phßng gi¸o dôc & ®µo t¹O MỸ HÀO
TRƯỜNG THCS HÒA PHONG
---------- ----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
GIÚP HỌC SINH NHỚ NHANH VÀ NHỚ LÂU
KHI GIẢNG DẠY SINH HỌC 9
---------------------Môn: Sinh học
Tên tác giả: Đặng Thị Thanh Thủy
Giáo viên môn: Sinh học
Tài liệu kèm theo: Đĩa CD
Năm học 2015 - 2016
A. MỞ ĐẦU
1
I. Đặt vấn đê
1. Thực trạng vấn đê
“Em chưa thuộc được bài”, “Em không thể nhớ được nội dung của bài”, “Trí
nhớ của em không tốt”,… Có lẽ đây là những câu trả lời mà không có người thầy nào
chưa từng được nghe một lần trong cuộc đời dạy học của mình. Và đó cũng là một tồn
tại chung của nhiều học sinh trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Thực tế cho thấy, những học sinh có được kết quả học tập tốt chỉ một phần nhờ
vào sự thông minh sẵn có, còn chủ yếu là do các em có khả năng ghi nhớ tốt, hay nói
cách khác là các em đã có phương pháp rèn luyện trí nhớ một cách hiệu quả. Ở khía
cạnh khác, nếu một học sinh nào đó chưa trình bày được nội dung đã học không hẳn
vì em đó chưa học bài mà là vì em đã không có được phương pháp học hiệu quả giúp
ghi nhớ tốt kiến thức.
Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy trí nhớ đóng vai trò quan trọng trong
đời sống con người. Sự tích lũy kinh nghiệm, thu thập kĩ năng, kĩ xảo của con người
chương trình Sinh học 9 chứa đựng rất nhiều vấn đề mới mẻ, có những vấn đề khó về
mặt tư duy đối với học sinh, để hiểu bài và nhớ được các nội dung của bài học không
hề đơn giản. Nếu giáo viên có thói quen yêu cầu học sinh trả lời đúng từng câu, từng
chữ trong sách giáo khoa mà không tạo ra tính lôgic giữa các phần hay các bài với
nhau thì học sinh sẽ hình thành thói quen học vẹt.
Việc tiếp thu trên lớp của học sinh là vô cùng quan trọng, nếu giáo viên có
những cách thức làm cho kiến thức trở nên đơn giản hơn, gần gũi hơn, sinh động hơn,
… hay nói cách khác là cách thức làm cho tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu hơn với
3
học sinh thì hiệu quả ghi nhớ đã có ngay tại lớp. Sau vài lần củng cố, học sinh đã có
được những kiến thức nằm tương đối chắc chắn trong bộ nhớ của mình.
Từ thực trạng được nêu ra ở trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy và học
bộ môn Sinh học 9, tôi đã chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh nhớ
nhanh và nhớ lâu khi giảng dạy Sinh học 9”.
2. Ý nghĩa và tác dụng của đê tài
Đề tài đưa ra một số kinh nghiệm trong dạy học Sinh học 9 nhằm tăng cường
khả năng ghi nhớ kiến thức của học sinh. Những kinh nghiệm trong đề tài đã phát huy
hiệu quả đáng kể trong quá trình áp dụng, giúp cho học sinh ghi nhớ nhiều nội dung
kiến thức Sinh học lớp 9 tốt hơn, hiệu quả và hứng thú học tập của học sinh đối với
môn học qua đó cũng được nâng lên. Đây cũng là một kênh tham khảo đối với bạn bè
đồng nghiệp, trên cơ sở đó đón nhận những ý kiến đóng góp, phản hồi nhằm hoàn
thiện hơn về nội dung.
3. Phạm vi nghiên cứu của đê tài
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Những cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến trí nhớ, tâm lí học của học sinh
THCS.
- Những kinh nghiệm thu được từ thực tiễn dạy học Sinh học 9 nhằm tăng
5
Trí nhớ của con người được hình thành bằng hoạt động quyết định. Mà hoạt
động của con người rất đa dạng và phong phú nên trí nhớ cũng có nhiều loại, như: Trí
nhớ vận động, cảm xúc, hình ảnh, từ ngữ lôgic; trí nhớ bằng mắt, bằng tay,…; trí nhớ
không chủ định và trí nhớ có chủ định; trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn;…
Trí nhớ của con người là một hoạt động tích cực, phức tạp bao gồm nhiều quá
trình khác nhau và có quan hệ qua lại với nhau:
- Quá trình ghi nhớ: Là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động ghi nhớ cụ thể nào
đó. Ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết của đối tượng mà ta đang tri giác trên vỏ
não.
+ Ghi nhớ không chủ định: Là loại ghi nhớ không cần đặt ra mục đích từ trước,
nó không đòi hỏi sự nỗ lực nào của ý chí mà dường như được thực hiện một cách tự
nhiên.
+ Ghi nhớ có chủ định: Là loại ghi nhớ theo mục đích từ trước, có sự cố gắng
cũng như thủ thuật và phương pháp ghi nhớ xác định.
Loại ghi nhớ này được thực hiện:
+) Ghi nhớ máy móc: Là loại ghi nhớ dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần một
cách đơn giản. Biểu hiện điển hình của loại ghi nhớ này là học vẹt.
+) Ghi nhớ có ý nghĩa: Là sự ghi nhớ được dựa trên sự thông hiểu nội dung tài
liệu, trên sự nhận thức được mối liên hệ lôgic giữa các bộ phân của tài liệu đó.
- Quá trình gìn giữ: Là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã hình
thành được trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ.
- Quá trình nhận lại và nhớ lại:
6
Nhận lại là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác lại đối
tập và phải trình bày tài liệu, gợi cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu tài liệu đó, phải
giúp đỡ các em biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp.
+ Tri giác: Các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện tượng
phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng. Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở
lên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn.
+ Trí nhớ: Có sự thay đổi về chất. Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là
sự tăng cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt,
cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao.
Học sinh THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ.
Các em có những kĩ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so
sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu. Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài
liệu ghi nhớ được tăng lên. Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ
lôgic, ghi nhớ ý nghĩa. Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn. Các em thường phản đối
các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ, có khuynh hướng
muôn tái hiện bằng lời nói của mình.
- Tư duy: Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh.
Tính phê phán của tư duy cũng phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một
8
cách có căn cứ. Các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều
quan sát được, những kinh nghiệm của riêng mình để minh họa kiến thức.
1.2. Cơ sở thực tiễn
* Vê phía giáo viên:
Trong những năm gần đây, thực hiện theo quan điểm chỉ đạo đã được nêu trong
nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên dạy môn sinh
học nói riêng đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Tuy nhiên, trong quá trình dạy học
vẫn còn một số hạn chế:
khóa, thay vào đó lại cố gắng ghi nhớ tất cả, càng nhiều càng tốt.
+ Chưa có thói quen đọc phần tóm tắt trước để nắm được những nội dung hính
của bài.
Có điều này là do giáo viên chưa chú ý đến công tác độc lập của học sinh với
sách giáo khoa, chưa định hướng cho học sinh thấy rõ vai trò của việc đọc sách hoặc
những câu hỏi cho học sinh còn chung chung, thiếu địa chỉ cụ thể để các em tập trung
nghiên cứu.
- Việc gây ấn tượng chưa hiệu quả: Ấn tượng để lại dấu vết rất lâu trên vỏ não.
Nếu tận dụng được quy luật ấn tượng thì học sinh sẽ có thể ghi nhớ thông tin nhanh
và lâu hơn. Tuy nhiên, việc tạo ấn tượng trong các giờ học chưa được nhiều giáo viên
quan tâm, làm “lãng phí” cơ hội ghi nhớ của học sinh.
10
- Công tác ôn tập, củng cố kiến thức chưa hiệu quả.
Thông tin được nạp vào bộ nhớ của con người và sẽ mất dần theo thời gian với
một tốc độ rất nhanh. Ôn lại thông tin để củng cố trí nhớ là việc làm hết sức cần thiết
để phòng tránh sự lãng quên, biến trí nhớ ngắn hạn, tạm thời thành trí nhớ dài hạn.
Đa số giáo viên vẫn thực hiện công việc này trong mỗi bài dạy, thể hiện qua
khâu kiểm tra bài cũ hay củng cố kiến thức vào thời điểm cuối mỗi tiết dạy hay củng
cố từng phần. Tuy nhiên, đôi lúc những việc làm này mang tính hình thức, các câu hỏi
được sử dụng để kiểm tra không liên quan đến những nội dung trọng tâm của bài hoặc
thời lượng của tiết dạy không đủ để củng cố hoặc kiểm tra hết những nội dung đã học.
