THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Giúp học sinh làm tốt các phép tính về phân số ở lớp 4
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực chuyên môn
3. Tác giả: Nguyễn Thị Thuấn
Nam (nữ): Nữ
Ngày/ tháng/năm sinh: 18 / 06 / 1976
Trình độ chuyên môn: ĐHSP Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Sao Đỏ 1
Điện thoại: 0984 951203
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1
Điện thoại: 03203 882 668
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Phạm vi kiến thức: HS đã học phần phân số, các kiến thức liên quan đến
phân số như qui đồng mẫu số, rút gọn phân số.
Đối tượng áp dụng: HS lớp 4, GV giảng dạy học sinh lớp 4.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013 – 2014 và năm học
2014- 2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ
(KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Thuấn
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
+ Đưa ra các bước giải cụ thể khi dạy học sinh giải các bài toán liên quan.
+ Tránh được những sai sót không đáng có trong việc thực hiện các phép tính ,
cách xác định danh số trong các bước giải bài toán liên quan đến phân số.
+ Tạo sự tự tin, tính sáng tạo cho HS, GV trong việc giải các bài toán liên quan
đếncác phép tính với phân số. GV cũng như HS có thể vận dụng để sáng tạo ra
một bài toán khác từ những bài cơ bản đã cho.
+ Sáng kiến của tôi được áp dụng trong chương trình toán lớp 4 phần phân số
và một số tiết học ở lớp 5 liên quan đến các dạng bài về phân số.
- Khả năng áp dụng sáng kiến:
+ Sáng kiến được áp dụng trên tất cả các đối tượng học sinh lớp 4, có mở rộng
thêm đối với học sinh lớp 5 ở phần kiến thức liên quan đến phân số. Việc thực
2
hiện để nâng cao hiệu quả được thực hiện mọi lúc trong các giờ học toán tạo
hứng thú và khả năng ham tìm hiểu cho học sinh.
- Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Khi được áp dụng, sáng kiến này đã giúp học sinh khắc phục được những sai
lầm khi làm các bài toán liên quan đến các phép tính với phân số. Học sinh hiểu
được bản chất của bài toán. Các em có thói quan tìm tòi, khám phá kiến thức
mới.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Học sinh thành thạo trong làm các bài tập liên quan đến các phép tính về phân
số. Những thao tác như rút gọn phân số, quy đồng mẫu số được các em làm rất
thành thạo. Việc kết hợp các phép tính trong một bài toán linh hoạt hơn, thứ tự
thực hiện phép tính trong một bài toán không có sự nhầm lẫn. Việc giải toán có
lời văn học sinh xác định được các yêu cầu của bài toán, không nhầm lẫn danh
số của bài toán. Hiệu quả của giờ học toán nâng cao rõ rệt.
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng, mở rộng sáng kiến:
mẫu số còn lớn, kĩ năng rút gọn phân số và qui đồng tìm mẫu số chung nhỏ nhất
khi thực hiện phép tính chưa thành thạo.Để góp phần giúp học sinh tiểu học
nhận ra và khắc phục những sai lầm thường mắc phải, giúp các em khắc sâu
kiến thức, kỹ năng cơ bản trong việc giải các bài tập toán bốn phép tính về phân
số ở lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, hiệu quả dạy học
giải toán và các bài toán bốn phép tínhvề phân số ở tiểu học. Vì những lí do trên
đây mà tôi đã chọn sáng kiến: “Giúp học sinh làm tốt các phép tính về phân số
ở lớp 4” để áp dụng vào hướng dẫn học sinh giải toán trong năm học 2013 2014 và năm học 2014 - 2015.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề:
2.1. Mục tiêu của môn học
Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho
việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn toán cũng như những
môn học khác là cung cấp cho trẻ những tri thức khoa học ban đầu, những nhận
thức về thế giới xung quanh với mục đích phát triển các năng lực nhận thức,
hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người. Môn
toán ở trường tiểu học là một môn học độc lập, chiếm phần lớn thời gian trong
chương trình học của trẻ.
Môn Toán là môn học quan trọng trong tất cả các môn học khác. Nó là chìa
khoá để mở ra các môn học khác. Đồng thời nó có khả năng phát triển tư duy
lôgic, phát triển trí tuệ cần thiết giúp con người vận dụng vào cuộc sống hàng
4
ngày. Do vậy thời lượng môn toán trong chương trình ở bậc Tiểu học chiếm tỉ lệ
cao so với các môn học khác (5 tiết/ tuần).
Trong giờ toán, bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo các phương pháp giảng dạy
phù hợp với yêu cầu bài học và từng đối tượng học sinh thì người giáo viên cần
phải giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri thức Toán học. Học sinh có
phương pháp học toán phù hợp với từng dạng bài toán thì việc học mới đạt kết
3.2. Tìm hiểu về thực trạng của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học
về 4 phép tính với phân số.
3.2.1. Việc học tập của học sinh:
Trong nội dung phần phân số của lớp 4 thì phần thực hiện 4 phép tính cộng,
trừ, nhân, chia là nội dung học sinh hay nhầm lẫn do hiểu chưa đúng bản chất và
ghi nhớ máy móc nên trước một bài bất kỳ các em thường đặt bút tính luôn
nhiều khi dẫn đến những sai sót không đáng có do các em chưa chú ý đến việc
cần rút gọn sau khi tính, sử dụng mẫu số chung nhỏ nhất khi qui đồng để thực
5
hiện phép tính cộng, trừ phân số khác mẫu hay trường hợp phân số có tử số và
mẫu số bằng nhau thì viết dưới dạng phân số bằng 1 và phân số có mẫu số là 1
thì viết kết quả dưới dạng số tự nhiên,…
Trí nhớ của học sinh chưa bền vững, tư duy của các em mới chỉ là tư duy cụ
thể, tư duy trừu tượng và khái quát phát triển chưa tốt (nhất là với học sinh yếu,
kém) nên khi gặp những bài cần có sự tư duy logic như tính mẫu số chung nhỏ
nhất hay rút gọn về phân số tối giản thì các em không làm được do kĩ năng
nhẩm chậm, do chưa thành thạo bảng nhân chia số tự nhiên. Hoặc với những bài
tập có liên quan đến phân số với số tự nhiên cũng khiến các em lúng túng.
Bên cạnh đó, học sinh Tiểu học có đặc điểm là chóng nhớ nhưng nhanh quên.
Ngay trong tiết học bài mới, cho các em luyện tập thì các em làm được bài ngay
, thậm chí rất tốt nhưng chỉ sau một thời gian ngắn kiểm tra lại thì hầu như các
em đã quên hoàn toàn, đặc biệt là những tiết ôn tập, luyện tập cuối năm.
3.2.2. Việc dạy học của giáo viên:
Nhận thức của học sinh Tiểu học là tư duy trực quan đến tư duy trừu tượng
nên đa số các giáo viên khi dạy dạng bài này thường sử dụng đồ dùng trực quan
kết hợp với cắt, ghép hình để giúp học sinh nhận diện, phát hiện ra khái niệm.
Bên cạnh đó, số ít giáo viên không sử dụng đồ dùng trực quan để xây dựng công
44
34 em = 77.3%
10 em = 22.8%
8 em = 18.2%
Qua bảng trên ta thấy : Các em đều biết vận dụng kiến thức cơ bản vào
bài làm (Câu 1; 2), song số học sinh biết vận dụng kiến thức để giải quyết bài
tập mở rộng hơn còn hạn chế.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
6
Qua giảng dạy và khảo sát chất lượng học tập của học sinh, tôi đã xây dựng
cho mình những việc làm cụ thể sau:
4.1. Xây dựng mức độ cần đạt của học sinh:
Để học tốt nội dung về phân số, cụ thể là các phép tính với phân số thì học sinh
cần phải :
- Biết khái niệm ban đầu về phân số. Biết đọc viết các phân số.
- Nắm chắc kiến thức cơ bản của phân số và vận dụng để nhận ra các phân số
bằng nhau, rút gọn phân số và quy đồng mẫu số các phân số.
