SKKN một số dạng hoạt động giúp phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy câu điều kiện cơ bản - Pdf 37

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.

CSVC

:

Cơ sở vật chất

2.

GD – ĐT

:

Giáo dục – đào tạo

3.

GV

:

Giáo viên

4.

HS

:


:

Thiết bị dạy học

9.

THPT

:

Trung học phổ thông

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1


Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, tiếng Anh là một phương tiện giao
tiếp cực kỳ quan trọng. Do đó, việc học và sử dụng thành thạo tiếng Anh
trong giao tiếp đang ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc với nguồn nhân
lực trong xã hội. Tuy nhiên, việc nhận thức được vai trò của tiếng Anh và
đầu tư cho việc học tiếng Anh ở nhiều nơi, đặc biệt là HS ở các vùng nông
thôn, còn nhiều hạn chế. Phụ huynh và HS chưa nhận thức rõ được tầm
quan trọng của việc học tiếng Anh trong xã hội hiện nay. Điều này có ảnh
hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn này tại các nhà
trường.
Ngoài ra, PPGD của GV cũng là yếu tố quyết định đến chất lượng môn
học. Lâu nay, GV thường Việt hóa việc giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là phần
ngữ pháp. Nhiều GV khi dạy Ngữ pháp vẫn dạy theo phương pháp truyền
thống: GV đưa ra cấu trúc, cách sử dụng, ý nghĩa … Sau đó, HS làm các bài

động trong giảng dạy câu điều kiện cơ bản nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số dạng hoạt động giúp phát huy tính tích cực của học sinh khi
dạy câu điều kiện cơ bản.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu và hệ thống hoá cơ sở lý luận về câu điều kiện
- Phương pháp quan sát hoạt động học của HS
- Phương pháp khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp thực nghiệm
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được tiến hành nghiên cứu tại trường THTP Nam Phù Cừ
trong năm học 2015 – 2016.

3


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chuyên đề ngữ pháp câu điều kiện gồm các kiến thức về 3 loại câu
điều kiện cơ bản, các dạng câu điều kiện hỗn hợp, các dạng biến thể của
câu điều kiện, đảo ngữ của câu điều kiện và các dạng diễn đạt khác của
mệnh đề điều kiện. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tôi chỉ tập trung vào
việc nâng cao hiệu quả giảng dạy câu điều kiện cơ bản. Đây là phần trọng
tâm ngữ pháp mà HS được học trong các Unit 8, 9, và 11 – tiếng Anh 10.
1.1.1. Cấu trúc và ý nghĩa câu điều kiện cơ bản
1.1.1.1. Câu điều kiện loại I (Conditional sentence type I)
A, Cấu trúc:
If + Clause 1 (the simple present) , Clause 2 (the simple future)


Ví dụ:

- If Miss Phuong had attended the beauty contest, she would

have won the first prize.
(But the fact was that she didn’t attend and she didn’t win the first prize.)
- If we had prepared our last lessons carefully, we would have
got good marks.
(But the fact was that we didn’t prepare our last lessons
carefully and we didn’t get good marks at all.)
1.1.2. Một số dạng bài tập phổ biến về câu điều kiện
Dạng bài tập về câu điều kiện rất phong phú, đa dạng, và có nhiều cấp
độ từ dễ tới khó, từ cơ bản đến nâng cao. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,
tôi xin tổng hợp lại 4 dạng bài cơ bản, thường gặp nhất trong quá trình HS
học về câu điều kiện.
1.1.2.1. Dạng bài tập điền dạng đúng của động từ
Đây là dạng bài tập từ luận. Bài tập này gồm các câu điều kiện còn
khuyết dạng động từ của một mệnh đề hoặc cả hai mệnh đề.
Ví dụ:
1. Bring him another if he (not/like) ............................ this one.
2. She (be) ................... angry if she had heard this yesterday.
5


3. If you were more careful, you (have) ............................ an accident.
4. If you like, I (get) ........................ you a job in this company.
5. If your mother (be) ........ 15 years younger, she (play) ........... some games.

