SKKN một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn học về tự nhiên xã hội theo phương pháp dạy học tích cực - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN MỸ
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN VIỆT
----------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN - XÃ HỘI
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

Lĩnh vực: Quản lý
Tác giả : Nguyễn Thị Thủy Chung
Chức vụ : Phó Hiệu trưởng

Năm học: 2015-2016
1


LỜI CẢM ƠN !
Lời đầu tiên xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu
trường Tiểu học Tân Việt, Yên Mỹ, Hưng Yên cùng các đồng chí giáo viên và
các em học sinh nhà trường đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Trong thời gian nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do còn hạn
chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Ban giám hiệu cùng
các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và thực tiễn hơn.
Xin trân trọng cảm ơn !

2


HS

Học sinh

3

CB, GV

Cán bộ, giáo viên

4

TTC

Tính tích cực

5

BGD&ĐT

Bộ Giáo dục và Đào tạo

6

HĐND

Hội đồng nhân dân

7


ĐDDH

Đồ dùng dạy học

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

BÁO CÁO
YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
(Kèm theo CV số: 1367/SGDĐT- CNTT ngày 12 tháng 9 năm 2013)
4


I. Thông tin chung:
Họ và tên tác giả: NGUYỄN THỊ THỦY CHUNG
Ngày, tháng, năm sinh: 31/1/1974
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tân Việt.
Nhiệm vụ được giao: Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn.
Đề nghị xét, công nhận sáng kiến cấp cơ sở.
Tên đề tài: Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy
học các môn học về Tự nhiên - Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực.
II. Báo cáo mô tả sáng kiến bao gồm:
1.Tình trạng sáng kiến :
1.1. Mô tả sáng kiến: Sáng kiến gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
1.2.Ưu điểm:
- Sáng kiến kinh nghiệm đã đề cập đến vấn đề đang được cả xã hội cũng
như toàn ngành quan tâm. Đó là việc dạy học theo PPDH tích cực.

Các biện pháp đưa ra thiết thực với các hoạt động thường xuyên, thực tế
của nhà trường, dễ thực hiện, dễ áp dụng đối với toàn thể CB, GV. Không mang
tính lí thuyết, không khó thực hiện, khả năng áp dụng trong thực tiễn cao.
Các biện pháp được nêu ra trong sáng kiến đã được triển khai trong nhà
trường thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn và đã nhận được sự đồng tình,
hưởng ứng cao. Các biện pháp này cũng đã được chuyển cho các tổ, khối
chuyên môn của nhà trường để nghiên cứu, triển khai ứng dụng nhằm làm cho
sáng kiến được phổ biến sâu rộng tới toàn thể CB, GV.
Các biện pháp trong sáng kiến kinh nghiệm đưa ra đã được áp dụng trong
nhà trường, tổ chuyên môn thuận lợi, đạt hiệu quả.
4. Phạm vi áp dụng:
Sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng trong các trường tiểu học.
5. Hiệu quả và lợi ích thu được:
Qua thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng, các biện pháp trong Sáng
kiến kinh nghiệm đã có tác dụng tích cực và hiệu quả đối với việc nâng cao chất
lượng giảng dạy:
* Về GV:
100% các đồng chí CB, GV nhận thức rõ tầm quan trọng của việc dạy học
các môn học về TN - XH theo PPDH tích cực là cần thiết; các tiết dạy có kết

6


hợp các hình thức dạy học và PPDH hài hòa, hợp lý đã cuốn hút được HS chủ
động, tích cực trong việc tìm ra kiến thức.
* Về HS:
Hình thành và phát triển cho HS các kỹ năng như:
- Biết quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản và
gần gũi với đời sống hàng ngày.
- Biết phân tích, so sánh, đánh giá một số mối quan hệ đơn giản, những

10

I

Lý do chọn đề tài

10

II

Mục đích nghiên cứu

13

III

Nhiệm vụ nghiên cứu

13

7


IV

Phương pháp nghiên cứu

13

V


I

Nội dung dạy học các môn về Tự nhiên và Xã hội

18

II

Thực trạng của việc dạy học các môn về Tự nhiên và Xã
hội ở trường Tiểu học Tân Việt

19

CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN-XÃ HỘI
THEO PPDH TÍCH CỰC
Một số biện pháp

23

Biện pháp 1. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực

23

2

cho học sinh.
Biện pháp 2. Vận dụng linh hoạt các PPDH.