- Biết thực hiện bốn phép tính về phân số. Vận dụng để tính giá trị biểu thức,
tìm thành phần chưa biết trong phép tính và giải toán có lời văn mà nội dung về
PS.
4.2. Kiểm tra các kiến thức về phân số có liên quan đến việc xây dựng kiến
thức về cộng, trừ, nhân, chia phân số.
- Học sinh thành thạo trong việc qui đồng mẫu số. Biết tìm mẫu số chung nhỏ
nhất.
- Rút gọn phân số thành thạo. Rút gọn phân số ở mức tối giản.
- Nhớ: phân số có tử số bằng mẫu số thì viết dưới dạng số tự nhiên là 1. Phân số
có mẫu số là 1 thì viết dưới dạng số tự nhiên.
+ =
8 8
8
?(2+3=5)
7
3
2
5
và với tử số của phân số
8
8
8
+ Em có nhận xét gì về mẫu số của hai phân số
3
2
và với mẫu số của phân số
8
8
5
3 2
5
trong phép cộng + =
( ba phân số có mẫu số cùng là 8)
8
4
2
m , chiều rộng m . Tính diện tích
5
3
- Gọi HS lên bảng tô màu diện tích hình chữ nhật được cắt đi.
- Gợi ý học sinh nhận xét:
+ Muốn tính diện tích hình chữ
nhật trên ta làm phép tính gì?
4 2
×
5 3
+ Dựa vào đâu em biết? Dựa vào
cách tính diện tích hình chữ nhật.
+ Hình vuông cạnh 1m được chia thành mấy phần bằng nhau? ( 15 phần bằng
nhau).
+ Phần diện tích hính chữ nhật em vừa tô màu chiếm bao nhiêu phần của diện
tích hình vuông?(
+
8
8
diện tích hình vuông hay m2).
15
x3= + + )
5
5
5
5 5
9
+ Kết quả của phép tính? ( )
5
+ Viết phép nhân
+ Nhận xét về tử số của phép nhân? ( 9 = 3 x 3 ; trong đó thừa số thứ 1 là tử số
của phân số
3
; thừa số thứ 2 là số lần mẹ lấy).
5
+ Muốn nhân phân số với số tự nhiên ta làm thế nào? ( Lấy tử số nhân với số tự
nhiên và giữ nguyên mẫu số).
4.3.4. Hướng dẫn học sinh xây dựng phép chia hai phân số
- Giáo viên nêu ví dụ: Hình chữ nhật ABCD có diện tích
8 2
2
m , chiều rộng
15
5
m.Tính chiều dài hình chữ nhật đó?
18 3
: =?
35 5
Từ kết quả của phép chia đã tìm được dựa trên cơ sở phép nhân giáo viên giới
thiệu với học sinh phép chia phân số.
4.4. Khắc sâu các tính chất cơ bản của phân số liên quan đến các phép tính.
- Để làm tốt các bài toán liên quan đến 4 phép tính cộng, trừ, nhân , chia phân
số, ngoài việc phải thành thạo các kĩ năng cơ bản, các em còn phải nhớ thứ tự
thực hiện các phép tính trong biểu thức như đối với số tự nhiên. Bên cạnh đó,
học sinh phải nhớ được phân số cũng có đầy đủ các tính chất để áp dụng tính
nhanh như số tự nhiên. Bởi vậy, học sinh cần nắm vững được các tính chất sau:
- Tính chất giao hoán.
a c
c
a
+ = +
b d
d
b
a
c
c
a
+ Phép nhân:
x = x
b
d
d
b
b
d
n
- Tính chất một số nhân với một tổng:
a
c
m
a c
a m
x( + )= x + x
b
d
n
b d
b n
- Tính chất một số nhân với một hiệu:
a
c
m
a c
a m
x( - )= x - x
b
d
n
b d
b n
):
= :
- :
d
n
b n d
n
- Tính chất một tổng trừ đi một số
a
b
( +
c
m
a c
m
a
m c
)= + = +
d
n
b d
n
b
n d
- Quy tắc một số trừ đi một tổng
a
b n
d
b
d n
- Quy tắc một số chia cho một tích
11
a
c
m
a m c
a c m
: ( x ) = ( : ): =( : ):
b
d
n
b n d
b d n
* Nhằm khắc sâu về bản chất của mỗi công thức, mỗi tính chất tôi cùng học
sinh đưa ra những ví dụ minh họa và giải quyết vấn đề.
4.5. Khắc phục những lỗi học sinh thường mắc phải :
4.5.1.Phép cộng đối với phân số, với số tự nhiên và ngược lại.
VD: Tính
3
1
2
7
2)
Các ví dụ trên các em thường làm sai bởi những nguyên nhân:
+ Ví dụ 1 và 2 các em làm sai là do các em chưa nắm chắc được quy tắc cộng
hai phân số cùng mẫu số và khác mẫu số. Trong các phép tính này, các em đã
nhầm lẫn với phép nhân hai phân số .
+ Ở ví dụ 3: Học sinh mắc phải do chưa nắm chắc bản chất của phân số, chưa
nắm vững chú ý trong phân số (Mọi số tự nhiên đều có thể viết dưới dạng phân
số có mẫu số là 1). Từ đó, học sinh không vận dụng được đúng các thao tác thực
hiện: đưa hai phân số về cùng mẫu số rồi mới thực hiện cộng hai phân số cùng
mẫu số.
Để khắc phục sai lầm này của học sinh, trong khi dạy học bài mới, tôi chú ý
khắc sâu kiến thức cơ bản. Yêu cầu học sinh nắm chắc quy tắc, hiểu rõ bản chất
quy tắc cộng hai phân số cùng mẫu số và khác mẫu số.
- Rèn kỹ năng giải toán qua việc chú ý đưa ra những lỗi mà học sinh thường
mắc phải. Yêu cầu học sinh thực hiện. Sau đó, giáo viên phân tích kỹ nguyên
nhân sai lầm của các em để kịp thời uốn nắn, sữa chữa.
- Rèn kỹ năng nhớ quy tắc. Rèn các em thói quen quan sát bài toán, nhận biết
đặc điểm của phân số trước khi thực hiện phép tính sau đó nêu thứ tự các bước
thực hiện phép cộng hai phân số( nếu có).
Vì vậy, với 3 ví dụ trên được chữa cho đúng như sau:
* Ví dụ a :
1
2 3
+ = ( Cộng tử số với tử số mẫu số giữ nguyên )
7
7 7
* Ví dụ c: Khi học sinh làm sai, tôi gợi ý học sinh:
+ Hãy chuyển 5 thành phân số có mẫu số là 1:
5=
5
1
+ Thực hiện phép cộng hai phân số khác mẫu số:
3+
6 3 6 21
6 27
= + = + =
7 1 7 7
7
7
Như vậy, trong ví dụ c giáo viên cần chú ý cho học sinh nắm vững quy tắc
cộng phân số, cách chuyển đổi số tự nhiên về phân số sau đó thực hiện cộng hai
phân số như đã học ở ví dụ 1 và 2.
4.5.2.Phép trừ đối với phân số, với số tự nhiên và ngược lại.
Ngoài các sai lầm thường gặp như khi thực hiện phép cộng, các em còn mắc
phải một số sai lầm như sau:
1−1
0
1 1
1 1
Có học sinh làm : - =
* Các em chưa cẩn thận, còn ẩu trong tính toán.
Để khắc phục những sai lầm trên, tôi đã làm:
- Giúp các em nắm chắc cách trừ hai phân số cùng mẫu số và khác mẫu số.
- Trong quá trình làm bài có thứ lại để kiểm tra kết quả.
- Với học sinh nhận thức chậm hơn, cần sát sao tới học sinh ở từng bước nhỏ
của phép tính
- Trong ví dụ 1 và 2: Cần nhấn mạnh giúp học sinh nắm vững quy tắc trừ hai
phân số. Bên cạnh đó, chỉ ra chỗ sai lầm cho học sinh thấy, rồi cho các em làm
các bài tập tương tự.
+ VD1 :
1 1
5 15
Với ví dụ này, bình thường học sinh sