THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ
trong trường Mầm non.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Lương.
Giới tính: Nữ.
Ngày tháng/ năm sinh: 05/ 8/ 1983
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Trường MN Cộng Hòa 1
Điện thoại: 0985 783 969.
4. Đồng tác giả ( nếu có ):
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Mầm non Cộng Hòa 1
Địa chỉ: Phường Cộng Hòa - Thị xã chí Linh - Tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 0320 3885 691.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm
sóc trẻ phải đảm bảo.
Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên phải có trình độ chuyên môn đạt
chuẩn, trên chuẩn trở lên, thường xuyên được tập huấn về phuơng pháp
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học, nâng cao trình độ năng lực quản lý,
chăm sóc, giáo dục trẻ thông qua nhiều kênh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Từ tháng 9/ 2015 đến tháng 02/ 2015.
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
( Ký, ghi rõ họ tên )
tốt hơn. Tôi đã mạnh dạn lựa chọn"Một số biện pháp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
cho trẻ trong trường Mầm non" để nghiên cứu và áp dụng sáng kiến từ thời
điểm tháng 9/2014 đến tháng 02/2015 tại trường Mầm non tôi đang công tác.
Để áp dụng sáng kiến cần có những điều kiện sau:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ công tác nuôi dưỡng,
chăm sóc trẻ phải đảm bảo.
2
- Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên phải có trình độ chuyên môn đạt
chuẩn, trên chuẩn trở lên, thường xuyên được tập huấn về phương pháp chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học, nâng cao trình độ năng lực quản lý, chăm
sóc, giáo dục trẻ thông qua nhiều kênh.
3. Nội dung sáng kiến:
Trong sáng kiến tôi đã chỉ ra một số hạn chế ở trường Mầm non của tôi.
Trên cơ sở đó tôi xây dựng 5 biện pháp mà tôi cho là thực thi như sau:
Biện pháp 1: Tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu về VSATTP - phòng
chống suy dinh dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường.
Biện pháp 2: Chỉ đạo xây dựng thực đơn phù hợp cho trẻ.
Biện pháp 3: Đảm bảo vệ sinh trong khi chế biến.
Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên giáo dục thói quen vệ sinh, văn minh cho
trẻ ở trường Mầm non.
Biện pháp 5: Tăng cường công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh
và cộng đồng.
* Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Các biện pháp mà tôi đưa ra đều đảm bảo tính mới, tính sáng tạo. Trên
thực tế giáo viên còn xem nhẹ việc nuôi dưỡng, chưa chú tâm về việc tham
khảo tài liệu và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Tôi xây dựng kế hoạch bổ sung cơ
sở vật chất, tài liệu phục vụ cho công tác bán trú. Có kế hoạch giúp giáo viên
nuôi nâng cao nhận thức về đảm bảo chất lượng và VSATTP, đảm bảo yêu cầu
lệ trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn tăng cao so với đầu năm, tỷ lệ trẻ SDD được đẩy
lùi nhanh chóng.
5. Đề xuất kiến nghị:
- Các cấp, ngành, gia đình hãy dành những điều kiện tốt nhất cho việc
chăm sóc sức khỏe trẻ em.
- Đối với nhà trường cần đi sâu vào chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc
làm mũi nhọn để góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
- Đối với Sở, Phòng Giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng đội
ngũ, thường xuyên mở các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, thực hành cho
cán bộ giáo viên, nhân viên về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
4
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, để tham gia vào các hoạt động
thì con người cần phải có sức khỏe. Đặc biệt là với trẻ em lứa tuổi Mầm non thì
sức khỏe lại vô cùng quan trọng hơn. Ở giai đoạn này cơ thể các em đang phát
triển mạnh, các cơ quan, chức năng tâm sinh lý đang dần được hoàn thiện.
Vì vậy, dành những điều kiện tốt nhất cho việc tăng cường nâng cao sức
khỏe, nâng cao chế độ dinh dưỡng, vệ sinh an toàn cho trẻ để mọi trẻ em đều
được phát triển tốt về thể chất, tinh thần, trí tuệ góp phần giảm tỷ lệ SDD ở trẻ
là một việc cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tỷ lệ trẻ SDD ở nước ta còn rất cao so với thế giới, do nền kinh tế phát
triển còn chậm, nhận thức trình độ dân trí ở nông thôn, miền núi, một số vùng
kinh tế khó khăn còn thấp, cuộc sống nhân dân nói chung và trẻ em nói riêng
còn thấp so với mức sống trung bình trên thế giới.