1.1.2.2. Dạng bài tập chọn đáp án đúng để hoàn thành câu
Đây là dạng bài trắc nghiệm về dạng đúng của động từ trong câu điểu

D. won’t do/ don’t let

5.

D. doesn’t arrive

If I make some coffee, _____ the cake?
A. do you cut

4.

D. had missed

`We’ll have to go without John if he ______ soon.
A. won’t arrive

3.

C. missed

If you _____ this switch, the computer _____ on.

A. press/ comes

B. will press/ comes

C. press/ can come

D. have pressed/ will comes



B

C

D

3. If I am 10 centimeters taller, I would play basketball.
A

B

C

D

4. If she bought that house now, she ran out of money.
A

B

C

D

5. If the doctors could find in the remedy, a lot of people would be saved.
A

B


Với Unit 9 – English 10, có 1 bài tập yêu cầu HS cho dạng đúng của
động từ trong ngoặc, sử dụng cấu trúc câu điều kiện loại 2.
Ở Unit 11 – English 10, bài tập về câu điều kiện được thiết kế dưới 2
dạng: điền dạng đúng của động từ trong ngoặc và viết lại câu sử dụng cấu
trúc câu điều kiện loại 3.
Việc thiết kế bài tập của 3 Unit tương đối giống nhau dẫn đến sự nhàm
chán cho HS. Ngoài ra, nhiều HS lười học đã không tự mình làm bài mà
chép đáp án trong sách để học tốt hoặc các sách tham khảo có đáp án. Điều
này khiến cho GV gặp khó khăn trong việc kiểm tra mức độ hiểu của HS và
tính chính xác khi HS báo cáo kết quả bài làm của mình.
1.2.2. Thực tế về PPGD
8


Trong quá trình giảng dạy phần ngữ pháp câu điều kiện cơ bản loại
1,2,3 trong chương trình tiếng Anh lớp 10, tôi nhận thấy, GV thường sử
dụng phương pháp thuyết trình theo cách diễn dịch. GV đưa ra công thức,
giới thiệu cách sử dụng. Sau đó, GV phân tích một số ví dụ để làm rõ cấu
trúc và ý nghĩa. Sau khi hoàn thành phần giảng lí thuyết, GV yêu cầu HS áp
dụng vào làm các bài tập trong sách giáo khoa. Việc áp dụng cùng một
phương pháp trong 3 bài liên tiếp, dạy về 3 dạng câu điều kiện cơ bản
khiến cho bài giảng rất đơn điệu, không thu hút được HS. Đó là một trong
những nguyên nhân khiến cho hiệu quả giờ dạy không cao.
Ngoài ra, phương pháp thuyết trình cùng với các dạng bài tập được
thiết kế trong sách giáo khoa đã khiến HS không có cơ hội áp dụng các kiến
thức và cấu trúc câu điều kiện vào thực tế. Các em không có cơ hội được sử
dụng câu điều kiện trong các tình huống giao tiếp để từ đó khắc sâu kiến
thức. Do đó, cần thực hiện ứng dụng tích hợp các kỹ năng ngôn ngữ khác
trong quá trình dạy ngữ pháp nói chung, và dạy về câu điều kiện nói riêng.
1.2.3. Thái độ của HS trong giờ học

Thay vì đưa sẵn cấu trúc và ý nghĩa sử dụng hoặc phân tích một số ví
dụ để rút ra cấu trúc và ý nghĩa sử dụng, GV có thể thiết kế một số hoạt
động nhằm giúp HS nhận biết cấu trúc và ý nghĩa của các loại câu điều
kiện. Với các hoạt động này, GV cần chú ý thiết kế các hoạt động ở mức độ
đơn giản. Đồng thời, các dạng hoạt động này có thể giúp GV tích hợp các kỹ
năng ngôn ngữ khác trong quá trình giảng dạy.
2.1.1.

