skkn một số BP cho trẻ MG 4 tuổi làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi làm đồ dùng,
đồ chơi tự tạo từ nguyên vật liệu tự nhiên”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phát triển thẩm mỹ.
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thùy Dung

Giới tính: Nữ.

Ngày tháng/năm sinh: 22/11/1985
Trình độ chuyên môn: Đại học mầm non.
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – Trường mầm non Sao Mai.
Điện thoại: 01288207990
4.Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu( nếu có): Trường mầm non Sao Mai.
5. Các điều kiện để áp dụng sáng kiến:
Trường học, lớp học có đầy đủ cơ sở vật chất.
Học sinh thích khám phá, hoạt động với các nguyên vật liệu mở.
Giáo viên thường xuyên sưu tầm nguyên vật liệu; tổ chức cho trẻ làm đồ
dùng, đồ chơi tự tạo từ các nguyên vật liệu thiên nhiên.
Có sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc sưu tầm nguyên vật liệu.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ tháng 09/ 2014 đến tháng
02/2015.
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN

(KÝ TÊN)

ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Nguyễn Thùy Dung

những kết quả đáng khích lệ. Qua thực tế áp dụng sáng kiến tôi thấy sáng kiến
này có thể áp dụng cho tất cả các độ tuổi khác nhau trong trường tùy theo mức
độ phát triển của trẻ. Tuy nhiên do thời gian còn hạn chế rất mong được sự
quan tâm góp ý của bạn bè đồng nghiệp, của Ban giám hiệu Nhà trường và các
cấp lãnh đạo để sáng kiến có thể áp dụng và nhân rộng.

2


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.

3


Tuổi mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo là thời kỳ nhạy cảm với những
cái đẹp xung quanh. Thiên nhiên đẹp, tự nó đã là những chất dinh dưỡng cho
tâm hồn trẻ, càng nhìn, càng nghe, càng được trải nghiệm với những màu sắc,
âm thanh, nguyên vật liệu tự nhiên từ thiên nhiên bao nhiêu thì cảm giác, tri
giác và các xúc cảm thẩm mỹ - những xúc cảm tích cực ở trẻ càng trở nên nhạy
bén, tinh tế bấy nhiêu. Từ những xúc cảm tích cực làm nảy sinh ở trẻ lòng
mong muốn làm một điều gì đó tốt lành để đem niềm vui đến cho mọi người,
trẻ bắt đầu mong muốn thể hiện trong các hoạt động nghệ thuật.
Hiện nay, đồ chơi cho trẻ có rất nhiều trên thị trường, đặc biệt là sự quan
tâm của các cấp lãnh đạo mà nhà trường được trang bị đồ dùng, đồ chơi phong
phú đa dạng. Tuy nhiên xét về phương diện giáo dục thì chúng không thể đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu và mục đích của chương trình Giáo dục mầm non. Hơn
thế nữa, việc mua quá nhiều đồ chơi cho trẻ làm ảnh hướng đến đóng góp của
các bậc phụ huynh, của nhà trường. Trong khi các phế phẩm, các nguyên liệu
sẵn có ở địa phương, trong sinh hoạt hàng ngày rất nhiều có thể cho trẻ sử dụng

đồ chơi phải đảm bảo thực hiện theo mục tiêu giáo dục, mang tính thẩm mỹ,
phải phát triển trí tưởng tượng, kích thích cho trẻ tính độc lập, sáng tạo, đồng
thời phải phù hợp với từng lứa tuổi và đảm bảo cho sự an toàn của trẻ.
Ðýờng nét, hình dạng là những dấu hiệu ðầu tiên của hình vẽ giúp trẻ
nhận ra và hiểu ðýợc mối liên hệ giữa sự vật thật với hình ảnh biểu ðạt sự vật
ðó. Tính chất của các dấu vết khác nhau do vận ðộng của tay với bút ðể lại giúp
trẻ hiểu ðýợc khả nãng thông báo và khả nãng biểu cảm dồi dào của ðýờng nét
và hình dạng. Cùng với thời gian và sự phát triển nhận thức của trẻ, các hình vẽ
rời rạc bắt ðầu ðýợc bao bọc lại bằng nét vòng hoặc ðýợc nối lại với nhau bằng
các nét vạch ðể tạo nên vòng hoặc ðýợc nối lại với nhau bằng một số nét vạch
ðể tạo nên một chỉnh thể có tên gọi chung chung.Cùng với thời gian và sự lớn
lên của trẻ, dần dần các cấu trúc sõ ðồ với các ðýờng nết, hình thù dính kết
ðýợc xuất hiện một cách có chủ ðích từ mô hìnhtâm lý. Ðây là một býớc tiến
quan trọng làm phát triển chức nãng tạo hình của các ðýờng nét, hình dạng.
Trẻ mẫu giáo đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá
phức tạp. Trẻ đã có cảm nhận tính nguyên thể của các hình ảnh đối tượng miêu
tả và dùng đường nét liên mạch, mềm mại, uyển chuyển để truyền đạt hình
dáng trọn vẹn của một vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể hiện tư thế vận

5


động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo. Đặc biệt là trẻ khá linh hoạt
trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường nét và hình để thể hiện vẻ độc
đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật cụ thể. Trẻ ở lứa tuổi này đã có thể sử
dụng các nguyên vật liệu một cách có chọn lọc để tạo ra sản phẩm theo ý tưởng
của bản thân mình.
3. Thực trạng của vấn ðề
Trýờng có 4 lớp MGN; với tổng số trẻ là: 142 trẻ.
Về cơ sở vật chất nhà trýờng đã ðầu tư bổ sung trang thiết bị cho từng

pháp sau:
4.1.Biện pháp 1: Khảo sát thực trạng hoạt động và mức độ của trẻ khi hoạt
động với nguyên vật liệu mở
Ngay từ chủ đề “Trường mầm non” tôi đã tiến hành khảo sát tại 4 lớp
mẫu giáo nhỡ vào ngày 15; 16; 17 tháng 9 năm 2014.
Qua thực tế cho thấy:
4.1.1. Về ưu điểm:
Nhìn chung trẻ có được hoạt động với nguyên liệu mở, như: giấy màu,
hồ dán, đất nặn, sỏi, có sản phẩm đơn giản của trẻ.
Một số trẻ đã có những ý tưởng sáng tạo khi được hoạt động với nguyên
liệu như: cháu Bảo Ly, Việt Hải lớp 4 tuổi B; cháu Thu Hằng; Anh Tú lớp 4
tuổi A;
4.1.2. Về tồn tại:
Bảng 1: Khảo sát chất lượng ðầu nãm học
Lớp

Số trẻ

Tạo ra sản phẩm

Tính sáng tạo

Sự hứng thú

4TA
4TB
4TC
4TD
Tổng
Tỉ lệ

Trẻ ít được tiếp xúc với những nguyên vật liệu tự nhiên, phế liệu sẵn có,
trẻ chưa thực sự hứng thú nên sản phẩm trẻ tạo ra còn nghèo nàn và mang tính
hình thức.

7


Trẻ có ít cơ hội được hoạt động tích cực… các mảng trang trí trên tường
là do cô làm nhiều, ít có sản phẩm và sự tham gia của trẻ hoặc trẻ có ý tưởng
nhưng không tạo được ra sản phẩm đẹp do không có nguyên vật liệu hoặc chưa
được cô quan tâm gợi ý…
Ví dụ: Mảng chủ đề, các góc mở chính là do cô tự cắt và trang trí.
Các con rối của các giờ kể chuyện cũng do cô tự làm mà không có sự
tham gia của trẻ.
Những tồn tại nêu trên đã khiến tôi trăn trở suy nghĩ: nếu tình trạng này
cứ kéo dài thì không thể phát huy tính tích cực của trẻ khi thực hiện chương
trình GDMN và các lớp không thể đủ các điều kiện ðể thực hiện các hoạt động
cho trẻ. Một nguyên nhân chính tôi nghiên cứu và thấy rằng trẻ cần phải được
học tập trong môi trường ða dạng, phong phú về hình thức cũng nhý biết sử
dụng các nguyên liệu khác nhau từ thiên nhiên ðể tự tạo nên sản phẩm. Những
sản phẩm đó vừa có thể dùng trang trí lớp, vừa dùng ðể sử dụng vào các hoạt
ðộng học cũng nhý vui chõi của trẻ.
4.2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trýờng, tạo các góc mở cho trẻ hoạt ðộng
Sau khi khảo sát các lớp có những phần nhýợc ðiểm trên, tôi ðã lên kế
hoạch triển khai xây dựng môi trýờng học tập và các góc mở ðể trẻ ðýợc hoạt
ðộng tích cực và sáng tạo theo các chủ ðề.
Xây dựng môi trýờng hoạt ðộng cho trẻ hýớng tới mục ðích giúp trẻ tìm
tòi, khám phá và phát hiện nhiều ðiều mới lạ, hấp dẫn trong cuộc sống; các kiến
thức, kĩ nãng của trẻ ðýợc củng cố và bổ sung. Trẻ ðýợc tự chọn hoạt ðộng cá
nhân hoặc theo nhóm, tạo cõ hội ðể trẻ bộc lộ khả nãng của mình.

được. Bên cạnh ðó tôi cũng tìm hiểu và gợi hỏi ở những cơ quan làm việc của

9


phụ huynh có những nguyên vật liệu, phế thải nào mà giáo viên có thể tận dụng
cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi được như: các lõi chỉ to, nhỏ và vải vụn ở Công ty
may; các hộp to nhỏ ở các đại lý bán hàng tạp hoá và bán thuốc. Tuỳ theo từng
thời điểm, từng chủ đề mà giáo viên gợi mở cho trẻ và kết hợp với phụ huynh
để sưu tầm các nguyên vật liệu cho trẻ tạo ra sản phẩm theo chủ đề.
4.3.1. Trong giờ hoạt động tạo hình:
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với
trẻ, giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện sản phẩm một cách tự nhiên, sinh
động, sáng tạo từ góc nhìn của trẻ về thế giới xung quanh. Kết quả hoạt động
tạo hình phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm mà trẻ tích lũy được trong các
hoạt động khác nhau. Việc tham gia vào hoạt động tạo hình tạo nguồn cảm
hứng làm nảy sinh những ý tưởng và lòng ham muốn sáng tạo ở trẻ. Qua tranh
vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép…với các loại vật liệu thiên nhiên đòi hỏi trẻ phải
luôn tìm hiểu, khám phá, phát hiện ra tính chất của các loại vật liệu cũng như
khả năng tạo hình, khả năng tạo ra sức truyền cảm của chúng. Đây là điều kiện
thuận lợi để phát triển trí tuệ và nhân cách của trẻ.
Vậy làm thế nào để kích thích hứng thú và giúp trẻ tự làm đồ dùng, đồ
chơi với các nguyên vật liệu đã có? Để thực hiện tốt điều này tôi đã chuẩn bị
đầy đủ các dụng cụ hỗ trợ để làm phong phú phương tiện hoạt động tạo hình
như: bút sáp, màu nước, bông tăm, keo sữa, bút vẽ làm từ rễ tre, giấy gói hàng,
các loại quả màu, hột hạt, lá cây, hoa khô, vỏ trứng, lông gà, rơm rạ, vải, len
vụn, ống hút, vỏ sò, vỏ ốc…..Khi đã có đầy đủ các nguyên liệu cần thiết và các
phương tiện thì tổ chức cho trẻ làm đồ dùng đồ chơi như thế nào để đạt hiệu
quả? Tôi đã tận dụng mọi cơ hội phù hợp cho trẻ được làm đồ dùng đồ chơi với
các nguyên vật liệu đã có .

4.3.2.Trong giờ hoạt ðộng GDÂN
Giáo dục âm nhạc là hoạt ðộng nghệ thuật ðýợc trẻ rất yêu thích, trẻ
ðýợc hát giai ðiệu âm nhạc trầm bổng với lời ca ðẹp, ðýợc biểu diễn, vận ðộng,
nhảy múa theo nhịp ðiệu âm nhạc. Những hình thức sinh ðộng ðó sẽ giúp trẻ
cảm nhận nghệ thuật và có tác dụng giáo dục thẩm mỹ.Việc sử dụng nhạc cụ gõ
ðệm theo bài hát, chõi trò chõi làm quen với cao ðộ âm thanh hoặc với tiết tấu
âm nhạc nên giáo viên ðã tận dụng vỏ gáo dừa làm nhạc cụ hay những thanh tre
làm phách tre, lon nýớc ngọt làm xúc sắc… và các bé có thể dùng bút sõn ðể
trang trí nhạc cụ thêm sinh ðộng. Những bộ thời trang dùng biểu diễn vãn nghệ
vào những buổi cuối tuần được làm từ chính những nguyên vật liệu trẻ tìm thấy
trong trường trong các hoạt động ngoài trời từ chính bàn tay của trẻ cũng thật
ngộ nghĩnh.
Ví dụ: Trong giờ hoạt động buổi chiều thứ 5 trẻ xếp, nối, ghép được
những bộ trang phục thời trang từ các lá cây bàng, lá chuối khô, lá dừa… sưu
tầm được ngay trong trường thì cô giáo sẽ cùng trẻ cất giữ lại để cho trẻ sử
dụng ngay trong giờ hoạt động âm nhạc vào sáng thứ 6.

12


Hình 3: Trẻ tự tạo trang phục biểu diễn cho hoạt động âm nhạc.
4.3.3.Trong hoạt ðộng LQVT
Kích thích trẻ sáng tạo là một trong những mục tiêu của giáo dục mầm
non mới, cho trẻ làm quen với toán nhằm kích thích trẻ tìm tòi các cách làm
khác nhau, ðộng viên những cố gắng của trẻ. Khuyến khích trẻ ðặt ra các câu
hỏi, những thắc mắc, diễn tả và chia sẻ ý týởng của mình. Cho trẻ chõi với vật
liệu tự nhiên nhý sỏi, ðá, hạt, lá cây… ðể phát hiện vá so sánh hình dạng, kích
thýớc, mầu sắc, tính chất của chúng. Ví dụ: nếu trẻ chõi với các viên sỏi khác
nhau, trẻ có thể nhận biết ðýợc nó có màu nâu hay trắng, tròn hay dẹt, ráp hay
nhẵn, to hay nhỏ, nặng hay nhẹ và có thể làm gì với những viên sỏi ðó. Trẻ



Khám phá khoa học tạo ðiều kiện cho trẻ tiếp cận với sự vật và hiện
týợng xung quanh, giúp trẻ sống gần gũi, hoà bình với môi trýờng thiên nhiên
và xã hội. Củng cố những tri thức mà trẻ ðã lĩnh hội. Hình thành và rèn luyện
khả nãng cảm giác, tri giác và óc quan sát. Cho trẻ hoạt ðộng tìm tòi, khám phá
và phát hiện những ðiều mới lạ ở xung quanh trẻ. Chính vì vậy mà ðồ dùng trực
quan cũng rất cần thiết cho trẻ khám phá tìm tòi. Ví dụ: Sự nẩy mầm của hạt;
ðiều kiện sống của cây; mùa ðông hay mùa xuân; không khí ngày lễ hội… Ðể
có ðýợc những ðồ dùng trực quan giáo viên có thể sýu tầm tranh ảnh, huy ðộng
phụ huynh hỗ trợ hoặc hýớng dẫn trẻ cùng cô chuẩn bị một số ðồ dùng cần thiết
ðể phục vụ cho tiết học nhý sýu tầm lá, hoa, quả, hột hạt hay nặn, vẽ, xé dán
những con vật ðáng yêu, láp ráp mô hình công viên của bé…từ nhiều nguyên
vật liệu khác nhau. Khi trẻ ðýợc khám phá từ những ðồ dùng do trẻ làm ra hoặc
trẻ sýu tầm ðýợc thì trẻ rất thích và hứng thú tham gia, tích cực hoạt ðộng với
ðồ dùng của chính mình.

Hình 5: Trẻ tự làm đất, gieo hạt cho hoạt động KPKH
Ví dụ: Khám phá trải nghiệm “Hạt nẩy mầm” giáo viên giao nhiệm vụ
cho trẻ sýu tầm vỏ trứng, gáo dừa, chai nhựa… ðựng ðất, nýớc, cô tổ chức cho

15


trẻ trang trí, làm ðất, gieo hạt và hàng ngày quan sát hạt nẩy mầm một số hạt
nhý hạt thóc, hạt ngô, hạt ðậu. Cô giáo hýớng dẫn trẻ ghi nhật ký bằng cách vẽ
lại những gì mà trẻ quan sát ðýợc và nhận xét về những loại hạt khác nhau. Từ
ðó, trẻ nhận biết ðýợc một cách linh hoạt, sáng tạo, tránh cách nhìn máy móc và
bất ðộng
4.4 Biện pháp 4: Tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi từ các nguyên vật

phẩm theo ý týởng của trẻ mà không nhất thiết phải theo một đề tài nhất định.
Hoặc cô có thể gợi mở, hướng dẫn cho trẻ một số trò chơi mới với các nguyên
vật liệu trẻ tìm thấy trong quá trình chơi.
Ví dụ: Trẻ dùng lá chuối gấp ruột mèo; cắt, xé lá dừa làm con cào cào
trong hoạt động ngoài trời ngày hôm trước và giữ lại làm học liệu cho ngày
hôm sau( hình 7).

17


4.6 Biện pháp 6: Tổ chức cho trẻ làm đồ đùng đồ chơi với ngugyên vật liệu
thiên nhiên trong giờ hoạt ðộng tự do và ðón trả trẻ
Mặc dù trong thời gian này cô giáo không có nhiều thời gian để gợi mở,
hướng dẫn trẻ nhưng việc cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi với các nguyên liệu sẵn
có cũng là cơ hội để phát huy khả năng hoạt động của trẻ với nguyên vật liệu
thiên nhiên để tạo ra sản phẩm.

Hình 8: Trẻ hoạt động với các nguyên vật liệu tự nhiên trong giờ trả trẻ.
Tham gia thi giữa các lớp, ðây cũng là hình thức tuy không nhiều thời
gian nhưng cũng rất có tác dụng khuyến khích, động viên trẻ tham gia và tạo ra
sản phẩm theo nhóm, cá nhân và có cơ hội thể hiện cũng như học tập với các
bạn ở lớp khác. Vì vậy tôi đã phối hợp với giáo viên các lớp có kế hoạch thống
nhất để tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động tập thể vào chiều thứ 6 hàng tuần.
Ngoài việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi dân gian và vui văn nghệ thì giáo viên
còn cho trẻ thi làm đồ dùng, đồ chơi từ các nguyên liệu thiên nhiên.
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ các lớp thi hoạt động theo nhóm với nội dung:
“Bé với thế giới động vật” Trẻ đã rất hứng thú và tạo ra những sản phẩm thật
ngộ nghĩnh, phong phú có tính sáng tạo như: những con vật bằng hột hạt, sỏi,
ðá cội…
Những hoạt động trên đây khi trẻ được trải nghiệm, tạo cho trẻ vốn hiểu

dụng hiệu quả.
Những sản phảm triển lãm do bàn tay khéo léo của cô và trẻ tạo nên từ
những nguyên vật liệu thiên nhiên, những ðồ dùng ðã qua sử dụng, kinh phí
không tốn kém nhýng mang lại hiệu quả cao trong học tập vui chõi, góp phần
phát triển tư duy, sự sáng tạo, trí tưởng tượng… và phát triển toàn diện cho trẻ.
5. Kết quả đạt được