Với mục tiêu như vậy, bản thân tôi là một cán bộ quản lý bậc học Mầm
non phụ trách trực tiếp mảng chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường, tôi
3
16
10
giá
Chưa đạt
8
9
2
0
12
13
0
6
Nội
dung
11
12
13
14
15
16
17
18
7
Tự đánh
Đạt
7
20
10
8
6
8
Nhìn bảng tổng hợp kết quả khảo sát cho ta thấy tỷ lệ chưa đạt trên các
nhóm lớp còn khá cao, nhất là ở các nội dung 5 là thường xuyên rửa sạch tay
dưới vòi nước bằng xà phòng trước khi chia thức ăn cho trẻ không đạt ở 12/16
nhóm lớp hay ở các nội dung 6, 9, 10, 11, 12, 17 các nhóm lớp không đạt các
nội dung này là rất cao. Cho nên đa số trẻ chưa có nền nếp, thói quen, hành vi
văn hóa trong ăn uống và sinh hoạt. Trẻ dễ mắc phải một số bệnh do thời tiết
thay đổi, theo mùa, sức khỏe kém và đi học không đều, ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường.
- Đa số các bậc phụ huynh và cộng đồng vẫn chưa có kiến thức nuôi con
theo khoa học hay tùy tiện và còn chiều theo ý thích của trẻ. Đa số phụ huynh
chưa tích cực phối kết hợp cùng nhà trường và giáo viên trong việc chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Do vậy, tỷ lệ SDD tại thời điểm tháng 9/2014 tôi đã tổng hợp như sau:
Số
Cân nặng
lượng Cân nặng
SDD
bình
Độ tuổi
trẻ
độ 1
(TL%)
(TL%)
71(94,7) 4(5,3)
315(93,5) 22(6,5)
386(93,7) 26(6,3)
Thấp
còi độ
2
(TL%)
0
0
0
Từ kết quả bảng tổng hợp cho ta thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng khá cao: Trẻ
suy dinh dưỡng độ 1 thể cân nặng là 35/412 trẻ đạt tỉ lệ 8,5%, trẻ suy dinh
dưỡng độ 1 thể thấp còi là 26/412 trẻ đạt tỉ lệ 6,3%.
Qua bảng kết quả khảo sát thực tế của nhà trường, bản thân tôi rất băn
khoăn, trăn trở là làm thế nào để đẩy lùi tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ trong
trường Mầm non một cách có hiệu quả nhất. Tôi đã nghiên cứu và áp dụng một
số biện pháp sau.
8
4. Các biện pháp thực hiện:
4.1. Biện pháp 1: Tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu về vệ sinh an toàn
thực phẩm, phòng chống suy dinh dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên,
nhân viên nhà trường.
Hiện nay, ngành giáo dục Mầm non chú trọng công tác chăm sóc, nuôi
thái, dao gọt, 2 máy say sinh tố… Bổ sung thêm một số biểu bảng
nhà bếp và một số hình ảnh tuyên truyền trong bếp ăn. Làm lại một
số hình ảnh tuyên truyền ngoài sân trường về dinh dưỡng, vệ sinh
văn minh của trẻ, một số lời khuyên dinh dưỡng…Mua bổ sung 6
bình ủ nước nóng cho 6 nhóm lớp, tu sửa kịp thời các vòi nước đã
hỏng trong và ngoài lớp học. Mua thêm 6 giá treo khăn Inox mới.
Đóng bổ sung thêm 16 vạc giường mới, mua 100% gối mới cho trẻ,
bổ sung 50% đệm, chăn ấm, chăn nhẹ cho trẻ…
- Ngoài ra nhà trường đã tu sửa các sân chơi, đồ chơi, xây thêm bồn
hoa cây cảnh, xây cao thêm tường bao cho 2 khu B, C để đảm bảo an
toàn cho cô và trẻ.
Để làm tốt công tác phòng chống SDD cho trẻ thì việc bồi dưỡng kiến
thức VSATTP, phòng chống SDD ở trẻ cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân
viên là vô cùng quan trọng.
Tôi chỉ đạo, giám sát việc tham gia học tập các lớp nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, các lớp tập huấn hè, tham gia các lớp bồi dưỡng kiến
thức vệ sinh dinh dưỡng, VSATTP cho trẻ một cách nghiêm túc.
Tôi thường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhật thông tin về vệ
sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm thường xuyên cho đội ngũ giáo viên,
nhân viên thông qua các cuộc họp hội đồng, sinh hoạt chuyên môn, hay chuyên
đề.
