
trình bày về một lãnh thổ địa lí cụ thể.
diện tích, đặc điểm chung, các tiểu khu, vùng; khu vực đồng bằng: sự phân
bố, diện tích, tính chất, các tiểu khu (nếu có).
• Ảnh hưởng của địa hình tới phân bố dân cư và phát triển kinh tế - xã hội.
+ Khí hậu
• Các nét đặc trưng về khí hậu: bức xạ mặt trời, số giờ nắng (trong năm,
ngày dài nhất, ngắn nhất), bức xạ tổng cộng (đơn vị: kcal/cm 2/năm), cân bằng
bức xạ (đơn vị: kcal/cm2/năm), độ cao Mặt Trời và ngày tháng Mặt Trời qua
thiên đỉnh.
• Xác định kiểu khí hậu với những đặc trưng cơ bản (kiểu khí hậu như:
khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và ít mưa, mùa hạ nóng và mưa
nhiều; hoặc khí hậu á xích đạo, nóng quanh năm, mùa mưa kéo dài, mùa khô
ngắn nhưng sâu sắc; những chỉ số khí hậu, thời tiết cơ bản như: nhiệt độ trung
bình năm, tổng nhiệt độ, biên độ nhiệt, cơ chế hoàn lưu các mùa, số đợt frông
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-14-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
lạnh, số lần có hội tụ nhiệt đới, tháng nóng nhất, tháng lạnh nhất, lượng mưa
trung bình năm, phân bố lượng mưa theo thời gian và không gian, tính chất mưa.
• Tính chất theo mùa của khí hậu (sự khác biệt giữa các mùa).
• Ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất (đặc biệt là sản xuất nông nghiệp)
và đời sống (tác động tích cực, tác động tiêu cực).
• Các miền hoặc khu vực khí hậu.
+ Thủy văn
• Mạng lưới sông ngòi.
rừng, sự phân bố, đặc điểm các loại hình thực bì.
• Động vật: các loại động vật hoang dã và giá trị của chúng, các vườn
quốc gia (hoặc khu dự trữ sinh thái), mức độ khai thác và các biện pháp bảo vệ.
+ Các miền tự nhiên
• Vị trí
• Đặc điểm tự nhiên (địa chất và khoáng sản, địa hình, khí hậu, sông
ngòi, đất, thực và động vật).
• Một số vấn đề về khai thác, sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
+ Dân cư và lao động
• Gia tăng dân số: số dân, tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số qua các năm
(tỉ suất sinh, tỉ suất tử, gia tăng tự nhiên); gia tăng cơ giới (xuất cư, nhập cư).
• Sự phân bố dân cư trên lãnh thổ.
• Kết cấu dân số: kết cấu sinh học, kết cấu theo giới tính (nam, nữ), kết
cấu dân tộc, kết cấu xã hội, kết cấu theo trình độ văn hóa; kết cấu theo nghề
nghiệp, kết cấu lao động.
• Nguồn lao động: quy mô và sự gia tăng nguồn lao động, chất lượng nguồn
lao động: trình độ chuyên môn kĩ thuật, truyền thống, kinh nghiệm sản xuất.
• Sử dụng nguồn lao động (hiện trạng phân bố lao động trong các
ngành kinh tế, vấn đề việc làm trong quá trình đa dạng hóa nền kinh tế).
• Phân bố dân cư (lao động): mật độ dân số, phân bố dân cư theo lãnh
thổ, những biến động trong phân bố dân cư.
+ Quần cư
• Các loại hình cư trú chính (đô thị, nông thôn).
• Trong mỗi loại hình, nêu đặc điểm cư trú, hoạt động kinh tế chủ yếu
của dân cư.
+ Đô thị
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-16-
+ Ngành lâm nghiệp
• Khai thác lâm sản.
• Bảo vệ rừng và trồng rừng.
+ Du lịch
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-17-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
• Trung tâm du lịch quốc gia và du lịch vùng.
• Tài nguyên du lịch tự nhiên (vườn quốc gia, hang động, nước khoáng,
bãi biển, thắng cảnh).
• Tài nguyên du lịch nhân văn (di sản văn hoá thế giới, di tích lịch sử,
cách mạng, lễ hội truyền thống, làng nghề cổ truyền).
+ Giao thông vận tải
• Các loại hình vận tải.
• Các tuyến đường giao thông chính (đường bộ, đường sắt, đường sông,
đường biển, đường hàng không). Trong mỗi loại, nêu rõ: tuyến đường, khối
lượng hàng hóa, hành khách vận chuyển, luân chuyển; các hải cảng, sân bay...
• Các đầu mối giao thông, các cảng (sông, biển), sân bay và chức năng,
vai trò của chúng.
+ Thương mại
• Nội thương.
• Hoạt động xuất - nhập khẩu.
+ Các vùng kinh tế
• Vị trí địa lí.
về cây công nghiệp, tờ bản đồ chỉ thể hiện được các cây công nghiệp, các
vùng chuyên canh cây công nghiệp. Muốn hiểu được tỉ lệ diện tích gieo trồng
cây công nghiệp so với tổng diện tích gieo trồng đã sử dụng và diện tích trồng
cây công nghiệp thì phải sử dụng các số liệu được trình bày kèm theo trang
bản đồ. Hoặc, trên tờ bản đồ Các miền tự nhiên, để biết được một cách trực
quan và cụ thể hướng nghiêng và hình thái địa hình miền Tây Bắc và Bắc
Trung Bộ, miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, ngoài quan sát trên bản đồ, còn
phải đi sâu phân tích hai lát cắt địa hình được trình bày kèm theo tờ bản đồ.
