1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất nước ta có một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa
mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí
hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới
điển hình ở các vùng phía Nam đến khí hậu mang tính chất Á nhiệt đới vùng
núi cao ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đã thự sự ưu đãi cho đất nước
và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một triển vọng
lớn về hệ thực vật rừng.
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của
thế giới, có tiềm năng phát triển lâm sản ngoài gỗ ở khu vực châu Á, hiện có
1.6 triệu ha rừng đặc sản. Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài
nguyên thực vật nhất Đông Nam Á , nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc
cao. Trong đó có 3948 loài được dùng làm thuốc ( viện dược liệu, 2007) chiếm
khoảng 37% số loài đã biết. Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của
53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có
một phần. Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1066 loài
cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc. Theo kết quả điều
tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 – 2005 số loài cây thuốc ở một số
vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc
(751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài). Với
hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa
dạng.Vì thế đã bao đời nay cuộc sống người dân đã gắn bó với rừng, họ sử
dụng lâm sản để nuôi sống mình, từ những món ăn đơn giản, những loại bánh
cổ truyền đến những loài thuốc quý đều có sự hiện diện của cây rừng. Nó
không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa trong đời sống mà nó còn chứa đựng ở đó
những bản sắc văn hóa riêng của từng dân tộc, từng vùng miền. Do đó lâm sản
ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước và địa
dân phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên đạc biệt là các loài cây thuốc
có vai trò rất quan trọng. Hiện nay với sự gia tăng dân số, người dân khai thác
lâm sản một cách bừa bãi làm chúng bị suy giảm trầm trọng, nhiều loài cây
đang đứng trước nguy cơ biến mất khỏi địa phương, việc kiếm tìm các, loài cây
thuốc ngày một khó khăn hơn. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của
nhà trường, của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn tôi
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số loài cây thuốc của dân tộc người Dao
sử dụng cho chữa bệnh thông thường trong cuộc sống tại bản Cáo – xã Vũ
3
Chấn – Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng - huyện Võ
Nhai – tỉnh Thái Nguyên”, để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn,
phát triển nguồn cây thuốc có giá trị và kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của
người dao
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định được những loài thực vật được nhân dân khai thác, sử dụng làm
thuốc.
- Tìm hiểu, đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng thực vật rừng làm
thuốc ở địa phương.
- Xác định được nguồn gốc của các loài cây thuốc.
- Xác định được nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây làm thuốc.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Phát hiện được từ cộng đồng các bài thuốc, cây thuốc dân gian dung để trị các
loại bệnh thường gặp trong cuộc sống.
- Nhằm tìm hiểu một số bài thuốc gia truyền và những kinh nghiệm chữa bệnh
của đồng bào dân tộc Dao từ các loài cây hoặc các bộ phận của cây sử dụng an
toàn và có hiệu quả.
"Sản phẩm ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được
khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loại
thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh dầu, nhựa cây, keo dính, nhựa mủ,
tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã, nguyên liệu thô và củi, song
mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi”.
Gần đây, J.H.De Beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài gỗ
trong đó có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” tháng 7/2000
là một ấn phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”, đã đưa ra định
nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau:
“Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products) bao gồm các nguyên liệu
có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con
người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta
nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản
phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, mây song, gỗ nhỏ và
sợi”.
Hội nghị do FAO (Tổ chức Lương nông thế giới) tổ chức vào tháng 6 năm
1999 đã đưa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau:
“Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật,
khác gỗ được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”.
Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “Lâm sản ngoài gỗ bao
gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ
6
rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn
ở tất cả các hình thái của nó”.
Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng
tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loài
Nông lương thế giới – khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài
gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người
dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm
nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng núi và bảo
tồn phát triển tài nguyên rừng. Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ
tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái
Lan. Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người,
xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm năng phát
triển của thảo quả (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [12].
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S. de
Padua, N. Bunyapraphatsara và R.H.M.J. Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu
về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến
đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật
học và sinh thái học của thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống,
trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo
quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [12].
Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.00070.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh
trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá
của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát
triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá. Theo báo cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển
có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc
qua các chất chiết xuất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [11].
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho sự phát
triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng. Một số vùng cao lại có khí
hậu á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát. Đặc biệt là
nước ta có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ
cho đồng bào nhân dân sống gần đố mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì
việc cứu chữa tại chỗ là rất cần thiết và cấp bách nhất.
cuốn “Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài. Trên
3/4 cây trong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng.
Kết quả điều tra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ cây
làm thuốc thường chiếm tỷ lệ rất cao (Viện Dược Liệu, 2002) [16].
Trong những năm qua, chỉ riêng ngành y học dân tộc cổ truyền nước ta
đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm
9
1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng tới 20.000 tấn
dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây. Nhu cầu cho công nghiệp
chế biến dược phẩm, mỹ phẩm, hương phẩm cần khoảng 20.000 tấn. Ngoài ra
còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô. Việc khai thác liên tục,
không có kế hoạch, không hợp lý đã đặt hàng trăm loài cây thuốc trước hoạ
tuyệt chủng (Viện Dược liệu, 2002) [17].
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ
rê, củ của một số loài Bình vôi (Stephania spp) thì việc khai thác chúng đã được
tiến hành ồ ạt. Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ
rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà
trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin
không đáng kể. Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên
liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi đã trở nên rất
hiếm. Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài thuộc chi Bình vôi
(Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam (Viện Dược Liệu,
2002) [16].
Khi nghiên cứu về trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán
rừng, Nguyên Ngọc Bình và cộng sự đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây
dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán,
bảo vệ, khoanh nuôi rừng. Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh
để làm thuốc. Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài cây
được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch
xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân... (Ninh Khắc Bản, 2003) [1].
Trong 2 năm 2004 - 2005 Ngô Quý Công và cộng sự tiến hành điều tra
việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam
Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý
nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại. Đề tài được
Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt
Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần
quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rê, củ
làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến
sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc. Vì vậy,
việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng
tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương để giảm áp
lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra
11
những giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển (Ngô Quý Công,
2005) [6].
Chi Chè đắng (llex Latifonia) trên thế giới có khoảng 400 loài đây là cây
bản địa, mọc ở nhiều địa phương phía Bắc nước ta và có nhiều triển vọng trở
thành cây có giá trị kinh tế lớn vì là cây đa dụng, vừa làm nước uống giải khát,
vừa làm thuốc. Ở Việt Nam, Chè đắng được sử dụng trong dân gian làm chè
uống và chè thuốc. Người địa phương ở những vùng có Chè đắng mọc cũng
cho rằng Chè đắng có nhiều tác dụng quý như trên. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
chưa có nghiên cứu một cách hệ thống để xác định chính xác tác dụng y học
của Chè đắng (Cao Văn Hùng, 2005) [7].
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện
10ha, cây trồng được chăm sóc bảo vệ và sinh trưởng phát triển bình thường,
đã có đông đảo người dân tộc Xê Đăng ở xung quanh núi Ngọc Linh tham gia
tích cực vào việc trồng sâm (Lê Thanh Sơn, 2006) [9].
Tổ thành loại thực vật ở Vườn quốc gia Tam Đảo rất phong phú, trong đó
có rất nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa trong khoa học và đời
sống như cây lấy gỗ, cây làm rau, cây ăn quả, cây làm thuốc chữa bệnh và bồi
dưỡng sức khoẻ cho nhân dân,... Từ xưa tới nay nhân dân trong vùng đã khai
thác và sử dụng những nguồn tài nguyên quý giá từ rừng để phục vụ đời sống.
Đến nay nhu cầu sử dụng ngày càng lớn, do vậy việc khai thác đã trở nên bừa
bãi, không hợp lý gây mất cân bằng sinh thái, thậm chí dẫn tới một số loại cây
có nguy cơ bị huỷ diệt. Kết quả nghiên cứu ở 6 xã cho thấy đã phát hiện và
thống kê được 361 loài cây thuốc. Căn cứ vào ý nghĩa của các loài cây cần
được gây giống, bảo tồn và phát triển ở vườn cây mẫu có diện tích 1 ha. Ngoài
ra ở các xã thuộc vùng đệm Vườn quốc gia cũng đã xây dựng được các mô
hình trồng cây thuốc ở quy mô hộ gia đình góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên
quý giá này. Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cây thuốc đáp ứng được nhu cầu
hiện nay và sau này cần chú ý song song giữa việc khai thác trong tự nhiên
đảm bảo tái sinh với việc nghiên cứu gây trồng các loại cây làm thuốc (Vườn
quốc gia Tam Đảo, 2000) [19].
Nguyên Tập và cộng sự đã tiến hành khảo sát, thu thập các loài cần được
ưu tiên bảo tồn, dựa trên các tiêu chí: loài có ranh giới, phạm vi phân bố hẹp và
số lượng cá thể ít hoặc loài tiêu biểu cho một dòng tiến hóa, có mức độ khác
biệt cao về di truyền. Trong số 134 loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng ở
nước ta, nhóm nghiên cứu đã phân cấp mức độ ưu tiên theo ba nhóm. Nhóm
cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như: Ba gạc hoa đỏ, Sâm vũ điệp, Bình vôi,
Hoàng liên...Nhóm nguy cấp (EN) có 42 loài. Đa số các loài như sâm Ngọc
13
Miers (Cyclea wal-lichii Diels; C.cliiata Cb) thuộc họ menispermaceae Juss. Ở
Miền Nam, Sương Sâm có tên gọi là dây sâm hay sâm lông. Tất cả các phần của
14
dây Sương Sâm đều có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Phổ biến
nhất là việc sử dụng lá (đôi khi cả dây) của dây Sương Sâm để chế biến thành một
loại nước giải khát rất thông dụng ở vùng núi nông thôn miền Nam Việt Nam.
Trong nghiên cứu “Trồng Sương sâm từ hạt, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” Lưu
Hồng Trường đã chỉ ra: cách thu hoạch và bảo quản hạt Sương Sâm để làm giống,
một số ưu điểm và nhược điểm của hai phương pháp trồng Sương Sâm trồng từ rê
và trồng từ hạt, canh tác dây Sương Sâm và tác động đến tài nguyên thiên nhiên
(Lưu Hồng Trường, 2005) [15].
Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà
Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây
Chè đắng mọc tại Cao Bằng. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5
nhóm chất: Saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, carotenoid và các axít hữu cơ. Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ
lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ( Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006)
[14].
Theo Nguyên Văn Tập trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây
thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử
dụng và kinh tế. Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế)
đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và
307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó, trên
90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng.
Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế
cao. Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua,
cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam
đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:
thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả chữa bệnh lại rất cao.
Thái Nguyên cũng là tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là
huyện Võ Nhai nơi có dân tộc người Dao sinh sống nên đây cũng là nơi lý
tưởng cho các nghiên cứu về kiến thức bản địa trong đó có kiến thức sử dụng
cây thuốc và bài thuốc từ thiên nhiên.
2.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội Bản Cáo - Vũ Chấn – huyện Võ
Nhai - tỉnh Thái Nguyên
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Bản Cáo (thuộc xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) nằm
16
ở trung tâm Khu bảo tồn Thiên nhiên thần Sa - Phượng Hoàng (hình 2.1) có
tổng diện tích khoảng 203 ha, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 300 m.
Bản nằm về hướng đông - bắc của thành phố Thái Nguyên, thời gian tính từ
thành phố trung tâm của tỉnh đến bản Cáo, đi bằng ôtô, mất khoảng 1 tiếng
rưỡi đồng hồ. có ranh giới:
- Phía Bắc giáp với xã Nghinh Tường, Sảng Mộc huyện Võ Nhai
- Phía Tây giáp xã Thượng Nung huyện Võ Nhai
- Phía Đông và phía Nam giáp bản Nà Cà xã Vũ Chấn
2.3.1.2. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
Bản Cáo nằm trong vùng lõi của KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, diện
tích của khu bảo tồn và của bản chủ yếu là núi đá cao, núi đất xen kẽ thuộc
cung núi đá vôi Bắc Sơn. Địa hình núi đá có độ cao trung bình 600 - 700m, độ
dốc 350 - 450, núi đất chủ yếu là thấp dưới 600m, độ dốc trung bình 15 0 - 200.
