UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH MINH HOẠ TRONG DẠY
TIẾNG VIỆT - LỚP 3
Năm học : 2014 - 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Sử dụng hình ảnh minh hoạ trong dạy Tiếng Việt
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt - Lớp 3
3. Tác giả:
Họ và tên: Trần Thị Lương
Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 10 / 6 / 1976
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Cổ Thành
Điện thoại: 0320 580 123
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Cổ Thành
Địa chỉ: Thôn Hoà Bình, xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) :
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Cổ Thành
Địa chỉ: Thôn Hoà Bình, xã Cổ Thành, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Thực tế, kiến thức Tiếng Việt ở lớp 3 rất rộng, gồm nhiều phân môn. Vì
hạn hẹp về thời gian và điều kiện nghiên cứu, tôi chỉ đề cập đến một vài vấn đề
nhỏ nhưng không kém phần quan trọng khi dạy Tiếng Việt là:
+ Sử dụng hình ảnh minh hoạ trong dạy Tập đọc, kể chuyện.
+ Sử dụng hình ảnh minh hoạ trong dạy Luyện từ và câu.
+ Sử dụng hình ảnh minh họa trong dạy Tập làm văn.
1.3. Nội dung sáng kiến:
Trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 3, tôi thấy nhiều
học sinh hiểu chưa cụ thể về nghĩa của một số từ ngữ, sử dụng các biện pháp tu
từ chưa hợp lí, kĩ năng đọc hiểu còn hạn chế. Tôi tìm cách giúp học sinh hiểu rõ
về các từ ngữ, các biện pháp tu từ đã học để học sinh có thêm vốn từ ngữ. Qua
đó, giúp học sinh có kĩ năng nói, viết, giao tiếp tốt hơn. Giải pháp của tôi là sử
dụng hình ảnh minh hoạ giúp học sinh hiểu rõ về từ ngữ, về nội dung bài, về biện
pháp tu từ được giới thiệu trong bài. Không phải tiết nào cũng sử dụng các hình
3
ảnh minh hoạ được, giáo viên cần nghiên cứu tìm các hình ảnh minh hoạ phù
hợp với nội dung bài. Sau khi tìm được hình ảnh minh hoạ, giáo viên lựa chọn
mục đích, hình thức sử dụng hình ảnh minh hoạ để khai thác vốn kiến thức đã có
của học sinh, từ đó hình thành kiến thức mới. Tiếp theo, giáo viên tạo cơ hội để
học sinh luyện tập hoặc vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn. Đồng thời, cung
cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết ban
đầu về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước
ngoài. Với cách làm như vậy, tôi nhận thấy học sinh hiểu nhanh và chính xác
nghĩa của từ ngữ, hiểu cụ thể nội dung bài, về biện pháp so sánh, học sinh thích
học Tiếng Việt hơn. Đặc biệt kĩ năng diễn đạt của học sinh được cải thiện, học
sinh tự tin hơn trong giao tiếp.
1.4. Khẳng định kết quả sáng kiến đạt được:
Sau thời gian tiến hành áp dụng kinh nghiệm, học sinh lớp thực nghiệm có
cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Tiếng Việt bậc Tiểu học giữ vai trò đặc biệt
quan trọng, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. Các kĩ năng ấy
là công cụ để các em học tập các môn khác. Học tiếng Việt tốt sẽ giúp các em
hiểu biết nhiều hơn, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em
biết suy nghĩ một cách logic, có hình ảnh. Vì vậy, dạy tiếng Việt có ý nghĩa vô
cùng quan trọng nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và phát triển
nhân cách con người.
Mục tiêu của chương trình giáo dục đã đáp ứng cơ bản các nhu cầu học tập
của học sinh phù hợp với điều kiện của đất nước và hội nhập quốc tế. Việc đổi
mới phương pháp giảng dạy, đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh
được chú trọng. Cơ sở vật chất được tăng cường dần dần theo hướng hiện đại
hoá. Phần lớn giáo viên được bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ để đáp ứng được yêu cầu của công việc thực tế.
Bên cạnh những mặt đã đạt được còn có những hạn chế nhất định:
- Một số giáo viên còn chậm đổi mới, năng lực có hạn chưa đáp ứng được yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học, phát triển khả năng tư duy của học sinh.
5
- Phương pháp, nội dung chương trình sách giáo khoa chưa thật sự phù hợp với
tất cả các vùng miền, với thực tế nhận thức của học sinh.
Môn Tiếng Việt lớp 3 có 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm
và được học trong 2 tuần (trừ chủ điểm Ngôi nhà chung học trong 3 tuần) gồm
các phân môn:
+ Tập đọc
+ Chính tả
+ Kể chuyện
các hình ảnh cụ thể, sinh động, diễn đạt được sắc thái biểu cảm của từ ngữ có vai
trò rất quan trọng. Đôi khi ta nói hay diễn tả nhiều học sinh cũng chưa hiểu chính
xác về nghĩa của từ, câu nhưng ta sử dụng tranh ảnh minh hoạ thì học sinh có thể
hiểu và nhớ ngay nghĩa của từ, câu đó. Chính những hình ảnh ẩn đi được sử dụng
đã làm phong phú thêm cho tiếng Việt và phát triển được khả năng tư duy của
học sinh. Vì vậy tôi chọn đề tài “ Sử dụng hình ảnh minh hoạ trong dạy Tiếng
Việt - Lớp 3”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp giáo viên có thêm phương pháp, hình thức khai thác kiến thức có
hiệu quả trong dạy Tiếng Việt.
- Giúp giáo viên có cách sử dụng tranh ảnh minh hoạ có hiệu quả.
- Giáo viên giúp học sinh rèn một số kĩ năng thực hành ngôn ngữ, phát triển
tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp.
- Qua thực nghiệm, học sinh có kĩ năng sử dụng từ ngữ chính xác, diễn đạt
tốt, tự tin trong giao tiếp.
1.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp giảng giải.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thực nghiệm đối chứng.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề:
Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội của người
Việt. Tiếng Việt có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học tiếng Việt.
Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các bộ phận ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Mỗi bộ phận của ngôn ngữ là một hệ thống nhỏ có cơ cấu tổ chức riêng, có quan
hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống ngôn ngữ.
7
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
4.1. Sử dụng hình ảnh minh họa trong dạy Tập đọc, kể chuyện:
Ví dụ 1. Bài Hũ bạc của người cha – trang 121/ Tiếng Việt 3-tập 1.
Sử dụng tranh để giới thiệu bài, giải nghĩa từ mới, hướng dẫn kể chuyện.
* Giới thiệu bài: Cho học sinh quan sát tranh và hỏi:
- Tranh vẽ cảnh gì ? Em thử đoán xem họ đang nói gì ?
Học sinh nêu câu trả lời theo khả năng quan sát, trí tưởng tượng của mình.
Giáo viên tuyên dương những học sinh có câu trả lời hay, sáng tạo… Giáo
viên giới thiệu bài: Để biết chính xác bức tranh vẽ cảnh gì và ông lão nói gì với
người con của mình, cái gì là của cải quý giá nhất đối với con người, chúng ta
cùng tìm hiểu qua bài Hũ bạc của người cha.
* Giải nghĩa từ “hũ” : đồ vật bằng đất nung loại nhỏ, miệng tròn, giữa phình ra,
thường dùng đựng các loại hạt hoặc đựng rượu, đựng mật ong…
Nếu cách giải thích như vậy thì nhiều học sinh sẽ chưa hình dung chính
xác về “hũ” nhưng giáo viên cho quan sát lại tranh và yêu cầu học sinh chỉ “hũ”
trong tranh thì chắc chắn học sinh sẽ hiểu và chỉ được hũ trong tranh là vật ông
lão đang cầm.
* Hướng dẫn kể chuyện:Cho học sinh quan sát các bức tranh/122, 123 SGK. Sau
đó thảo luận nhóm và xếp lại các tranh theo đúng trình tự câu chuyện như sau:
9
Đoạn 1:
Đoạn 2:
Đoạn 3:
hiểu và nhớ nghĩa của từ mới nhanh hơn, cụ thể hơn.
4.2. Sử dụng hình ảnh minh họa trong dạy Luyện từ và câu:
Ví dụ 1: Từ ngữ về các dân tộc – Trang 126/Tiếng Việt 3-tập1.
Bài 1. Hãy kể tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta mà em biết.
Với yêu cầu bài tập này, GV thường hướng dẫn HS làm bài tập như sau:
- Cho hs đọc yêu cầu của bài tập.
- Hs đọc đề bài, xác định yêu cầu.
- Kể tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta - Hs làm việc theo nhóm đôi, báo
mà em biết.
cáo kết quả.
- Gv chốt, ghi tên một số dân tộc thiểu số, - Hs theo dõi, ghi nhớ tên, nơi cư trú
chỉ nơi cư trú của dân tộc đó trên bản đồ.
của một số dân tộc thiểu số.