Rèn luyện được kĩ năng đọc Atlát một cách hoàn thiện, HS có nhiều khả
năng đạt kết quả cao trong các kì thi HS giỏi quốc gia hiện nay.
c) Kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu thống kê
- Trong đề thi tốt nghiệp môn Địa lí THPT những năm trước và kì thi
THPT quốc gia năm vừa qua, câu hỏi yêu cầu phân tích số liệu luôn xuất hiện.
Đồng thời loại câu hỏi này còn cho phép đánh giá được mức độ am hiểu, vận
dụng kiến thức của HS vào các trường hợp cụ thể, đánh giá được kĩ năng chọn
lọc, xác định kiến thức địa lí. Thông thường loại câu hỏi này yêu cầu HS phân
tích bảng số liệu (nghĩa là đọc bảng số liệu) để rút ra các nhận xét cần thiết.
- Đọc bảng số liệu về bản chất là phân tích, so sánh các số liệu theo hàng
ngang và cột dọc, rút ra các nhận xét cần thiết. HS cần phải nắm vững tên
bảng, các tiêu đề của bảng, đơn vị tính, yêu cầu cụ thể của bài tập, hiểu rõ các
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-19-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
tiêu chí cần nhận xét (ví dụ: để nhận xét về một loại cây trồng, người ta
thường quan tâm đến sản lượng, cơ cấu, năng suất; để nhận xét về đô thị,
-20-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
dựa vào các số liệu để nhận xét về dân cư, cần phải phác thảo một dàn ý bao
gồm: động lực gia tăng dân số nói chung và qua các thời kì nói riêng, quy
mô, kết cấu, phân bố dân cư. Đối với một thành phố, dàn ý gồm: quy mô,
chức năng, phân cấp, sự phân bố. Đối với một ngành kinh tế, dàn ý lại khác,
đề cập đến vai trò, nguồn lực, tình hình phát triển, cơ cấu ngành và lãnh thổ,
sự phân bố... Tuy nhiên, đây chỉ là cái nền chung, cần dựa vào để trình bày,
tránh sót ý. Việc phân tích, nhận xét cụ thể còn tuỳ thuộc vào các số liệu đã
cho.
- Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu, thông thường được tiến
hành như sau:
• Phát hiện các mối liên hệ giữa số liệu theo cột dọc và hàng ngang, chú
ý đến các giá trị nổi bật như giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình,
những điểm đột biến (tăng, giảm đột ngột). Chú ý so sánh, đối chiếu cả giá trị
tuyệt đối lẫn tương đối.
• Chú ý phân tích khái quát trước, sau đó mới đi sâu vào các thành phần
(hoặc yếu tố) cụ thể.
• Khi nhận xét nên theo trình tự từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến
riêng, từ cao xuống thấp,... bám sát các yêu cầu của câu hỏi và kết quả xử lí số
liệu. Mỗi nhận xét cần có dẫn chứng cụ thể để tăng sức thuyết phục.
d) Kĩ năng vẽ biểu đồ từ bảng số liệu đã cho và rút ra các nhận xét cần thiết
- Dựa vào chức năng thể hiện của biểu đồ, có thể chia ra các loại biểu đồ
thể hiện quy mô, biểu đồ thể hiện sự phát triển, biểu đồ thể hiện cơ cấu, biểu
đồ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu, biểu đồ kết hợp.
- Dựa theo hình dáng của biểu đồ, lại có thể chia ra biểu đồ cột (cột đơn,
có khả năng thích hợp cho vẽ biểu đồ cột chồng và biểu đồ miền.
Biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện bảng số liệu thống kê cho trước
thường thoả mãn hai điều kiện: thể hiện chính xác bảng số liệu theo yêu cầu
và có tính trực quan cao nhất. Ví dụ: đối với một bảng số liệu vừa có thể vẽ
biểu đồ cột chồng, vừa vẽ được biểu đồ miền thì trong trường hợp ít năm
(chẳng hạn 2 hoặc 3 năm) vẽ biểu đồ cột hợp lí hơn, nhưng trong trường hợp
nhiều năm (chẳng hạn 5 hoặc 7 năm) lại thích hợp hơn cho biểu đồ miền, vì
tính trực quan tốt hơn.
- Nhiệm vụ đề ra là vẽ biểu đồ biểu diễn tốc độ phát triển của sự vật địa
lí so với một mốc xác định trước. Ví dụ, vẽ biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng
trưởng sản lượng điện năng của nước ta giai đoạn 1990 - 2010 (lấy 1990 =
Người thực hiện: Đào Thị Hải Yến - Trường THPT Nam Khoái Châu
-22-
Hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lí
và trả lời một số câu hỏi ôn tập phần địa lí các vùng kinh tế
100%) với đơn vị là tỉ kWh ứng với các năm 1995, 1997, 2000, 2005, 2010.
Do đây là bảng số liệu tuyệt đối nên phải tính toán và lập bảng số liệu tương
đối. Trục hoành thể hiện đại lượng thời gian (năm), trục tung thể hiện tốc độ
tăng trưởng sản lượng điện (%). Đường biểu diễn có gốc nằm trên trục tung
(chiều cao từ gốc toạ độ đến gốc đường biểu diễn tuỳ ý, có thể đặt mốc ở gốc
toạ độ, trục tung ứng với năm 1990 và tương ứng với giá trị 100%).
Trong trường hợp biểu đồ có nhiều đường biểu diễn, các đường đều
chung gốc 100% trên trục tung.
- Nhiệm vụ đề ra là vẽ biểu đồ thể hiện ba đại lượng trên cùng một biểu
đồ, hoặc nhiệm vụ yêu cầu vẽ biểu đồ vừa thể hiện cơ cấu, vừa thể hiện quy
mô của sự vật thì tiến hành như sau: