Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính đa dãy trong chẩn đoán ung thư buồng trứng - Pdf 37

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
Chương 1..............................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................................3
1.1. ĐẠI CƯƠNG BUỒNG TRỨNG.................................................................................................3
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu.......................................................................................................... 3
1.1.2. Đặc điểm mô học.............................................................................................................. 4
1.1.3 Sinh lý buồng trứng........................................................................................................... 5

1.2. GIẢI PHẨU CLVT BUỒNG TRỨNG...........................................................................................5
1.3. UNG THƯ BUỒNG TRỨNG....................................................................................................6
1.3.1. Dịch tễ.............................................................................................................................. 6
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh.............................................................................................................. 8
1.3.3. Mô bệnh học các khối u buồng trứng.............................................................................10
1.3.4. Lâm sàng......................................................................................................................... 13

1.4. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BUỒNG TRỨNG.............................................................................14
1.4.1. Siêu âm........................................................................................................................... 14
1.4.2. Cắt lớp vi tính................................................................................................................. 15
1.4.3. Cộng hưởng từ............................................................................................................... 15
1.4.4. Chất chỉ điểm huyết thanh.............................................................................................16

1.5. GIÁ TRỊ CỦA CLVT ĐA DÃY TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BUỒNG TRỨNG.......................17
1.5.1. Ưu điểm của CLVT đa dãy............................................................................................... 17
1.5.2. Hạn chế của CLVT đa dãy................................................................................................ 18
1.5.3. Đặc điểm ung thư buồng trứng trên CLVT......................................................................18
1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU................................................................................................... 21

CHƯƠNG 2........................................................................................................23
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................23
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU...................................................................................................23

những có chức năng nội tiết đa dạng, buồng trứng lại có nguồn gốc mô học và
giải phẫu tổ chức phức tạp, vì thế bệnh lý buồng trứng khá phong phú, trong đó
khối u buồng trứng là một bệnh lý tương đối thường gặp ở phụ nữ.
Trên toàn thế giới, Ung thư buồng trứng là ung thư đường sinh dục
thường gặp thứ ba sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung, và là nguyên nhân gây tử
vong đứng hàng thứ tám trong những nguyên nhân tử vong vì ung thư ở phụ nữ.
Theo số liệu thống kê năm 2012 của WHO có 238.719 trường hợp mắc ung thư
buồng trứng và có 151.917 phụ nữ tử vong. Ở Mỹ năm 2006 có 20180 trường
hợp ung thư buồng trứng được chẩn đoán và 15310 phụ nữ tử vong, năm 2015
có 22280 trường hợp mắc ung thư buồng trứng và 14210 phụ nữ tử vong Có thể
thấy nó là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu bất chấp những tiến bộ trong chẩn
đoán và điều trị.
Ung thư buồng trứng thường thầm lặng, triệu chứng giai đoạn đầu thường
không rõ ràng, buồng trứng lại nằm sâu trong hố chậu nên khó phát hiện, đến
khi phát hiện thì thường ở giai đoạn muộn và rất khó điều trị, 70% bệnh nhân
đến khám vì tự sờ thấy khối u ở bụng. Hiện tượng này dẫn đến kết quả là khi
phát hiện mắc ung thư buồng trứng thì có đến khoảng 2/3 bệnh nhân đã ở giai
đoạn cuối, đa số là đã lan sang tử cung, và các cơ quan khoang chậu, vì vậy tỷ lệ
bệnh nhân có thể sống thêm 5 năm ở giai đoạn III chỉ có 30%, giai đoạn IV là
dưới 10%. Ðiều này cho thấy tầm quan trọng của bệnh. Ung thư buồng trứng có
xu hướng tăng, diễn biến lại phức tạp, chẩn đoán thường muộn, nên việc chọn
lựa phương pháp điều trị cũng gặp nhiều khó khăn. Vì phẫu thuật buồng trứng
cho dù là một thủ thuật tương đối nhưng cũng liên quan đến những hậu quả có
hại lâu dài. Phẫu thuật gây dính quanh vòi tử cung là yếu tố thuận lợi cho nhiễm
1


trùng và ứ mũ vòi tử cung. Cắt buồng trứng một bên có thể rút ngắn thời kỳ sinh
sản của phụ nữ bằng cách giảm dự trữ noãn trong buồng trứng. Kết quả cắt
buồng trứng hai bên liên quan tới bệnh tật và tử vong do mãn kinh sớm, bao

1.1.1. Đặc điểm giải phẫu
Có hai buồng trứng, một phải một trái nằm áp vào thành bên chậu hông,
sau dây chằng rộng, có màu hồng nhạt. Bề mặt buồng trứng thường nhẵn nhụi
cho tới khi dậy thì, sau đó ngày càng sần sùi vì hàng tháng một trứng tiết ra từ
một nang trứng vào vòi tử cung làm rách vỏ buồng trứng và tạo thành những vết
sẹo trên mặt buồng trứng.
Buồng trứng có hai mặt: mặt trong và mặt ngoài. Mặt trong lồi, tiếp xúc
với các tua của phễu vòi tử cung và các quai ruột. Mặt ngoài nằm áp vào phúc
mạc của thành bên chậu hông trong một hố lõm gọi là hố buồng trứng. Hố
buồng trứng được giới hạn do các thành phần nằm ngoài phúc mạc đội lên. Phía
trước dưới là dây chằng rộng, phía trên là động mạch chậu ngoài, phía sau là
động mạch chậu trong và niệu quản. Mặt ngoài buồng trứng có một vết lõm gọi
là rốn buồng trứng là nơi mạch máu và thần kinh đi vào buồng trứng.
Buồng trứng có hai bờ: bờ tự do và bờ mạc treo buồng trứng. Bờ tự do
quay ra phía sau và liên quan với các quai ruột còn bờ mạc treo thì có mạc treo,
treo buồng trứng vào mặt sau dây chằng rộng. Buồng trứng có hai đầu: đầu vòi
và đầu tử cung. Đầu vòi tròn hướng lên trên và là nơi bám của dây chằng treo
buồng trứng còn đầu tử cung nhỏ hơn quay xuống dưới, hướng về phía tử cung
và là nơi bám của dây chằng riêng buồng trứng.
Buồng trứng được treo lơ lửng trong ổ phúc mạc nhờ một hệ thống dây
chằng. Ngoài mạc treo buồng trứng còn có dây chằng treo buồng trứng và dây
chằng riêng buồng trứng. Có thể có một dây chằng rất ngắn gọi là dây chằng vòi
- buồng trứng bám từ đầu vòi của buồng trứng tới mặt ngoài của phễu vòi tử
cung.

3


Hình 1.1 Hình ảnh minh họa giải phẩu buồng trứng […]
Động mạch chủ yếu là động mạch buồng trứng tách ra từ động mạch chủ

được nhìn thấy dễ dàng.
Các đặc điểm để xác định buồng trứng:
• Hình thái buồng trứng
• Mối liên quan giữa buồng trứng và niệu quản
• Nguồn gốc động mạch và tĩnh mạch buồng trứng
• Các dây chằng.
Về hình thái, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, hình dáng và kích thước
buồng trứng thay đổi đáng kể, có tỷ trọng mô mềm, bờ có thể nhẵn hoặc không,
bình thường ngấm thuốc không đáng kể [MDCT bụng]. Tuổi mãn kinh buồng
trứng thường teo nhỏ. Trước khi có kinh nguyệt, bình thường có thể có nang
<9mm, còn tuổi thanh thiếu niên có thể có nang > 9mm và
sau mãn kinh chiếm tỷ lệ cao nhất ở tuổi từ 65-74 tuổi, nguy cơ bị ung thư
buồng trứng trong một đời người là khoãng 1,4% và nguy cơ một đời người bị
tử vong do ung thư buồng trứng là 1% . Ở Việt Nam Trong 4 năm từ năm 20002003 bệnh viện Từ Dũ đã phẩu thuật 10.494UBT, trong đó có 9.909UBT lành
tính (94,4%) và 585 UBT ác tính (5,6%) (Nguyễn Thị Ngọc Phượng). một
nghiên cứu khác của(Trần thị Lợi )cũng tại bệnh viện từ Dũ từ 2003- 2005 mỗi
năm có khoảng 3000 trường hợp khối UBT được phẩu thuật .U lành tính chiếm
khoảng 95% trong đó nhiều nhất là u bọc bì (40%), kể đến là u lạc nội mạc tử
cung(29%), u bọc dịch trong (24%), u bọc dịch nhầy (9%), u ác tính chiếm
khoảng 5% tổng số khối UBT, trong số đó,carcinome bọc dịch nhầy chiếm nhiều
7


nhất(28%),carcinome bọc dịch trong chiếm (23%), u xoang nội bì: 12,8%,
carcinome dạng lạc nội mạc tử cung: 12,1%, u quái không trưởng thành:
10%.Tất cả các trường hợp UBT ác tính đều được gủi sang khoa ung thư phụ
khoa để tiếp tục điều trị bằng hoá chất.
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh
Ngày nay, nguyên nhân ung thư buồng trứng vẫn chưa được biết, nhưng có một
số yếu tố liên quan đã được thừa nhận. Sự phóng noãn lặp lại nhiều lần của
buồng trứng liên quan đến sự phát triển ung thư. Phóng noãn đi kèm với sự phá
vỡ tế bào mầm gây hoạt hóa cơ chế sửa chữa tế bào. Sự phóng noãn lặp đi lặp
lại có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phá hủy cấu trúc gen gây nên đột biến,
góp phần tham gia hình thành và phát triển của u.
Những phụ nữ không phóng noãn mạn tính, sinh đẻ nhiều, có tiền sử cho
con bú là những yếu tố bảo vệ. Thai nghén làm giảm nguy cơ 13% - 19% đối
với mỗi lần mang thai. Phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang có thể làm
tăng nguy cơ ung thư buồng trứng 2,5 lần. Sử dụng thuốc ngừa thai đường
uống có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng đến 50% đối với người sử
dụng trên 5 năm.
Tuổi được xem như là một yếu tố nguy cơ của ung thư buồng trứng. Ung

nữ giới như lạc nội mạc tử cung và các ung thư phụ khoa nhưng chưa có bằng
chứng thuyết phục cho các tác dụng nguy hại buồng trứng của GnRH được tìm
thấy [121].
Các yếu tố chuyển tiếp Snail và Slug là quan trọng đối với sự di chuyển
các tế bào trong quá trình phát triển và di căn khối u. Các tác giả nhận thấy vai
trò đặc trưng của các yếu tố chuyển tiếp Snail và Slug trong quá trình di căn
UTBT và sự sống còn của tế bào thông qua trung gian của sự chuyển tiếp biểu
mô-trung mô [78].
Một nghiên cứu cho thấy sự thay đổi phôi có thể là nguyên nhân chính
của UTBT. Phát hiện này gợi ý rằng sự thay đổi phôi có thể là nguyên nhân
chính của UTBT và tiếp tục các sự kiện biến đổi thân và tế bào gốc xác định sự
xâm nhập gia tăng đặc trưng liên quan đến bệnh UT [39].
9


Phòng bệnh UTBT bằng cách cắt 2 BT ở người có nguy cơ cao khi tiền sử
gia đình có người bị UTV, UTBT. Trong mẫu BT ở những phụ nữ này, lớp tế bào
biểu mô với nguồn gốc của biểu mô BT có hiện tượng thay đổi về hình thái học,
mô hình phát triển và sự phân biệt có nét đặc trưng cho người ta liên tưởng và
tiên đoán trước UTBT [65], [99], [113].

Hình 4:
1.3.3. Mô bệnh học các khối u buồng trứng
Giải phẫu bệnh có thể giúp phân loại chính xác khối u buồng trứng,
chẩn đoán phân biệt lành tính hay ác tính, giúp lựa chọn phương pháp điều trị
thích hợp. Một số loại u buồng trứng thường gặp:
- Các u có nguồn gốc biểu mô.
- Các u tế bào mầm của buồng trứng.
- Các u dây sinh dục đệm của buồng trứng.
- Ung thư buồng trứng thứ phát: ung thư di căn xuống buồng trứng

+ U quái không trưởng thành: cấu tạo gồm các mô xuất phát từ 3 lá thai
và được chia thành 4 độ đựa trên lượng mô non. Độ càng cao, tiên lượng càng
xấu, độ 0 được xem là u quái trưởng thành.
+ U quái trưởng thành: cấu tạo gồm những mô thuần thục và bao gồm
những loại sau: u quái trưởng thành dạng nang và u quái trưởng thành gồm 1
loại mô. U quái trưởng thành dạng nang xuất phát từ 3 lá thai nhưng thành phần
lá thai ngoái chiếm ưu thế, có thể hóa ác trong 2% các trường hợp, là loại hay
11


gặp nhất chiếm khoảng 20% các u buồng trứng. U quái trưởng thành gồm một
loại mô điểm hình là loại u giáp buồng trứng. U được cấu tạo hoàn toàn bởi mô
tuyến giáp, hiếm gặp, chiếm 2,7% các u quái.
- Các u tế bào mầm khác:
+ U nghịch mầm là loại u ác tính, gặp ở tuổi trẻ dưới 30 tuổi và có thể
gặp ở trẻ em, thường có cả 2 bên buồng trứng.
+ U xoang nội bì: u ác tính, thường gặp ở người trẻ, trung bình 17 tuổi.
+ Ung thư biểu mô phôi: u hiếm gặp, ác tính [14], [39].
1.3.3.3. Các u dây sinh dục đệm của buồng trứng
- U xuất phát từ dây giới bào hoặc từ mô đệm của dây sinh dục nguyên
thủy, chiếm 6% các u buồng trứng, gồm 3 loại: u hạt - vỏ bào, u xơ, u tể bào
Sertoli và Leydig.
- U hạt - vỏ bào gồm u hạt bào, u vỏ bào và u sợi bào đơn thuần hay phối
hợp với nhiều mức độ khác nhau.
+ U hạt bào (ung thư biểu mô tế bào hạt, u nang trứng) xuất phát từ tế
bào hạt của u nang trứng, thường tiết ra estrogen, có 2 loại mô học khác nhau: u
tế bào hạt ở người lớn tuổi và hạt bào ở tuổi thiếu niên, hai loại u này có hình
ảnh mô học khác nhau.
+ U vỏ bào là sự phát triển thành u của tế bào vỏ quanh nang Graaf,
thường lành tính, hầu như không có vỏ bào ác tính. Thường gặp ở phụ nữ mãn

thành mỏng).
1.3.4.3. Triệu chứng toàn thân
Chỉ có khi u to bị chèn ép (khó thở, đau) u nội tiết (RL kinh, dậy thì sớm,
nam hay nữ tính hoá) hay đã ở giai đoạn tiến triển của u ác tính (gầy, hốc hác,
đau, mệt mỏi...).
Thường người ta dựa vào một số triệu chứng để giả định là ác tính:
- Tuổi: Trẻ hay sau mãn kinh.
- Suy sụp nhanh.
- Rối loạn kinh.
- Cổ chướng.
- Khối u Không di động.
13


- Đau.
- Sờ thấy các khối u khác ngoài u chính.
1.4. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BUỒNG TRỨNG
Nói chung vai trò của khám vùng chậu trong chẩn đoán ung thư buồng trứng vẫn
còn nhiều tranh cãi, kết quả thay đổi khác nhau theo từng nghiên cứu với các
tiêu chuẩn khác nhau. Nguyên nhân chính là triệu chứng giai đoạn đầu thường
thầm lặng, không rõ ràng, và chưa có dấu hiệu đặc trưng nào là phù hợp để chẩn
đoán phân biệt giữa u lành tính và u ác tính. Vì thế cận lâm sàng là phương tiện
hỗ trợ cần thiết để giúp cho chẩn đoán xác định.
1.4.1. Siêu âm
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh được sử dụng thông dụng nhất
hiện nay để chẩn đoán khối u buồng trứng, đặc biệt giúp phân biệt giữa lành tính
và ác tính. Hiện nay có các loại siêu âm để chẩn đoán khối u buồng trứng như:
siêu âm 2D (qua đường bụng và âm đạo), siêu âm 3D, siêu âm 4D và siêu âm
Doppler.
Siêu âm giúp phân biệt khối u ở buồng trứng hay tử cung. Siêu âm giúp

thuật chưa tối ưu. Các yếu tố khác cũng liên quan đến kết quả phẫu thuật không
tốt như: hạch lớn cạnh động mạch chủ bụng, khối u phát triển vào thành chậu và
niệu quản. CLVT dự đoán sự tối ưu trong phẫu thuật có độ nhạy 79% và độ đặc
hiệu 75%. Tuy nhiên độ chính xác khác nhau đáng kể giữa các tổ chức. Đối với
dự đoán chính xác giai đoạn, độ nhạy và độ đặc hiệu của CLVT là 50% và 90%
[26].
1.4.3. Cộng hưởng từ
Cộng hưởng từ ngày càng được sử dụng ở những bệnh nhân có khối u
buồng trứng do có độ phân giải cao hơn CLVT và siêu âm. Chuổi xung T1W và
T2W quan trọng trong đánh giá giải phẩu vùng chậu và đặc trưng của mô. Chuổi
xung STIR giúp chẩn đoán phân biệt tổn thương chứa mỡ và xuất huyết. T1 fat
sat có tiêm chất tương phản phát hiện các tổn thương đặc trưng nhờ gia tăng
mức độ tương phản của các nốt và vách bên trong khối u [41]. Mô ác tính hạn
chế khuếch tán trên chuỗi xung DWI [30].

15


Đặc điểm của các khối u buồng trứng được mô tả trong bảng dưới đây:

Hình 1.5. Đặc điểm một số khối u buồng trứng trên cộng hưởng từ [48]
1.4.4. Chất chỉ điểm huyết thanh
Các chất chỉ điểm huyết thanh CA 125 và HE4 thường được sử dụng
trong chẩn đoán và đánh giá tiến triển của ung thư buồng trứng. CA 125 là một
dấu ấn quan trọng trong phát hiện ung thư buồng trứng.
Khi nồng độ CA 125 trong ung thư buồng trứng tăng là bệnh tiến triển và
khi nồng độ CA 125 giảm là bệnh thoái triển, thông thường sau phẫu thuật nồng
độ CA 125 trở lại bình thường sau 3 tháng [y huế]. CA 125 tăng ở khoảng 80%
số phụ nữ bị ung thư buồng trứng và tăng khi lớn hơn 35U/mL, chỉ có 50 - 60%
bệnh nhân ung thư buồng trứng ở giai đoạn I tăng CA 125 do đó hạn chế khi phát

trong sự phân giai đoạn bệnh, đặc biệt là việc phát hiện dịch màng bụng, di căn
các cơ quan, và các hạch vùng chậu, hạch dọc động mạch chủ.
Siêu âm được xem là vượt trội hơn so với CLVT vì có thể quét ở cả hai
mặt phẳng ngang và dọc. Tuy nhiên, kĩ thuật tái tạo hai chiều hay ba chiều hiện
nay đã có trên MDCT. Sử dụng mặt cắt vành, mặt cắt dọc, kỹ thuật tái tạo đa
mặt phẳng (MPRs) được thực hiện bằng cách sử dụng nguồn dữ liệu thu được từ
mặt phẳng ngang giúp cho đánh giá toàn diện giải phẩu vùng chậu phức tạp.
Ngoài ra với khả năng tái tạo đa mặt phẳng, MDCT vượt trội hơn siêu âm trong
phát hiện khối u bám dính thành ruột, hạch sau phúc mạc và di căn phúc mạc.
17


Là phương thức lựa chọn cho những bệnh nhân không thể chụp MRI vì có
đặt máy tạo nhịp tim hoặc một dụng cụ kim loại trong cơ thể, và cho người có hội
chứng sợ phòng kín. Được chỉ định rộng rãi hơn và ít tốn kém hơn MRI [….]
1.5.2. Hạn chế của CLVT đa dãy
Hiện nay, CT, MRI, siêu âm và được sử dụng để phát hiện và phân giai
đoạn bệnh ác tính phụ khoa. Mỗi phương thức có những hạn chế riêng của mình,
và không phương pháp nào có thể thế chỗ giải phẫu bệnh như các tiêu chuẩn
tham chiếu. […]
Những hạn chế chung của CLVT như nhiễm xạ, các chống chỉ định, các
tai biến khi dùng thuốc cản quang .v.v..
Cũng như những u khác, CLVT chỉ đánh giá được những hạch về kích
thước và bất thường độ cản quang. Bệnh lý về hạch vùng chậu được định nghĩa
là hạch lớn hơn 15mm theo trục ngang, những hạch > 10mm theo chiều ngang
cần được nghi ngờ […]. Di căn hạch vi thể có thể bị sót nếu kích thước hạch nhỏ
hoặc bình thường trên CLVT. Cả CLVT và MRI đều hạn chế trong sự phân biệt
giữa hạch di căn và hạch tăng sản nếu có cùng kích thước và hình dạng CLVT
khó phân biệt hạch lớn lành tính hay ác tính Tuy nhiên có một số dấu hiệu gợi
hạch ác tính: Một hay nhiều hạch lớn riêng biệt; nhiều hạch lớn liên tục; các

một nghiên cứu CT và MRI, đặc điểm có chồi đã được tìm thấy ở 9% số u lành
tính, 67% của khối u giáp biên ác tính, và 38% các u ác tính.
3. Thành và hoặc vách dày >3mm
Ung thư nang tuyến (cystadenocarcinoma) chiếm 60% u nang buồng
trứng ác tính, thường có vách và thành. Nếu đứng riêng lẻ thì đây là một dấu
hiệu ít tin cậy vì còn có thể gặp trong bệnh lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng
(endometrioma), khối áp xe phức hợp, nang bọc màng bụng (peritoneal cysts),
và u lành tính như u nang tuyến xơ và u nang tuyến nhầy.
4. Cấu trúc hỗn hợp gồm một phần đặc và một phần nang, hoặc cấu trúc
dạng đặc chia thùy.

19


Đặc điểm khối u có phần đặc, không có thành phần mỡ, xơ là yếu tố dự
báo mạnh nhất của khối u ác tính. Ung thư nang tuyến (cystadenocarcinoma)
thường là cấu trúc hồn hợp nang và rắn, ít khi bị nhầm lẫn với các tổn thương
khác. Tuy nhiên các ung thư buồng trứng ít gặp khác như u Brenner, ung thư
biểu mô tế bào hạt… có thể xuất hiện chủ yếu là phần rắn.
5. Sự hiện diện của mạch máu khối u trên hình ảnh có tiêm thuốc cản
quang.
Tiêu chuẩn thứ cấp:
Giai đoạn đầu, ung thư buồng trứng được giới hạn trong buồng trứng.
Giai đoạn sau, vỏ khối u bị phá vỡ làm xâm lấn ra cấu trúc xung quanh.
Các vị trí xâm lấn tại chỗ hay gặp nhất: túi cùng trước và sau, đại tràng
sigma, mạc nối, ruột non, phúc mạc thành chậu, tử cung, vòi tử cung, dây chằng
rộng. Các tiêu chuẩn bao gồm:
1. Biến dạng đường bờ của tử cung.
2. ranh giới không đều hoặc không rõ giữa khối u với cơ tử cung.
3. Mất ranh giới mô bình thường giữa thành phần đặc của khối u và thành

là 97% và 91%.
Năm 2011, Nghiên cứu của Fatemeh Gatreh Samini và CS trên 95 ca có
chẩn đoán là u buồng trứng cho thấy MDCT 64 lát cắt phát hiện 70 ca (73,7%)
là ác tính với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính, âm tính và độ
chính xác lần lượt là 92,8%, 88,0%, 95,5%, 81,4% và 91,5%). Độ nhạy và độ
đặc hiệu của MDCT trong việc xác định xâm lấn tại chỗ tương ứng là 72,2% và
93,4%. Và độ nhạy, độ đặc hiệu của MDCT trong việc xác định di căn phúc
mạc, di căn gan là 81,8% và 93%. Đánh giá giai đoạn dự kiến đã được thống
nhất có ý nghĩa thống kê với các phẫu thuật (Cohen của Kappa (κ) = 0,891) và
kết quả mô bệnh học (κ = 0,858).
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng CT có thể đóng một vai trò quan trọng
trong việc mô tả khối u buồng trứng, nhấn mạnh đến giá trị của CT về sự phân
biệt lành tính hay ác tính so với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như
MRI hoặc US. Độ nhạy và độ đặc hiệu của CT xoắn ốc có tiêm thuốc cản quang
được báo cáo là 88-90% và 88-89% để phân biệt ác tính và lành tính khối u ở
21


phần phụ theo nghiên cứu của Zhang J và CS năm 2008. Các giá trị 89-91%
(độ nhạy) và 88-93% (độ đặc hiệu) là khi sử dụng MRI theo nghiên cứu của
Sohaib và CS năm 2003 và nghiên cứu của Guerra năm; trong khi các kỹ thuật
khác nhau của siêu âm có độ nhạy 35-99% với mức giá thấp hơn các đặc theo
nghiên cứu của Van Trappen và CS năm 2007.
Nghiên cứu của Tsili và CS khi so sánh MDCT và MRI cũng đã cho thấy
mặc dù các giá trị của MRI tốt hơn một chút so với MDCT nhưng điều này
không có ý nghĩa thống kê ( độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của MDCT và
MRI lần lượt là 90.5%, 93.7%, 92.9%; và 95.2%, 98.4%, 97.6%)

22





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status