23

CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ

51

CHƯƠNG V.

53

ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG, PHẠM VI ÁP DỤNG
CHƯƠNG VI. MỘT SỐ CÒN BỎ NGỎ, HẠN CHẾ

54

HƯỚNG TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

C.

CHƯƠNG VII. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

55

PHẦN KẾT LUẬN

57
8


I

công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong
nhà trường ở nước ta hiện nay.
Trước đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu phải đổi mới giáo dục, trong đó
đổi mới PPDH là hết sức cần thiết. Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường trước
hết phải thay đổi tư duy, sau đó là thay đổi hoạt động giáo dục. Nhà trường
không chỉ trang bị cho HS kiến thức đã có của nhân loại mà còn bồi dưỡng,
hình thành ở các em tính năng động, óc tư duy sáng tạo, khả năng làm việc
theo nhóm và kĩ năng thực hành áp dụng vào thực tiễn. Đây thực sự là những
thách thức lớn đối với đội ngũ những người làm công tác giáo dục. Họ không
chỉ là người mang kiến thức đến cho HS mà phải là người dạy cho HS cách
nghĩ, cách tìm ra kiến thức và vận dụng nó vào cuộc sống. Có như vậy mới
đảm bảo cung cấp cho các em hành trang đáp ứng việc tự học suốt đời.
Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kĩ năng phát triển năng lực.”1
Mục tiêu chung của giáo dục: Phát triển toàn diện nhân cách, năng lực,
giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại cho HS. Chuẩn bị cho
các em sớm thích ứng, hòa nhập với đời sống xã hội và phát triển cộng đồng.
Giáo dục tiểu học có mục tiêu, nhiệm vụ cực kì quan trọng: Xây dựng
nền móng cho nhân cách và năng lực của những công dân tương lai. Qua quá
trình học tập, cần hình thành cho HS năng lực nhận thức, năng lực tự học, các
kĩ năng giải quyết vấn đề, cách hòa nhập, thích ứng với môi trường và cộng
đồng xã hội theo định hướng Bốn trụ cột giáo dục trong thế kỷ XXI: “Học để
biết - Học để làm - Học để tự khẳng định - Học để cùng chung sống.”2
1


được những kết qủa rất khả quan.
Riêng bản thân tôi, trong những năm học vừa qua đã có một số SKKN về
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy HS làm trung tâm với môn Tiếng
Việt nói chung, các phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Cảm thụ văn học, Tập
làm văn… nói riêng. Với tầm quan trọng của việc dạy học các môn về Tự nhiên
và Xã hội, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học các môn học
trên, được sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, trong năm học qua, tôi đã
nghiên cứu và tóm lược được một vài kinh nghiệm về vấn đề:
“Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn
học về Tự nhiên và Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học các môn về Tự nhiên và Xã hội
ở tiểu học theo PPDH tích cực.
- Góp phần gây hứng thú học tập cho HS, để các em có thể học tập tốt
12


được các môn học khác.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu, SKKN có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến việc dạy học
các môn học về Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn
học về Tự nhiên và Xã hội.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, SKKN đã sử dụng
các phương pháp sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các văn bản, chỉ
thị, tài liệu, sách giáo khoa, vở bài tập, sách GV… có liên quan đến việc dạy học
các môn học về Tự nhiên và Xã hội.

các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của
mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề
mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không
nản trước những tình huống khó khăn…
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác
nhau về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
2. Phương pháp dạy học tích cực là gì?
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và
trong nước, một số văn bản của Bộ GD&ĐT thường nói tới việc cần thiết phải
chuyển dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm.
Dạy học lấy HS làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như:
dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng
vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt

14


động học và vai trò của HS trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận
truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của GV.
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho
một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì GV khó
có điều kiện chăm lo cho từng HS nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng
loạt". GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là
truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và SGK, cố gắng làm
cho mọi HS hiểu và nhớ những điều GV giảng. Cách dạy này sinh ra cách học
tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng,

xung quanh thường dựa vào những đối tượng thực hoặc những vật thay thế (thiết
bị dạy học). Những suy lí đều lấy tiền đề trực quan làm cơ sở.
Do đó những kết luận do HS rút ra được chủ yếu đều dựa trên kinh
nghiệm sống và những quan sát trực tiếp mà ít khi dựa trên những luận chứng lôgic.
Dựa trên đặc điểm nhận thức đó, ở giai đoạn 1, chương trình môn TN XH bao gồm thế giới tự nhiên và xã hội gần gũi xung quanh HS. Vì vậy, GV
cần sử dụng những ngữ cảnh thực, nhiều phương tiện trực quan và nhiều ví dụ
cụ thể để minh hoạ; SGK đã dùng kênh hình nhiều hơn kênh chữ…
2. Ở giai đoạn 2 (lớp 4 và lớp 5)
Chương trình có cấu trúc dưới dạng các môn học. Bao gồm hai môn học:
Khoa học, Lịch sử và Địa lý.
Ở giai đoạn này khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát của
HS phát triển hơn giai đoạn 1, do đó cơ sở để đưa những luận chứng lôgic vào
bài học nhiều hơn.
Thí dụ: Qua thí nghiệm và luận chứng lôgic HS tự rút ra được những kết luận:
Không khí tồn tại xung quanh ta; các thành phần của không khí; không
khí cần cho sự cháy… mặc dù không khí là dạng vật chất không nhìn thấy được.
GV có thể sử dụng phương pháp đòi hỏi tư duy trừu tượng cao như mô
hình hoá. GV đưa ra hoặc hướng dẫn HS tự làm các bảng biểu, biểu đồ hoặc sơ đồ…
GV tổ chức các hoạt động học đòi hỏi tính độc lập để HS có cơ hội phát
huy năng lực trí tuệ, như các thí nghiệm tự làm, thí nghiệm tự nghiên cứu ở nhà
(đối chứng), những hoạt động tự tìm hiểu một đối tượng hoặc một đề tài.

16


Một số trường hợp GV có thể dẫn dắt HS nhận thức thế giới theo con
đường từ trừu tượng đến cụ thể.
Thí dụ: Sau khi HS biết khái niệm về nam châm tự nhiên và nam châm
nhân tạo, GV hướng dẫn HS tự làm các thí nghiệm: chế tạo nam châm, xác định
tính chất của kim nam châm và tìm những công dụng của nam châm trong đời

Giáo dục sức khoẻ.
Môn Khoa học mới cũng là môn học tích hợp của phân môn Khoa học cũ
và nội dung Giáo dục sức khoẻ.
Môn học Lịch sử và Địa lí là môn học tích hợp của hai phân môn Lịch sử,
Địa lí cũ, và lịch sử và địa lí đều có mục tiêu chung là nghiên cứu con người
trong thời gian, không gian và mối quan hệ với môi trường sống.
Các chủ đề trong các môn TN - XH, Khoa học, Lịch sử - Địa lí được tích
hợp ở mức độ cao hơn trước.
1. Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3):
Môn TN - XH cũ bao gồm bảy chủ đề (Gia đình, Trường học, Quê hương,
Thực vật, Động vật, Cơ thể con người, Bầu trời và Trái đất), theo chương trình
mới chỉ còn ba chủ đề:
+ Con người và sức khoẻ;
+ Xã hội;
+ Tự nhiên;
Vì mục tiêu của giáo dục sức khoẻ bao gồm thể chất, tinh thần, xã hội và
môi trường, và vậy nội dung giáo dục sức khoẻ được tích hợp với cả 3 chủ đề trên.
2. Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5):
Môn Khoa học cũ bao gồm các chủ đề: Ánh sáng và nhiệt, Nước, Không
khí, Âm thanh, Đất - đá - quặng, Thực vật, Động vật, Đồ vật thường dùng, Chất
thường dùng, Năng lượng thường dùng, Sự sinh sản ở thực vật, Sự sinh sản ở
động vật, Sự sinh sản và phát triển cơ thể người, Con người và môi trường.
Môn khoa học mới chỉ bao gồm 4 chủ đề:
- Con người và sức khoẻ (lớp 4 và 5);
- Vật chất và năng lượng (lớp 4 và 5);
- Thực vật và động vật (lớp 4 và 5);
18


- Môi trường và tài nguyên thiên nhiên (lớp 5);

Số liệu tính đến tháng 2/2016.
Số liệu tính đến tháng 2/2016

19


Một số GV trẻ còn quá non về chuyên môn, cả kiến thức lẫn phương
pháp. Trình độ đội ngũ GV chưa đồng đều.
Có một số phụ huynh HS do mải làm ăn nên chưa thật quan tâm đến việc
học hành của con em mình mà còn giao phó cho nhà trường.
1.3. Cơ cấu, vai trò, vị trí và đặc điểm của đội ngũ giáo viên trong nhà trường:
Đội ngũ của nhà trường chủ yếu gồm cán bộ quản lý, giáo viên. Ngoài ra
còn có nhân viên phục vụ giảng dạy và giáo dục như: thư viện, thiết bị - đồ
dùng. Lực lượng này tuy không tham gia trực tiếp vào công tác giảng dạy và
giáo dục nhưng những đóng góp của họ là không thể thiếu được để làm nên chất
lượng chung của nhà trường.
GV là lực lượng quan trọng nhất trong nhà trường, là cầu nối HS với các
lực lượng xã hội. Họ là lực lượng chủ chốt giữ vị trí quan trọng và quyết định
chất lượng của các hoạt động giáo dục ở nhà trường.
GV trong nhà trường đại đa số là nữ, là thành phần giữ nhiều chức năng
và nhiệm vụ trong nhà trường cũng như gia đình và xã hội. Họ sống rất giàu tình
cảm, dễ cảm thông với nhau, hay trao đổi trò chuyện với nhau; công tác giảng
dạy rất phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhân cách của họ. Người GV không chỉ
là người thầy mà còn là người mẹ thứ hai của trẻ.
Bảng chất lượng giáo dục trong một số năm gần đây
Năm học

2013-2014
2014-2015
2015-2016

13
2
14
2
16
2

Tỉnh
0
0
0

(đến tháng 2/2016)
Bảng 1. giáo viên
Số
HS
599

Học lực
G

K

TB

Y

SL % SL % SL % SL %
209 34.9 222 37.1 155 25.8 13 2.2
Bảng 2a. Học sinh

651 100 0
0 651 100 0 0 646 99.2 5 0.8
664 99.1 6 0.9 670 100 0 0 647 96.6 23 3.4

(HKI)
Bảng 2b. Học sinh
Năm học 2014-2015, 2015-2016 (Đánh giá HS theo TT32/2014)
2. Một số tồn tại trong việc dạy học các môn về Tự nhiên-Xã hội
2.1. Các môn học TN - XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí là các môn học về
môi trường tự nhiên và xã hội, gần gũi bao quanh HS, do đó HS có nhiều vốn
sống, vốn hiểu biết để tham gia vào bài học, chúng phải được chủ động nhận
thức. Tuy vậy có một số GV vẫn cho rằng, chính họ vẫn là nguồn duy nhất cung
cấp kiến thức cho HS mà không thấy rằng trong thế giới hiện đại, HS có thể thu
nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác. Vì vậy, họ khó có thể hoà nhập vào xu thế
đổi mới PPDH.
2.2. Các môn học TN - XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí là các môn học
tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tuy nhiên, tỉ trọng
kiến thức khoa học tự nhiên trong chương trình nhiều hơn so với kiến thức khoa
học xã hội.
- Hầu hết kiến thức về khoa học tự nhiên lại là của các môn khoa học thực
nghiệm (Sinh học, Vật lí, Hoá học…).
- Vì vậy, PPDH phải thể hiện được các phương pháp đặc trưng của các
môn khoa học thực nghệm (quan sát, thí nghiệm…).
- Trong thời gian qua, nhiều GV không coi trọng thiết bị dạy học, nhất
là các dụng cụ thí nghiệm. Tình trạng dạy chay , học chay còn phổ biến trong
các trường tiểu học. Đó là cách dạy học thoát li các phương pháp đặc trưng của
môn học và đặc điểm nhận thức của trẻ em tiểu học.