Đối với giáo viên nuôi, tôi nghiên cứu, sưu tầm, cung cấp tài liệu tập san
cho họ như:
+ Sổ tay nội trợ
+ Sổ tay dinh dưỡng cho trẻ Mầm non.
+ Sách hướng dẫn chế biến các món ăn cho trẻ Mầm non
+ Thí nghiệm hàng ngày.
+ Qua tham dự hội thi giáo viên Mầm non giỏi các cấp…
10
lúc mọi nơi.
11
Ví dụ 1
Chủ đề “Trường mầm non” nội dung giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe
được thể hiện ở việc:
- Trẻ làm quen một số món ăn ở trường Mầm non.
- Tập ăn hết suất, rèn luyện một số hành vi văn minh trong ăn uống
như: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn, biết vệ sinh rửa tay trước
khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
- Khi ăn không nói chuyện, ngồi ngay ngắn, ăn không đùa nghịch,
không trèo lên ghế, ăn hết suất, ăn không rơi vãi.
- Vệ sinh sau khi ăn…
Tôi yêu cầu giáo viên cần thường xuyên dạy trẻ có một số thói quen vệ
sinh cá nhân, vệ sinh môi trường như: Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh
và khi tay bẩn, rửa mặt vào những thời điểm nào?, không khạc nhổ bừa bãi, vứt
rác đúng nơi quy định. Đối với các cháu bị SDD tôi chỉ đạo giáo viên phối kết
hợp chặt chẽ với phụ huynh để tăng cường dinh dưỡng trong các bữa ăn hàng
ngày của trẻ.
Tôi chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên truyền tại các nhóm lớp về vấn
đề vệ sinh, dinh dưỡng, kết quả cân đo, khám sức khỏe định kỳ… để tuyên
truyền tới các bậc phụ huynh nắm bắt được các thông tin của con em mình.
Góc tuyên truyền được thay đổi theo chủ đề, chủ đề nhánh, khi có bệnh dịch
bùng phát hay khi thay đổi mùa …
Đầu năm học, tôi kết hợp với Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo toàn bộ
giáo viên, nhân viên khám sức khỏe định kỳ, nhằm phát hiện sớm các bệnh
truyền nhiễm để điều trị kịp thời tránh lây lan sang trẻ.
Tôi cung cấp cho giáo viên, nhân viên các tài liệu để họ tìm hiểu các yêu
cầu vệ sinh khi chăm sóc giáo dục trẻ: Giáo viên và nhân viên làm việc trong
tiền và thực phẩm đắt tiền, thực phẩm nhiều calo và thực phẩm ít calo để hỗ trợ
sao cho đảm bảo lượng calo/ ngày cho trẻ.
Thực đơn cần cân đối tỷ lệ giữa các chất Protêin – Glucid – Lipid đảm
bảo theo tỷ lệ. Tuy nhiên với số tiền ăn 10.000đ/ngày/ 1 trẻ với điều kiện nhà
trường có 4 bếp ăn, số học sinh chia theo khu ít thì việc tính toán và lựa chọn
thực phẩm trở lên khó khăn với việc đảm bảo đủ lượng calo mà phải cân đối tỷ
lệ các chất Protêin – Glucid – Lipid. Thực phẩm chứa đạm có nguồn gốc từ
13
động vật giá thành đắt, còn đạm có nguồn gốc từ thực vật giá thành lại rẻ. Vì
vậy cần cân đối giữa đạm động vật và thực vật. Hay kết hợp với món canh cung
cấp lượng đạm cao như canh rau ngót, giá đỗ, rau muống…
Ví dụ: Thay thịt bằng cá, trứng bằng tôm hoặc phối kết hợp các thực
phẩm thay thế để đạt được giá trị dinh dưỡng tương đương, thay đổi thực đơn
không chỉ đơn thuần như thay đổi thực phẩm mà cần thay đổi dạng chế biến
trong cùng một loại thực phẩm món nào cho phù hợp.
Lưu ý với một số thực phẩm xung khắc ta không chế biến chúng ăn cùng
một thời điểm, một món ăn.
Ví dụ: Uống sữa với nước cam, gan lợn xào giá đỗ, thịt gà với canh rau
cải, trứng và tỏi…
Thực đơn xây dựng theo ngày, tuần, tháng để phù hợp với thực tế địa
phương theo mùa. Nếu đã xây dựng trong tuần có thức ăn mặn là thịt cá, trứng,
tôm thì có thể đổi món trong ngày khác cũng được nhưng phải đảm bảo các
chất đó có đủ trong 1 tuần.
Với mùa hè nóng bức cần chế biến một số món canh mát, tăng nhiều
nước hơn so với mùa đông. Còn mùa đông, thời tiết lạnh ta lên thực đơn món
xào, món hầm nhừ nhiều hơn.
Đối với các loại rau củ, tôi yêu cầu giáo viên nên dùng mùa nào thức đó,
không nên sử dụng rau, thực phẩm trái mùa. Vì điều này làm gây nguy cơ mất
- Thịt gà rim
cẩm
sốt cà chua
chua thì là
- Canh xương
- Canh rau
- Canh cua rau - Canh tôm
- Canh cá rô
ngót nấu trai
đay, mồng tơi
rau cải
- Cháo hến
chua
nấu bầu
- Chè đỗ xanh - Xôi vừng
Chiều
hợp
- Canh cải
- Canh xương - Canh thịt
vang
nấu khoai tây nấu rau bắp
- Canh sườn
- Canh xương nấu cá
Bí đao
- Xôi gấc
Chiều
Thứ 5
- Chè đỗ xanh - Mỳ gà
(Xôi đỗ xanh) bí ngô
- Ruốc cá quả - Thịt bò sốt
cải
xu hào, cà rốt
hàng ngày và úp vào giá đựng, kê cao ráo, thông thoáng. Dụng cụ chia ăn phải
được rửa sạch, phơi khô để đúng nơi quy định. Ngoài ra mỗi loại dụng cụ, nơi
chế biến phải có khăn sạch riêng để lau.
Tôi yêu cầu giáo viên nuôi phải dùng riêng các loại khăn lau như: Khăn
lau bát, vung nồi, lau bệ, khu chế biến sống, lau bàn chia ăn… Không được
dùng chung khăn, nếu dùng chung các loại khăn thì các dụng cụ sẽ bị nhiễm
khuẩn, khăn lau phải được giặt sạch, phơi khô hàng ngày. Trong và ngoài bếp
phải có thùng đựng rác, thực phẩm ăn thừa phải có nắp đậy, không để rác và
thực phẩm ăn thừa rơi vãi xung quanh, rác phải được tập trung xa nơi chế biến
và thường xuyên quét mạng nhện trên tường.
* Vệ sinh đối với nhân viên phục vụ.
Vệ sinh thân thể là điều kiện cần thiết, đảm bảo cho hoạt động sinh lý
bình thường của da và toàn bộ cơ thể. Tôi chỉ đạo các đồng chí giáo viên nuôi
cần phải tập cho mình nếp sống, ăn ở gọn gàng, ngăn nắp. Thực hiện nghiêm
túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến.
Tôi yêu cầu người trực tiếp chế biến thực phẩm phục vụ ăn uống phải
được học kiến thức về VSATTP và nắm vững trách nhiệm về công việc của
mình.Thực hiện đúng theo quy chế chuyên môn cô nuôi phải mặc quần áo đồng
16
phục, đeo tạp dề, đầu tóc gọn gàng, đội mũ, rửa tay bằng xà phòng trước khi
chế biến, sau khi đi vệ sinh. Ngoài ra còn có khăn lau tay riêng và được giặt
sạch, phơi khô hàng ngày.
Hàng năm, tôi chỉ đạo giáo viên nuôi được khám sức khỏe định kỳ 2
lần/năm, để kịp thời phát hiện các bệnh không cho phép nhân viên bếp mắc
phải để có kế hoạch sắp xếp phân công giáo viên, nhân viên cho hợp lý, tránh
ảnh hưởng đến việc mất an toàn vệ sinh chế biến, VSATTP cho trẻ.
* Vệ sinh đối với thực phẩm.
Trong dinh dưỡng trẻ em, vấn đề vệ sinh có vai trò quan trọng tới hiệu
kiểm tra đột xuất, theo dõi giám sát chất lượng bữa ăn có đúng như thực đơn,
đảm bảo VSATTP hay không.
4.4. Chỉ đạo giáo viên giáo dục thói quen vệ sinh, văn minh cho trẻ trong
trường Mầm non:
Như chúng ta đã biết thói quen vệ sinh là hành động vệ sinh của cá nhân
được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ
xã hội nhất định.
Việc hình hành kỹ năng văn hoá vệ sinh cho trẻ có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển thể chất nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Giáo dục
kỹ năng, giáo dục khả năng văn hoá vệ sinh cho trẻ có ý nghĩa quan trọng trong
việc giáo dục con người phát triển toàn diện.
Tôi trực tiếp trao đổi với giáo viên về nội dung giáo dục thói quen, vệ
sinh văn minh chính là loại kỹ năng lao động tự phục vụ như: Rửa mặt, rửa tay,
tập súc miệng, đánh răng, tập ngồi ngay ngắn, tập xì mũi vào khăn, tập mặc
quần áo… Đối với trẻ lớn, giáo viên cần hướng dẫn trẻ làm và giải thích để trẻ
hiểu thêm về ý nghĩa của những việc làm đó.
Tôi đã hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch giáo dục thói quen, vệ sinh phù
hợp lứa tuổi, dạy trẻ từ đơn giản đến phức tạp và phải thường xuyên kiểm tra,
củng cố, tạo cho trẻ thói quen bền vững vì trẻ nhanh nhớ, nhanh quên.
18
Tôi yêu cầu giáo đưa mục tiêu giáo dục thói quen, vệ sinh vào kế hoạch
năm học, các chủ đề và được thể hiện rõ vào các hoạt động trong ngày, hoạt
động mọi lúc mọi nơi của trẻ ở trường Mầm non.
Tôi chỉ rõ cho giáo viên xác định được nội dung giáo dục thói quen vệ
sinh, văn minh cho trẻ gồm có:
- Một là: Giáo dục thói quen vệ sinh thân thể
Tức là giáo dục cho trẻ biết lợi ích của việc luôn giữ cho mặt, tay, chân,
phần không nhỏ trong việc phát triển thể chất và để thực hiện nội dung đó có
hiệu quả, tôi đã định hướng cho giáo viên một số phương pháp và hình thức
giáo dục trẻ như sau:
- Giáo viên có thể lên tiết dạy từng kỹ năng.
- Lồng ghép, tích hợp và các hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, theo
các thời điểm trong ngày, mọi lúc, mọi nơi…
- Sử dụng đa dạng các phương pháp để giáo dục trẻ như đàm thoại, giảng
giải, sử dụng tranh ảnh, băng hình, video, các tình huống có vấn đề… Phối kết
hợp với gia đình cùng thực hiện.
Giáo dục thói quen vệ sinh, văn minh cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan
trọng, góp phần phát triển thể chất tốt cho trẻ. Vì vậy mà tôi thường xuyên nhắc
nhở, trao đổi giáo viên về việc thực hiện thường xuyên nội dung này. Tôi
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, dự giờ, đánh giá, trao đổi với giáo viên, phụ
huynh và học sinh, để nắm bắt được kết quả thực hiện giáo dục thói quen vệ
sinh, văn minh đạt được mức độ ra sao, để tiếp tục có kế hoạch bổ sung, góp ý
cho giáo viên ngày một hoàn thiện hơn.
4.5. Tăng cường công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh và cộng
đồng.
20
Việc tuyên truyền rộng rãi vấn đề dinh dưỡng đối với trẻ em nhằm đẩy
lùi tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng tới các cấp, ngành, các bậc phụ huynh và toàn thể
cộng đồng là việc làm rất cần thiết.
Bản thân tôi là một thành viên trong Ban giám hiệu nhà trường, lĩnh hội
nghị quyết của cấp trên, nắm bắt tình hình thực tế và số liệu thống kê hàng năm
như:
- Tổng số trẻ đến lớp.
Tôi xây dựng biểu bảng tuyên truyền giáo dục dinh dưỡng, giáo dục thói
quen vệ sinh văn minh cá nhân, vệ sinh môi trường… trên các mảng tường của
nhà trường, để ở các nơi phụ huynh dễ tiếp cận nhất. Đồng thời chỉ đạo giáo
viên nhóm lớp xây dựng góc tuyên truyền được thay đổi thông tin theo tháng
cần trao đổi với phụ huynh, khi có dịch bệnh theo mùa, dịch bệnh bất thường
để thu hút sự quan tâm của phụ huynh.
Nhà trường kết hợp chặt chẽ với y tế phường tổ chức tốt việc khám sức
khoẻ định kỳ cho trẻ, tổ chức cân đo cho trẻ theo quy định và đánh giá sự phát
triển theo diễn biến trên biểu đồ tăng trưởng. Để từ đó tôi chỉ đạo giáo viên,
nhân viên thực hiện các biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ có hiệu quả, đặc biệt
là đối với trẻ bị SDD.
Qua việc tổ chức khám sức khoẻ và cân đo, giáo viên thường xuyên tư
vấn cho các bậc cha mẹ có trẻ bị suy dinh dưỡng về những đặc điểm còn hạn
chế cả trẻ để cùng nhau chăm sóc giáo dục, có biện pháp uốn nắn kịp thời để
đẩy lùi tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ có hiệu quả cao nhất.
Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng hoặc mắc 1 số bệnh cha mẹ cần kết hợp
với y tế phường, với giáo viên để cùng tìm hiểu nguyên nhân và tìm cách khắc
phục. Trẻ có thể biếng ăn kéo dài, mắc các bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm ký sinh
trùng, do chế biến món ăn không hợp khẩu vị trẻ, chăm sóc trẻ chưa khoa
học…Hay do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, trẻ hoạt động quá nhiều, trẻ
sống trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh…Có nhiều nguyên nhân gây
cho trẻ bị suy dinh dưỡng. Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng gây
22
cho trẻ bị thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng, làm cho trẻ không tăng cân,
chậm phát triển chiều cao và giảm trí thông minh.
Do đó, cha mẹ cần chú ý tăng năng lượng và tăng chất dinh dưỡng trong
bữa ăn của trẻ. Có thể cho trẻ ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày, cho trẻ ăn thêm
nhẹ bữa tối trước khi đi ngủ và cũng nên cho trẻ ăn thêm bữa phụ sau bữa chính
(Dành cho giáo viên trực tiếp giảng dạy) vào tháng 2/2015 cho thấy kết quả
như sau:
- 100% giáo viên 16 nhóm lớp đã thực hiện tốt các nội dung thực hành
vệ sinh . Các thao tác giáo dục vệ sinh cho trẻ được giáo viên thường
xuyên thực hiện.
- 32/32 giáo viên đảm bảo thực hiện tốt các quy định vệ sinh với bản
thân giáo viên, vệ sinh môi trường cho trẻ trong và ngoài lớp học.
- 100% giáo viên chủ động, tích cực và thường xuyên lồng ghép giáo
dục thói quen vệ sinh, văn minh cho trẻ. Từ đó hình thành ở trẻ các
kỹ năng, kỹ xảo trong vệ sinh thân thể, ăn uống, hoạt động và giao
tiếp.
Phụ huynh và cộng đồng đã nhận thức sâu hơn về vai trò phát triển thể
chất đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Họ đã có một số kiến thức cơ bản
về vệ sinh an toàn thực phẩm, biết chế biến các món ăn phù hợp lứa tuổi và tình
trạng sức khoẻ của con, em mình. Đã biết phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường,
giáo viên để giáo dục thói quen vệ sinh, văn minh cho trẻ. Nhằm cải thiện đáng
kể tình trạng sức khoẻ của trẻ. Nhờ đó mà tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ ở nhà
trường đã giảm nhanh thể hiện qua bảng tổng hợp kết quả vào tháng 2/2015
như cụ thể như sau:
Độ tuổi
Số
trẻ
cân
Cân nặng
Cân nặng
SDD
24
(TL% )
74(98,7)
2 (1,3)
0
71 (94,7)
1 (1,3)
0
Mẫu giáo 337 332(98,5)
5 (1,5)
0
333(98,8)
4 (1,2)
0
6 (1,5)
tuổi
cân
thán
đo
g
Nhà
trẻ
Mẫu
giáo
75
337
Cộng 412
9
Cân nặng
Cân nặng
bình
thường
(TL%)
SDD
(TL%)
%)
(TL%)
4 (5,3)
1 (1,3)
0
6 (8)
2(1,3)
0
2
69 (92)
74(98,7)
0
71(94,7)
74 (98,7)
9
308(91,4)
2
406(98,5)
6 (1,5)
0
407(98,8
)
0
5(1,2)
0
0
Từ bảng tổng hợp kết quả cân, đo trên ta nhận thấy. Tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng thể cân nặng độ 1 ở nhà trẻ giảm 6,7%, mẫu giáo giảm 4,64%. Tổng
toàn trường tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm so với đầu năm là 7% và
tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi độ 1 giảm so với đầu năm là 5,1%.
* Bài học kinh nghiệm:
- Đối với bản thân, tôi cần phải tích cực, năng động sáng tạo hơn nữa
trong việc chỉ đạo chuyên sâu vào chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nói
chung và giảm tỷ lệ SDD ở trẻ nói riêng.
25