Tích hợp kỹ năng đọc hiểu và nhận biết câu điều kiện
Ở hoạt động này, GV cần chuẩn bị một đoạn văn ngắn có chứa các

câu điều kiện cơ bản. GV có thể yêu cầu HS làm việc cá nhân, theo cặp hoặc
10


nhóm, đọc và thực hiện các yêu cầu của GV. Ví dụ: GV có thể thiết kế dưới
dạng đọc và trả lời câu hỏi, hoặc yêu cầu HS đọc và ghi ra / đánh dấu các
câu điều kiện. Sau đó, yêu cầu HS trao đổi phần kết quả. GV cũng có thể tổ
chức dưới dạng một cuộc thi nhỏ. Trong một khoảng thời gian nhất định,
đội nào ghi được nhiều câu đúng, nhanh nhất thì sẽ là đội thắng cuộc.
Vì đây là hoạt động được thiết kế để nhận biết cấu trúc và ý nghĩa sử
dụng nên GV cần chú ý thiết kế đoạn văn đọc rõ ràng và tường minh. Các
câu điều kiện trong đoạn văn đó cần gắn liền với văn cảnh để HS dễ dàng
nhận ra ý nghĩa sử dụng.
Ví dụ: khi dạy về câu điều kiện loại 3, GV có thể sử dụng một đoạn văn
ngắn như sau:
Long is a student at Hanoi University. Last week, Mai invited him to
her birthday party, but he had a lot of homework to do. If he hadn’t been so
busy preparing for his final exam, he would have come to hers. And he’s
sure that, if he had gone to her party, he would have met her sister, who

I've dreamed of this a thousand times before
In my dreams I couldnt love you more
I will give you my heart until the end of time
You're all I need. My love, my valentine
La da da Da da da da
And even if the sun refused to shine, Even if romance ran out of rhyme
You would still have my heart until the end of time
Cuz all I need is you, my valentine
You're all I need. My love, my valentine
2.1.3. Thiết kế dưới dạng trò chơi.
GV có thể sử dụng nhiều dạng trò chơi khác nhau để tổ chức cho HS
nhằm tạo ra không khí sôi nổi cho HS. Mỗi dạng trò chơi đều có ưu điểm và
hạn chế. Tuy nhiên, việc lựa chọn các trò chơi phải phụ thuộc vào khả năng
của GV, quy mô lớp học, cơ sở vật chất và các điều kiện khác. Việc thiết kế
hoạt động trò chơi còn phải phụ thuộc vào mục đích dạy học. Với mục đích
giúp HS nhận biết, nhận dạng, GV cần thiết kế các trò chơi thật đơn giản;
nội dung kiến thức phải rõ ràng. Dưới đây là một số ví dụ về trò chơi nhận
dạng cấu trúc câu điệu kiện.
12


* Ví dụ: Trò chơi ghép câu
Chia lớp thành các nhóm gồm 4 – 6 HS. GV chuẩn bị handout và phát
cho HS. Handout gồm 2 phần: Phần mệnh đề If và phần mệnh đề chính. Các
mệnh đề được trình bày trong các mảnh giấy riêng biệt. Nhiệm vụ của các
nhóm là thảo luận và ghép các mệnh đề thành câu điều kiện hoàn chỉnh, có
ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi hết thời gian, đội
nào ghép được nhiều nhất các câu đúng sẽ là đội chiến thắng.
Do việc dạy câu điều kiện cơ bản được tách từng loại câu nên ở hoạt
động này HS chỉ cần ghép đúng về ý nghĩa.