Nếu chỉ dừng lại như vậy thì học sinh có thể nhớ tên các dân tộc thiểu số
nhưng không nhận biết được các dân tộc qua trang phục hoặc phong tục tập quán
đặc trưng của họ. Giải pháp của tôi là sau khi học sinh báo cáo kết quả, giáo viên
chốt và ghi tên một số dân tộc thiểu số, tôi sử dụng hình ảnh minh hoạ về các dân
tộc thiểu số ở nước ta để học sinh đoán xem đó là dân tộc nào, kết hợp với một
số câu hỏi như: Em biết về dân tộc này qua đâu ? Dân tộc này sống ở vùng nào
trên đất nước ta ? Thị xã Chí Linh có những dân tộc thiểu số nào ?....Hay cũng là
người Hoa nhưng người Hoa sống ở vùng núi phía Bắc có trang phục, tập quán
khác với người Hoa sống ở miền Nam…
Thái
Dao
LƯƠNG VĨNH PHÚC
d,
Ơ, cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ ghê,
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe.
Phương pháp được giáo viên áp dụng phổ biến như sau:
13
- Mời học sinh đọc đề bài, xác định yêu cầu.
- Mời học sinh làm mẫu phần a : + Hai bàn tay của bé được so sánh với
gì? (Hai bàn tay của bé được so sánh với hoa đầu cành).
- Yêu cầu học sinh trao đổi theo nhóm đôi để làm các phần còn lại.
- Mời học sinh lên bảng gạch dưới những sự vật được so sánh với nhau
trong các câu thơ, câu văn.
- GV, học sinh lớp nhận xét, chốt đáp án đúng.
Đây là tiết học đầu tiên học sinh làm quen với biện pháp so sánh nên giáo
viên cần giúp học sinh hiểu sâu hơn, cụ thể hơn về biện pháp so sánh để tạo nền
tảng tốt cho học sinh học về so sánh ở các tiết tiếp theo. Tôi sử dụng hình ảnh
minh hoạ kết hợp với một vài câu hỏi gợi ý đối với từng phần như sau:
+ Phần b, sau khi học sinh xác định được mặt biển được so sánh với tấm thảm
khổng lồ bằng ngọc thạch, tôi hỏi thêm “ Vì sao nói mặt biển như tấm thảm
khổng lồ ? Mặt biển và tấm thảm có gì giống nhau ? Màu ngọc thạch là màu như
thế nào?”. Tôi sử dụng hình ảnh minh hoạ là một ảnh một đồ vật bằng ngọc
thạch, cảnh biển lúc im gió. Qua đó, học sinh thấy được mặt biển được so sánh
với tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch vì chúng có điểm giống nhau là đều
phẳng, êm và rất đẹp.
Phương pháp được áp dụng phổ biến như sau:
- Yêu cầu học sinh đọc đề bài, xác định yêu cầu, quan sát tranh.
- Nêu tên từng cặp sự vật được so sánh trong mỗi tranh.
- Học sinh làm việc cá nhân, tập viết câu văn có hình ảnh so sánh hợp với
mỗi tranh.
- Học sinh đọc những câu văn đã viết.
- Học sinh khác, gv nhận xét, đánh giá.
Tôi sử dụng phương pháp tương tự như trên nhưng áp dụng riêng đối với
từng tranh. Ở mỗi tranh, mời học sinh nói câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp.
15
Học sinh có thể nói nhiều câu khác nhau, GV hỏi “ Trong các câu bạn nói, em
thích nhất câu nào ? Tại sao ?” GV chốt câu văn hay và đúng với yêu cầu của
bài.
4.3. Sử dụng hình ảnh minh họa trong dạy Tập làm văn:
Ví dụ 1. Nói, viết về cảnh đẹp đất nước/102 – Tiếng Việt 3 tập 1.
Phương pháp dạy thông thường:
- Yêu cầu học sinh đọc đề bài, quan sát tranh ảnh sưu tầm được.
- Học sinh nói theo gợi ý.
- Viết những điều nói trên thành một đoạn văn 5 – 7 câu.
Phương pháp tôi sử dụng hình ảnh minh họa như sau:
Tôi mời học sinh trưng bày tranh ảnh sưu tầm được, giới thiệu đôi nét về
cảnh đẹp trong tranh. Tôi giới thiệu thêm một số cảnh đẹp nổi tiếng của nước ta
như: vịnh Hạ Long, Hồ Gươm ở Hà Nội, cảnh đẹp Sa Pa, bãi biển Phan Thiết,
đèo Hải Vân, sông Hương, đảo Phú Quốc... Học sinh lựa chọn để nói về cảnh
đẹp mà mình thích theo gợi ý hoặc sáng tạo hơn theo vốn hiểu biết của bản thân.
Mời học sinh nói trước lớp, học sinh nói về cảnh đẹp nào tôi cho lớp quan sát
tranh ảnh minh hoạ của cảnh đẹp đó. Mời học sinh lớp quan sát tranh ảnh, nhận
xét, góp ý cho bài của bạn hoàn thiện hơn. Với cách thực hiện như vậy tôi thấy
Tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả của việc sử dụng hình ảnh
minh họa trong dạy tiếng Việt như sau:
Kết quả khảo sát trước và sau
khi áp dụng KN
Số
bài
Trước khi Lớp đối chứng 3B
áp dụng
Lớp thực nghiệm
3A
Sau khi Lớp đối chứng 3B
áp dụng
KN
Lớp thực nghiệm
3A
28
Điểm
Điểm
Điểm
9-10
7-8
5-6
SL % SL % SL %
9 32,1 9 32,1 8 28,6
25
11
39,3
6
21,4
1
3,6
9
36,0
11
44,0
5
20,
0
0
0
17
18
Thường xuyên học hỏi đồng nghiệp, lắng nghe ý kiến để tích lũy cho bản
thân những bài học bổ ích.
Với học sinh: Cần quan sát kĩ, nắm chắc mục đích của hoạt động. Khi
hiểu bản chất của vấn đề, học sinh thấy hứng thú hơn, học tập tích cực hơn,
không thấy ngại học Tiếng Việt, tiết học sôi nổi và có hiệu quả hơn.
6.2. Về trang thiết bị:
Sử dụng máy tính có nối mạng để tìm hình ảnh minh họa phù hợp với nội
dung bài dạy. Điện thoại hay máy ảnh chụp những hình ảnh minh họa phù hợp
với thực tế của địa phương. Lớp học có ti vi cỡ lớn để kết nối với bài dạy hoặc
máy chiếu. Đặc biệt, lớp học cần có nguồn điện ổn định để quá trình giảng dạy
sử dụng các máy móc hỗ trợ được thuận tiện.
19
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Ta không có khuôn mẫu nào cho việc sử dụng hình ảnh minh hoạ trong
các bài học. Từ thực tế giảng dạy, mỗi giáo viên cần nghiên cứu để lựa chọn hình
ảnh minh hoạ, cách sử dụng hình ảnh minh hoạ, thời điểm sử dụng hình ảnh
minh hoạ cho từng bài học là rất quan trọng để thu được kết quả giảng dạy như
mong muốn. Có những hình ảnh minh hoạ sử dụng ngay từ đầu bài tập, có những
hình ảnh được sử dụng trong giữa bài tập, cũng có hình ảnh được sử dụng sau
khi học sinh hoàn thành bài tập tuỳ vào mục đích sử dụng hình ảnh minh hoạ của
giáo viên.
Việc sử dụng hình ảnh minh hoạ trong dạy một số bài Tiếng Việt ở lớp 3
là rất cần thiết để học sinh hiểu cụ thể về từ ngữ hoặc biện pháp so sánh, cách
khả năng đọc-hiểu, sử dụng hình ảnh so sánh… của học sinh tiến bộ rõ. Nhiều
học sinh ngại học tiếng Việt, lúng túng khi làm các bài tập về mở rộng vốn từ, về
so sánh, làm văn diễn đạt chưa tốt đã tự tin hơn, một số học sinh còn thích học
phần này, tự tìm tranh ảnh đố nhau tìm từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ theo
chủ điểm hay các sự vật có thể so sánh với nhau trong tranh ảnh. Tôi nghĩ đó là
một thành công trong sử dụng hình ảnh minh hoạ để giảng dạy tiếng Việt, từ đó
kiến thức trong sách vở sẽ được học sinh đưa vào thực tế một cách tự nhiên.
Trên đây là một vài phương pháp sử dụng hình ảnh minh hoạ để dạy tập
đọc, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn mà tôi đúc rút được qua thực tế
giảng dạy. Với phạm vi nghiên cứu cũng như trình độ lí luận còn hạn chế nên
kinh nghiệm này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Do vậy, tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm
này hoàn thiện và có hiệu quả thực tiễn tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
21
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
Thông tin chung về sáng kiến
Tóm tắt sáng kiến
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
3. Thực trạng của vấn đề