Vùng trũng kiến tạo giữa núi đất và núi đá tạo thành lũng canh tác 1 hoặc 2 vụ
(Lũng Đắng). Tuy nhiên, diện tích đất canh tác rất ít so với tổng diện tích của
bản. Dưới đây là bảng tổng hợp về các loại đất chủ yếu ở bản Cáo:
II. Đất rừng
62,30
30,69
83,70
41,23
1. Đất núi đá
81,70
40,25
2. Đất khác
2,00
0,98
203
100
III. Đất chưa sử dụng
Tổng
1800 - 2000mm
- Đô ẩm trung bình
86%
- Độ cao so với mực nước biển
300 - 400 m
- Mùa trong năm
Mưa, khô
- Độ che phủ rừng
43%
(Nguồn: Ban địa chính xã Vũ Chấn)
* Bản đồ địa điểm nghiên cứu
18
Địa điểm nghiên
cứu
Bản
Cáo
Trạm kiểm lâm
Nghinh Tường
BQL KBT Thần Sa - Phượng
Hoàng
Hình 2.1: Địa điểm khu vực nghiên cứu
2.3.2. Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Đặc điểm dân số và lao động
Nhà ở nằm rải rác trong bản, cách đường chính từ trung tâm xã Vũ Chấn
Bảng 2.3: Cơ cấu loài cây trồng chủ yếu và năng suất bình quân
STT
Loài cây trồng
Năng suất bình quân (tấn/ha)
1
Lúa nương
2,7
2
Lúa nước (1 vụ)
3,2
2
Sắn
6,3
3
Ngô
1,6
4
Khoai sọ
Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc: 38,651 tấn
Bình quân lương thực đạt: 309,2 kg/người/năm
(Theo số liệu điều tra tháng 02/2011)
Qua bảng 2.3 cho thấy, loài cây trồng chủ yếu của người dân ở đây là lúa
nương, ngô, sắn, khoai sọ và 1,2 ha lúa 1 vụ. Năng suất các loại cây trồng như
sau: lúa nương 2,7 tấn/ha, lúa nước (1 vụ) 3,2 tấn/ha, sắn là 6,3 tấn/ha, ngô là
1,6 tấn/ha, khoai sọ chỉ có một số ít người dân trồng. Năng suất bình quân các
loài cây trồng chính còn thấp, điều này cho thấy trình độ thâm canh của người
dân còn thấp. Mức bình quân lương thực thấp hơn so với bình quân của cả xã
vật nuôi dưới gầm nhà sàn, theo một số người dân cho biết, nuôi như thế sẽ
tiết kiệm được tiền làm chuồng trại. Phần lớn người dân còn chăn thả tự do
trong rừng, việc phòng chống dịch bệnh hàng năm chưa được chú ý. Vì vậy,
sản lượng đạt thấp, thu nhập từ chăn nuôi không cao.
b. Tình hình sản suất lâm nghiệp
+ Tình hình giao khoán đất rừng: Hiện khu bảo tồn có một số xã đã thực
hiện giao đất rừng cho người dân quản lý như Thần Sa, Phú Thượng, Cúc
Đường. Còn ở Vũ Chấn nói chung và Bản Cáo nói riêng rừng và đất rừng vẫn
chưa được giao đến hộ dân quản lý. Do diện tích rừng ở đây chủ yếu là núi đá,
địa hình hiểm trở, độ dốc lớn thuộc vùng bảo vệ nghiêm ngặt. Đây cũng là khó
khăn cho công tác quản lý tài nguyên rừng ở đây.
+ Tình hình quản lý bảo vệ và sử dụng TNR
Hạt kiểm lâm và ban quản lý khu bảo tồn đã có những đợt kiểm tra,
kiểm soát, ngăn chặn tình trạng khai thác và vận chuyển trái phép lâm sản.
Song do địa bàn hoạt động của bọn lâm tặc rộng, và quá xa do đó mà việc quản
lý gặp không ít khó khăn. Tình hình khai thác lâm sản ngoài gỗ không hợp lý
ảnh hưởng rất lớn đến mức độ đa dạng sinh học tại khu vực..
2.3.2.3. Thông tin, văn hoá, giáo dục
21
+ Tổng số phương tiện nghe nhìn: 23 tivi, 17 đài, 5 đầu đĩa. Nhiều hộ gia
đình còn chưa có phươg tiện nghe nhìn: Đài, tivi…. Không được tiếp cận với
phương thức làm ăn kinh tế mới, không tiếp thu được nền văn hóa các vùng
miền.
+ Bản chưa có nhà văn hóa để bà con sinh hoạt cộng đồng. Do các hộ
dân sống phân tán, rải rác trong rừng do đó việc tuyên truyền, thông tin liên lạc
còn gặp rất nhiều khó khăn.