* Vê phía học sinh:
Với những kiến thức đã học, khả năng ghi nhớ của nhiều học sinh chưa tốt do
những nguyên nhân:
- Chưa có thói quen ghi chú, hệ thống những kiến thức chính của mỗi bài, mỗi
chương đã học.
Nhiều học sinh hiện nay đang duy trì cách học rập khuôn theo những gì được
thầy cô cho ghi lại trong sách vở. Trong mỗi bài, trên lớp các em ghi chép kiến thức
chưa tốt do những nguyên nhân sau:
- Học sinh chưa tạo thành thói quen đọc bài mới trước khi đến lớp.
Học bài cũ là công việc thường xuyên đối với học sinh, song nhiều em lại
không có thói quen đọc bài mới trước khi đến lớp. Với sự phát triển mạnh mẽ của
12
công nghệ thì ngày nay những phương tiện như điện thoại di động, máy tính kết nối
internet, tivi,… là những thứ gắn bó hơn cả với học sinh, học sinh dần mất đi thói
quen đọc sách, nhất là sách giáo khoa. Có những quyển sách được các em “giữ mới”,
trong cả năm học chưa được “chủ nhân” chạm đến. Đây quả là điều vô cùng đáng tiếc
vì sách chứa đựng biết bao tri thức của nhân loại, dù khoa học công nghệ có phát triển
đến đâu thì sách vẫn giữ vững được những giá trị của riêng mình. Và đọc sách là học
sinh đã một lần tiếp cận với tri thức, không đọc sách là học sinh đã bỏ qua một lần ghi
nhớ, đánh mất một lần đặt ra những câu hỏi thú vị thôi thúc bản thân tích cực tìm
hiểu.
- Kĩ năng đọc của học sinh chưa tốt, lúng túng trong việc xác định trọng tâm
của bài.
Nhiều học sinh chưa rèn luyện được cho mình kĩ năng đọc, điều này dẫn đến
mất nhiều thời gian mà hiệu quả lại không cao. Các em thường đọc từng từ, mắt
không bao quát trên diện rộng, chưa biết liên hệ với câu hỏi của giáo viên để xác định
từ khóa trong câu hỏi hoặc chưa biết cách xác định trọng tâm của một nội dung, một
mục nào đó thông qua những từ khóa của từng mục nên việc chắt lọc và nắm bắt
những thông tin chính rất khó khăn. Một điều nữa là các em có thói quen đọc phần
tóm tắt ở phút chót, sau khi đã đọc xong tất cả những nội dung phía trước. Tuy nhiên,
nhiều ý kiến cho rằng nên đọc phần tóm tắt cuối bài trước vì như vậy học sinh sẽ có
cái nhìn tổng quan về các ý chính và các đơn vị kiến thức của bài, nhờ đó khi đọc vào
nội dung chi tiết thì hiệu quả thu được sẽ tốt hơn.
- Học sinh chưa tập trung trong quá trình hoạt động trên lớp.
Không thể làm việc hiệu quả nếu đánh mất sự tập trung. Trong quá trình học
là kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn dạy học nhằm tăng cường hiệu quả ghi nhớ ở
học sinh trong dạy học Sinh học 9.
II. Các giải pháp của đê tài
1. Tăng cường công tác độc lập của học sinh
* Tăng cường công tác độc lập với sách giáo khoa:
Để tích lũy cho bản thân nhiều thông tin, kiến thức thì học sinh cần tích cực đọc
sách, trong đó có sách giáo khoa. Tuy nhiên, không phải cứ đọc là sẽ nhận được và
nhớ được những thông tin cần thiết. Trong quá trình dạy trên lớp, giáo viên cần quan
tâm đến việc làm sao để học sinh tích cực đọc sách giáo khoa và đọc sách có hiệu quả
hơn. Để làm được điều này, giáo viên chú ý đến việc đặt ra những câu hỏi rõ ràng về
yêu cầu để học sinh tìm kiếm, khai thác thông tin; quan sát hình ảnh, sơ đồ,… trong
sách. Bên cạnh đó giáo viên cần lưu ý học sinh một số kĩ năng:
- Hãy bắt đầu đọc mỗi bài từ phần tóm tắt kiến thức, qua đó học sinh có thể
hình dung ra những đơn vị kiến thức của mỗi bài học, thuận lợi cho quá trình đọc chi
tiết sau này.
- Trong quá trình đọc chi tiết, nên đọc một lúc từng cụm 5 – 7 từ để cải thiện
tốc độ.
- Tập trung vào những từ khóa có liên quan đến chủ đề của bài học, tiêu đề của
từng mục.
15
Ví dụ: Khi dạy bài 54 – Ô nhiễm môi trường, mục II.5. Ô nhiễm do vi sinh vật
gây bệnh, trong sách giáo khoa có viết:
“Bên cạnh các sinh vật có ích, nhiều nhóm sinh vật gây bệnh cho người và các
sinh vật khác. Nguồn gốc gây ô nhiễm sinh học chủ yếu là do các chất thải như phân,
rác, nước thải sinh hoạt, xác chết của sinh vật, nước và rác thải từ các bệnh viện,…
không được thu gom và xử lí đúng cách đã tạo môi trường cho nhiều sinh vật gây hại
cho người và động vật phát triển”.
các bài trong chương III – ADN và gen, giáo viên có thể thiết kế bảng theo mẫu và
giao cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm về chuẩn bị trước:
? Hãy nghiên cứu thông tin ở mục I sách giáo khoa bài 15 (hoặc bài 17 hoặc bài
18) để hoàn thành bảng sau:
Đặc điểm
Nội dung
Thành phần hóa học
Kích thước, khối lượng
Nguyên tắc cấu tạo
Các loại đơn phân
Tính đa dạng, tính đặc thù
Hoặc khi dạy về các quá trình tự nhân đôi ADN hay phiên mã, giáo viên có thể
yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin ở các mục tương ứng trong sách giáo khoa để
hoàn thành bảng:
17
Đặc điểm
Nội dung
Thời điểm và nơi xảy ra
Quy mô tổng hợp
Diễn biến
Kết quả
Nguyên tắc tổng hợp
3
4
Nhiệm vụ
Thế nào là bệnh di truyền, tật di truyền? Tật di truyền và bệnh di truyền
có gì khác nhau?
Nguyên nhân dẫn đến phát sinh các tật, bệnh di truyền là gì?
Những hoạt động nào của con người có thể làm gia tăng tỉ lệ người mắc
tật, bệnh di truyền?
Kể thêm một vài bệnh di truyền khác và nêu đặc điểm biểu hiện của
bệnh đó.
(Gợi ý tìm kiếm: Sách báo, Internet – từ khóa: bệnh, tật di truyền; con người
với môi trường; tác động tiêu cực của con người tới môi trường,…)
2. Tạo cho học sinh ấn tượng với bài học
Trí nhớ tuân theo quy luật “Ấn tượng mạnh mẽ” tức là sức mạnh của ấn tượng
đầu tiên về một cái gì đều tồn tại trong trí nhớ, ấn tượng càng mạnh hình ảnh càng
sáng.
Áp dụng quy luật này trong dạy học sinh học, có thể thực hiện theo các hướng:
2.1 Tạo ấn tượng bằng phương tiện trực quan
19
Như đã nói ở trên, hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là
hình ảnh thu nhận được bằng trực quan. Dựa vào đặc điểm này và trên thực tế các
phương tiện trực quan phục vụ cho dạy học sinh học tương đối phong phú, giáo viên
có thể sử dụng một cách hợp lí, tăng cường tính trải nghiệm cho học sinh để các em
ghi nhớ kiến thức nhanh hơn và lâu hơn.
Chúng tôi là đậu Hà Lan
Hoa trắng, hoa đỏ nhị vàng giống nhau
Dù tự thụ phấn từ lâu
Nhưng nay muốn đổi trước sau vài lần
Hạt phấn tôi tặng cho “anh”
Phần “anh” làm “mẹ”, “bố” dành cho tôi
Đến đây, giáo viên đặt câu hỏi: Giữa hai cây hoa trắng và đỏ, cây nào đóng vai
trò cơ thể bố, cây nào đóng vai trò cơ thể mẹ? → Học sinh quan sát kĩ tranh và kết
hợp đoạn dẫn của giáo viên để trả lời.
Giáo viên tiếp tục:
Hỏi sao chưa được “anh” ơi?
Vì “anh” có phấn, chín rồi rụng ngay
Muốn tôi “sang” được lần này
“Anh” phải cắt nhị từ ngày còn non
Vậy là mọi thứ vuông tròn
Giao phấn. F1 là con chúng mình.