các nhóm phải giơ bảng và GV sẽ chấm và ghi điểm. Sau khi kết thúc cuộc
thi, nhóm nào có tổng điểm cao nhất sẽ chiến thắng
2 – Thi cá nhân: GV có thể tổ chức theo hình thức của cuộc thi rung
chuông vàng. GV cũng chiếu lần lượt từng câu hỏi. HS trả lời vào bảng phụ.
HS trả lời sai ở câu hỏi nào thì sẽ bị loại khỏi cuộc thi. Những HS trả lời
đúng đến câu hỏi cuối cùng sẽ chiến thắng.
Hình thức tổ chức thi sẽ thu hút HS tham gia sôi nổi, có tính cạnh
tranh lành mạnh. Đồng thời, do trong quá trình soạn câu hỏi, GV cũng sắp
xếp các câu hỏi theo thứ tự từ dễ đến khó nên GV có thể kiểm tra được mức
độ hiểu của HS. Tuy nhiên, việc kiểm soát HS và điều khiển cuộc thi trong
lớp học cũng đòi hỏi GV các kỹ năng tổ chức tốt. Hơn nữa, nếu GV tổ chức
cuộc thi nhưng nội dung chỉ gồm 1 loại câu điều kiện, thì GV cần thiết kế
các bộ câu hỏi gồm nhiều dạng bài tập khác nhau để HS không nhàm chán.
Ngoài ra, điều đó sẽ giúp GV có thể đánh giá, kiểm tra HS chính xác hơn.
2.2.2. Tổ chức hoạt động thực hành theo nhóm dưới hình thức trò
chơi.
GV có thể sử dụng nhiều trò chơi khác nhau để giúp HS thực hành cấu
trúc câu điều kiện.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã thử nghiệm và thu được nhiều kết
quả tốt với dạng hoạt động Trò chơi cá ngựa (Đính kèm ở phụ lục 01)

14


Ở trò chơi này, GV thiết kế các ô gồm các cụm động từ gợi ý cả 2 mệnh
đề. HS chơi theo nhóm gồm 4 – 6 HS. Do không có đủ quân xúc xắc nên GV
có thể thiết kế dưới dạng lá thăm có in số từ 1 đến 5. HS bốc được lá thăm
có chứa số nào thì sẽ di chuyển theo thứ tự để tìm ô gợi ý của mình. Sau đó,
HS phải nói được thành câu điều kiện hoàn chỉnh sử dụng các cụm từ gợi ý
đó. (Luật chơi giống như chơi cá ngựa). HS nào hoàn thành và về đích

GV có thể tổ chức cho HS chơi theo nhóm nhỏ (4 – 6 HS). Mỗi nhóm /
HS sẽ phải hoàn thành được một câu điều kiện mà mệnh đề If của nhóm /
mình chính là mệnh đề chính của nhóm / HS khác. Câu điều kiện đó phải
đảm bảo đúng cấu trúc và có nghĩa.
Ví dụ 1: Tổ chức chơi theo nhóm.
Các nhóm sẽ bốc thăm giành quyền đặt câu điều kiện trước. Giả sử
rằng nhóm 1 giành quyền chơi trước. Các thành viên nhóm 1 sẽ phải thảo
luận và đưa ra một câu điều kiện. Ví dụ: “If I study hard, I will pass the final
exam”. Khi đó, nhóm 2 sẽ phải thảo luận để đưa ra một câu điều kiện mà
mệnh đề If là cụm “pass the final exam”, “If I pass the final exam, ……”.
Tương tự các nhóm 3 sẽ phải đưa ra câu điều kiện mà mệnh đề If sử dụng
cụm động từ của mệnh đề chính của nhóm 2…. Lần lượt chơi đến khi tất cả
các đội hoàn thành. Mỗi nhóm sẽ có thời gian suy nghĩ trong 15 giây. Nếu
nhóm nào không trả lời được thì sẽ bị loại và nhóm tiếp theo sẽ làm tiếp
phần của nhóm bị loại đó. Hoạt động này yêu cầu HS tất cả các nhóm đều
phải tập trung vào câu của các nhóm khác, giúp rèn luyện tinh thần làm
việc nhóm của HS.
Ví dụ 2: Tổ chức chơi theo hình thức cá nhân
Luật chơi cũng tương tự như chơi theo nhóm. Chia lớp thành nhóm 5
– 7 HS. Gv có thể chỉ định một HS ở mỗi nhóm là người bắt đầu trò chơi. Ví
dụ: HS A đưa ra một câu điều kiện “If I study hard, I will pass the final
exam”. Khi đó, Hs B sẽ phải thảo luận để đưa ra một câu điều kiện mà mệnh
đề If là cụm “pass the final exam”, “If I pass the final exam, ……”. Tương tự
16


HS C sẽ phải đưa ra câu điều kiện mà mệnh đề If sử dụng cụm động từ của
mệnh đề chính của HS B…. Lần lượt chơi đến khi tất cả HS hoàn thành. Mỗi
HS sẽ có thời gian suy nghĩ trong 15 giây. Nếu Hs nào không trả lời được
thì sẽ bị loại và HS tiếp theo sẽ làm tiếp phần của HS bị loại đó.

10A2 39
10D1 39
Lớp

Điểm 9 - 10
SL
%
1
2.6
1
2.6

Điểm 7 – 8
SL
%
9
23
10
25.6
4

Điểm 5 - 6
SL
%
13
33.3
13
33.3

Điểm < 5

hiệu quả, chưa hợp lí.

Tổ chức
hoạt động
học tập cho
HS

Các tiết dạy lớp 10D1
- Chuỗi hoạt động được
thiết kế sinh động, đa dạng,
phù hợp với nội dung, PPGD.
- Mục tiêu, nội dung, cách tổ
chức của mỗi nhiệm vụ học
tập đều rõ ràng
- Có phương án kiểm tra,
đánh giá hợp lí, hiệu quả.
- GV sử dụng có hiệu quả các
thiết bị dạy học.
- Phương pháp và hình thức
chuyển giao nhiệm vụ học
tập đa dạng và hấp dẫn

- GV chưa sử dụng có hiệu
quả các thiết bị dạy học
- Phương pháp và hình thức
chuyển giao nhiệm vụ học
tập còn đơn điệu, nhàm
chán, chưa thu hút được HS
- GV có quan sát và phát - GV đã quan sát và phát
hiện những khó khăn của hiện kịp thời khó khăn của

kết quả học tập còn mang trong việc trao đổi, thảo
tính hình thức. Nhiều học luận về kết quả học tập
sinh không tham gia thảo
luận với bạn.
- Về kết quả học tập: Nhiều - Nhiều HS hoàn thành tốt
HS còn chép bài của bạn, các nhiệm vụ học tập được
chép STK, và phần chữa bài giao.

3.2. Kết quả khảo sát HS
* Nhận xét về giờ dạy

- Nhàm chán, giống các giờ dạy ngữ
pháp khác.
Nội dung
- Có nhiều hoạt động hấp dẫn.
bài học
- Theo đúng nội dung SGK
- Có nhiều hoạt động ngoài SGK
Tinh thần - Chủ yếu làm việc cá nhân, có trao
hợp tác
đổi kết quả với các bạn
- Chủ yếu làm việc nhóm
Tích cực - Không tích cực
hoạt động - Tích cực hơn các giờ ngữ pháp
khác

Lớp
10A2
(%)
87.2

học tập

- Không hiệu quả
- Thảo luận sôi nổi, hiệu quả
- Không hứng thú
- Rất hứng thú, thích

69.3
30.7
74.4
25.6

82
18
76.9
23.1

* Kết quả kiểm tra
Lớp
10A2
10D1


số
39
39

Điểm 9 - 10
SL
%


Nhìn vào bảng nhận xét đánh giá giờ dạy của các đồng nghiệp, HS các
lớp 10A2, 10D1 và bảng kết quả kiểm tra đánh giá sau khi học xong 3 tiết
về câu điều kiện cơ bản, có thể thấy rằng: Các tiết dạy theo phương pháp
tích hợp các kỹ năng ngôn ngữ, trò chơi và các hoạt động tích cực khác sẽ
có sự thúc đẩy, khuyến khích HS tham gia tích cực hơn vào các hoạt động
học tập. Đồng thời, HS có nhiều cơ hội thực hành và vận dụng kiến thức đã
học. Điều này giúp các em khắc sâu kiến thức và ghi nhớ tốt hơn.
Việc tạo được hứng thú học tập và sự chủ động, tích cực tham gia các
bài học sẽ là một trong những yếu tố quyết định góp phần vào sự thành
công của giờ dạy nói riêng và nâng cao chất lượng bộ môn tiếng Anh nói
chung.

PHẦN KẾT LUẬN
21


1. Kết luận
Đề tài “Một số dạng hoạt động giúp phát huy tính tích cực của học
sinh khi dạy câu điều kiện cơ bản” đã được nghiên cứu dựa trên hệ thống cơ
sở lý luận về phương pháp dạy học và lý thuyết câu điều kiện.
Các kết quả của việc khảo sát, đánh giá về thực trạng giảng dạy câu
điều kiện cơ bản cho thấy: khi dạy các chuyên đề ngữ pháp nói chung, ngữ
pháp về câu điều kiện cơ bản nói riêng, GV thường sử dụng phương pháp
thuyết trình và giao bài tập trong SGK cho HS làm. HS không tích cực tham
gia các hoạt động học tập, không chủ động làm bài tập được giao mà chủ yếu
dựa vào kết quả của bạn, chép sách tham khảo hoặc phần chữa bài của GV.
GV cũng chưa tích hợp các kỹ năng khác vào việc giảng dạy ngữ pháp. Tất cả
những điều này khiến giờ học trở nên nhàm chán, không thu hút HS.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và trải qua thực tiễn giảng dạy, tác giả đã

để đảm bảo tốt cho việc dạy học theo phương pháp đổi mới đạt hiệu quả cao.
- Trong thời gian tới, đề nghị sở GD - ĐT Hưng Yên tiếp tục mở các
lớp bồi dưỡng về PPGD cho GV trong toàn tỉnh để các GV tiếng Anh của
trường THPT Nam Phù Cừ được tham gia bồi dưỡng và nâng cao khả năng,
nghiệp vụ dạy học và các kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Anh,
đặc biệt là các thiết bị đa phương tiện.
- Tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề về phương pháp dạy học để các
trường có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, bày tỏ các kiến nghị và đề
xuất về công tác giảng dạy tiếng Anh trong bối cảnh hiện nay.
2.2. Đối với trường THPT Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
- Tạo điều kiện hơn nữa để GV Tiếng Anh có cơ hội được học tập, bồi
dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực ngoại ngữ,
đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy hiện nay.
- Phối kết hợp với các trường THPT trong tỉnh tổ chức các buổi hội
thảo, chuyên đề bồi dưỡng năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm cho giáo
viên Tiếng Anh.
- Tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra GV Tiếng Anh và thi Giáo viên
giỏi môn Tiếng Anh một cách nghiêm túc, có chế độ khen thưởng thích đáng
đối với những giáo viên có đầu tư chuyên môn và đạt kết quả cao trong công
tác giảng dạy.
- Dành nhiều ngân sách hơn cho hoạt động mua sắm các CSVC và
TBDH môn tiếng Anh để tạo điều kiện tốt hơn cho việc tổ chức các hoạt động
giảng dạy và ngoại khóa môn tiếng Anh.
Trên đây là phần nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm về dạy câu điều
kiện cơ bản theo hình thức mới. Tôi xin cam đoan, tất cả nội dung và kết quả
nghiên cứu là của cá nhân tôi, không có bất kỳ sự sao chép nào.
Phù Cừ, ngày 25 tháng 3 năm 2016
23



with friends

become a
doctor / save a
lot of lives

go to medical
college / become
a doctor

have your
address / send you
a postcard

have a car / give
you a lift

exercise more /
feel better

speak English
well / get a good
job

have money / buy a
book

FINISH

PHỤ LỤC 02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status