19


Những chuyển biến tích cực và đáng mừng sau khi tôi thực hiện các giải
pháp trên khi áp dụng vào đề tài: “Một số biện pháp cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ các nguyên vật liệu tự nhiên” đã đạt được
những kết quả như sau:
5.1. Đối với bản thân
Bản thân tôi đã được tích luỹ và nâng cao trình độ chuyên môn,kinh
nghiệm khi tổ chức cho trẻ làm đồ dùng,đồ chơi và hoạt động sáng tạo với các
nguyên vật liệu tự nhiên.
Biết cách tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động với nguyên liệu thiên nhiên,
tiết kiệm được kinh phí trong việc trang trí lớp, làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.
Biết sử dụng sản phẩm của trẻ để trang trí lớp, tạo môi trường học tập, vui chơi
và sử dụng vào các hoạt động phù hợp nên tiết kiệm được nhiều thời gian.
Nâng cao được kĩ năng, kiến thức tuyên truyền với phụ huynh trong việc
phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ.
Góp phần thực hiện tốt chủ đề “Trường học thân thiện, học sinh tích
cực”
5.2. Đối với nhà trường
Phát huy được vai trò của giáo viên cốt cán làm điểm và nhân ra diện đại
trà trong việc tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi với nguyên vật liệu thiên
nhiên cho trẻ mẫu giáo 4 tuổi trong toàn trường.


Số trẻ

Tạo ra sản phẩm
Trýớc Sau áp
áp

dụng

Tính sáng tạo
Trýớc Sau áp
áp

dụng
dụng
4TA
35
25
32
5
4TB
35
23
34
4
4TC
36
15
35
5

34
20
17
32
23
18
30
84
70
131
59%
49% 92%
tham gia hoạt động với nguyên

vật liệu mở và tạo ra sản phẩm, 100% trẻ thích hoạt động với nguyên vật liệu
mở. Điều này càng khẳng định tính khả thi của đề tài.
100% trẻ có thái độ vui sướng, hành vi đúng đắn với sản phẩm của mình
và của bạn tạo ra, biết thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ bạn bè trong khi hoạt
động. 100% có ý thức thu gom vật liệu để làm đồ dùng, đồ chơi.

21


5.4.Đối với phụ huynh
100% các bậc phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc cho trẻ được
hoạt động sáng tạo với nguyên liệu thiên nhiên đối với việc phát triển của trẻ.
100% các bậc phụ huynh thường xuyên phối hợp với giáo viên và nhà
trường để sưu tầm nguyên vật liệu, phế liệu, phế thải, thực hiện tiết kiệm và vệ
sinh môi trường, nâng cao trách nhiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

trẻ cho trẻ tự sáng tạo với ý tưởng của mình. Ngoài ra, cũng cần kịp thời động
viên khuyến khích trẻ khi tham gia hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo và
khi tạo ra sản phẩm, luôn coi trọng sản phẩm của trẻ để trẻ cảm thấy luôn tự
hào với những sản phẩm mình tạo ra.
Cán bộ quản lý cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, bám sát chuyên môn,
không ngại khó ngại khổ giúp giáo viên thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo
dục trẻ.
Trên đây là “Một số biện pháp cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi làm đồ dùng
đồ chơi tự tạo từ các nguyên vật liệu tự nhiên” tôi đã thực hiện trong năm
học 2014- 2015.
Trong khi nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi không thể tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong Hội đồng thi đua các cấp và các bạn đồng nghiệp đóng góp
giúp cho sáng kiến của tôi được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

23


Mục lục
Thông tin chung về sáng kiến
Tóm tắt sáng kiến
Mô tả sáng kiến
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
2. Cơ sở lý luận của vấn đề
3. Thực trạng của vấn đề
3.1. Thuận lợi

2
3

4.4. Biện pháp 4: Tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi từ các

17

nguyên vật liệu tự nhiên tạo ra sản phẩm đưa vào chơi góc.
4.5 Biện pháp 5: Tổ chức cho trẻ hoạt động với những đồ dùng,

18

đồ chơi của cô và trẻ tạo ra trong giờ hoạt động ngoài trời.
4.6 Biện pháp 6: Tổ chức cho trẻ làm đồ đùng đồ chơi với

20

ngugyên vật liệu thiên nhiên trong giờ hoạt động tự do và đón trả
trẻ.
4.7. Biện pháp 7: Tham gia triển lãm đồ dùng dạy học tự tạo
5. Kết quả đạt được
5.1. Đối với bản thân

22
22
22

5.2. Đối với nhà trường

23

5.3. Đối với trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status