21
Giáo viên: Tại sao hoa của cơ thể được chọn làm mẹ lại phải khử nhị từ khi còn
non? Hãy tóm tắt lại các bước của quá trình thụ phấn nhân tạo ở đậu Hà Lan.
Học sinh dựa vào thông tin trong bài thơ kết hợp với phân tích tranh vẽ để trả
lời.
Học sinh có thể học thuộc bài thơ để hình dung lại nội dung tranh vẽ và qua đó
nhớ được quy trình thụ phấn nhân tạo.
Ngoài việc sử dụng những phương tiện trực quan sẵn có trong phòng đồ dùng,
giáo viên cũng có thể tìm kiếm và khai thác thêm những phương tiện trực quan khác.
Với mạng internet và các phần mềm trình chiếu được sử dụng trong giảng dạy hiện
Kì
duỗi xoắn. Sau đó, mỗi mảnh, duỗi xoắn. Sau rất ngắn và không có sự
trung NST đơn tự nhân đôi đó, mỗi NST đơn tự tự nhân đôi NST.
gian
thành NST, trung tử tự nhân đôi thành NST,
nhân đôi.
trung tử tự nhân đôi.
Các NST đóng xoắn và co Các NST đóng xoắn Các NST co lại cho thấy
ngắn, gắn với các sợi của và co ngắn. Sau đó, rõ số lượng NST kép
thoi phân bào ở tâm động. diễn ra sự tiếp hợp (đơn bội).
cặp đôi của các NST
Diễn biến cơ bản của NST trong từng kì
Kì
kép tương đồng theo
đầu
chiều dọc, chúng có
thể bắt chéo với nhau,
sau đó chúng tách
nhau ra.
Các NST đóng xoắn cực Các NST đóng xoắn Các NST kép tập trung
gọn trong hai bộ nhân trong bộ nhân đơn bội
đơn
bội
mới
tạo mới tạo thành.
thành.
23
1 tế bào mẹ (2n) → 2 tế 1 tế bào mẹ (2n) → 2 2 tế bào (n kép) → 4 tế
Kết quả
bào con (2n)
tế bào con (n kép)
bào con (n đơn)
Ví dụ 2: Khi dạy các bài trong chương III - ADN và gen, giáo viên có thể trình
bày một số nội dung theo cùng cách thức:
Cấu trúc hóa
học
AND
cấu tạo
ADN được cấu tạo theo
nguyên tắc đa phân,
nghĩa là gồm nhiều
phần tử con gọi là đơn
phân.
ARN được cấu tạo theo Nguyên tắc đa phân, đơn
nguyên tắc đa phân phân là các axitamin.
gồm hàng trăm, hàng
nghìn đơn phân.
Các loại đơn
phân
Gồm 4 loại: A, T, G, Gồm 4 loại là A, U, G, Có hơn 20 loại axitamin
X.
X.
khác nhau.
Liên quan đến số Liên quan đến số Liên quan đến số lượng,
lượng, thành phần và lượng, thành phần và thành phần và trình tự
Tính đa dạng, trật tự sắp xếp các trật tự sắp xếp các sắp xếp của các loại
tính đặc thù nuclêôtit.
nuclêôtit.
axitamin, đồng thời còn
do các bậc cấu trúc của
prôtêin tạo nên.
2 mạch đơn tách nhau dần 2 mạch đơn, các với từng bộ ba trên mARN
dần dần, các nuclêôtit nuclêôtit trên mạch gốc tính từ bộ ba mở đầu, mỗi
trên mỗi mạch đơn liên của gen liên kết với các lần tiếp xúc lại có một tARN
kết với các nuclêôtit nuclêôtit
trong
môi một đầu mang bộ ba đối mã,
trong môi trường nội trường nội bào để dần đầu còn lại mang theo một
Diễn
biến
bào để dần hình thành hình thành mạch ARN.
axitamin tiến vào ribôxôm,
mạch mới.
liên kết peptit giữa các
axitamin được hình thành.
Ribôxôm tiếp xúc với bộ ba
kết thúc trên mARN thì
chuỗi axitamin được giải
phóng.
Mỗi lần tự nhân đôi tạo Mỗi lần tổng hợp tạo ra Mỗi lần trượt của ribôxôm
Kết quả
- Nguyên tắc khuôn mẫu.
Cách thức trình bày theo hướng tương tự nhau cũng có thể áp dụng ở một số
bài trong chương I, chương IV,…
25