+ Giáo dục: có khoảng trên 20 người chưa từng đi học, đa số là hoc hết
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra có những nội dung nghiên cứu sau:
- Thống kê những bài thuốc, loài cây thuốc được người Dao sử dụng
- Điều tra, mô tả hình thái, chụp ảnh mẫu, định danh các loài các loài cây
- Hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc của người Dao
- Xác định nguồn gốc của những loài thực vật dùng làm thuốc trong các bài
thuốc.
- Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển những loài cây này
3.4. Phương pháp nghiên cứu
- Chuẩn bị: Giấy bút, bảng hỏi và liên hệ với chính quyền ở địa điểm thực tập.
3.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp
* Phương pháp thu thập số liệu.
- Kế thừa các tài liệu cơ bản:
Tham khảo, kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã, các báo cáo về tài nguyên rừng,
về công tác bảo vệ rừng ở địa phương, tài liệu , tài liệu báo cáo nghiên cứu,
luận văn tốt nghiệp, thông tin trên các trang web ..v.v. nghiên cứu về cây thuốc
- Phương pháp chuyên gia: Phân loại thực vật được giám định của các giáo
viên về thực vật sử dụng làm thuốc của trường Đại học Nông Lâm Thái
23
Nguyên và dựa trên các tài liệu về phân loại trong và ngoài nước hỗ trợ và thực
hiện
- Phương pháp PRA
Sử dụng các công cụ: lược sử thôn bản, bản đồ tài nguyên khu vực,
phỏng vấn bán cấu trúc, đi lát cắt
Phỏng vấn bán cấu trúc: Dùng các câu hỏi mở trong bộ câu hỏi lập sẵn
để thu thập thông tin (như thế nào? ở đâu? Tại sao? Khi nào?). Trước tiên, xây
lớn.
Cùng người dân có kinh nghiệm đi chụp ảnh các mẫu cây thuốc, mô tả
đặc điểm hình thái, phân bố sinh cảnh. Rồi ghi vào bảng sau
Bảng 3.4.1. Đặc điểm các loài cây sử dụng làm thuốc trên tuyến điều tra
TT
Tên cây
Đặc điểm hình thái
Hình ảnh
Thực tế trong quá trình điều tra tôi thấy rằng những đối tượng nghiên cứu
phân bố rất rải rác, trữ lượng ít. Do vậy, được sự chỉ dẫn của người dân địa phương,
các thầy lang và tôi đã đi theo các tuyến có mặt của các loài thực vật đó để kiểm
chứng những thông tin thu thập được qua phỏng vấn. Chúng tôi thảo luận xác định
tên địa phương, tên phổ thông sau đó chúng tôi dùng các tài liệu tra cứu tên phổ
thông và tên khoa hoc, họ của các loài cây thuốc
Trên tuyến điều tra số liệu thu thập thông nhất và ghi vào bảng mầu:
Bảng 3.4.2. Các thông tin về các loài cây sử dụng làm thuốc trên tuyến điều tra
TT
Tên
phổ
thông
Tên địa
phương
Nơi
phân
bố
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Các loài cây thuốc chủ yếu được người Dao khai thác và sử dụng.
Đã bao đời những người Dao tại Bản cáo xã Vũ Chấn có cuộc sống gắn
bó với rừng. Nơi đây được thiên nhiên ưu đãi có núi đá vôi , núi đất nên hệ
thực vật rất phong phú về số lượng, chủng lơại có thể cung cấp quanh năm cho
nhu cầu con người nơi đây. Họ Thường xuyên sử dụng những sản phẩm sẵn có
trong thiên nhiên để phòng và chữa bệnh, đồng thời đã tích lũy cho mình
những tri thức quý giá về cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc để chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe. Chữa bệnh bằng thảo dược có nhiều ưu điểm như
hiệu quả cao lại rẻ tiền, dê kiếm, dê sử dụng và đặc biệt là ít gây ra các tác
dụng phụ cho người bệnh.
Trên cơ sở đi điều tra sử dụng thuốc của các hộ gia đình dân tộc Dao trong
Bản Cáo.
Bảng 4.1.1. Bảng kết điều tra hộ sử dụng cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
Stt
hộ
gia
đình
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
Nữ
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x