21


TTC là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối
tượng; là sản phẩm rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều
lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách
và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại. Quan điểm như
vậy cho phép chúng ta hiểu rõ bản chất của TTC và cho phép xây dựng một kế
hoạch phong phú và toàn diện hơn khi muốn tích cực hóa con người nhằm tổ
chức họ tham gia một hoạt động nào đó có hiệu quả.
TTC nhận thức: Là tính tích cực trong điều kiện, phạm vi của quá trình
dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS. Có thể phân
chia sự phát triển TTC nhận thức làm 3 mức độ:
- TTC tái hiện: Đó là mức độ thấp của TTC, chủ yếu dựa vào trí nhớ để
tái hiện lại những điều đã nhận thức được. Đây là hình thức biểu hiện tính tích
cực sớm nhất, đơn giản và phổ biến nhất. Qua mô phỏng, bắt chước, tái hiện mà
các em tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm của các thế hệ trước.
- TTC sử dụng: Đây là sự phát triển TTC ở mức độ cao hơn. Qua việc vận
dụng các công cụ, các khái niệm, … để giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em
phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự đưa ra những phương án khác nhau, nhờ
đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển.
- TTC sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của TTC. Nó được đặc
trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi
khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị. TTC sáng tạo
tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân.
Nó hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi
những phương pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc
sống. Nó biểu hiện khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những
phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới. Như vậy, TTC sáng tạo không phải
là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc
trưng của một con người.
Để bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho HS, GV cần phải:

thành viên trong lớp đều hoạt động tốt. Nhưng phải làm thế nào đây khi các HS
còn hạn chế thì rất là mặc cảm, e ngại trước những HS tốt hơn mình? Điều này
24


đòi hỏi người thầy phải tuyệt đối lắng nghe, quan tâm và đặt mình vào vị trí của
HS khi trả lời, không chế giễu nạt nộ mà luôn khuyến khích phát biểu. Có thể là
ý kiến đó sai nhưng phải tạo điều kiện cho HS tự do ngôn luận và chỉ có thể can
thiệp khi thật sự cần thiết; còn đối với các em học tốt hơn thì tạo mọi điều kiện
để các em phát triển khả năng tư duy sáng tạo của mình. Chính sự quan tâm,
động viên, cởi mở mà làm cho mối quan hệ thầy trò trở nên tốt đẹp, tạo bầu
không khí thoải mái, bình đẳng cho lớp học, đây là môi trường phát huy TTC
hoạt động nhận thức của HS rất hiệu quả.
- Tăng thời gian hoạt động trong giờ học cho HS: Giảm thuyết trình của
GV, tăng đàm thoại giữa thầy và trò, ưu tiên cho HS được thảo luận, tranh luận
nhiều. Khi HS tự nghiên cứu SGK tại lớp cần yêu cầu HS trả lời những câu hỏi
tổng hợp đòi hỏi phải so sánh, khái quát hóa, suy luận, cần nêu những câu hỏi
yêu cầu HS phải đầu tư suy nghĩ thêm chứ không chỉ lấy từ SGK. GV cần biết
xác định đúng và nắm vững trọng tâm bài học, giảm bớt thời gian dành cho phần
dễ và tương đối đơn giản để có đủ thời gian tập trung vào những phần trọng tâm của bài.
- Tăng cường cho HS đánh giá lẫn nhau để học hỏi kinh nghiệm và bổ
sung hoàn thiện thêm kiến thức cho mình. Đối với GV, từng bước đổi mới công
tác kiểm tra đánh giá, coi trọng những biểu hiện sáng tạo của HS, coi trọng
những kỹ năng thực hành cũng như kỹ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn
để kích thích tích cực hoạt động trong tư duy sáng tạo của mình.
Tích cực hóa hoạt động học tập là một tập hợp các hoạt động của thầy
giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành
chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng
cao hiệu quả học tập. Làm cho người đọc từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích
cực, say mê học hành là cả một công việc khó khăn, đòi hỏi trí sáng tạo và sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status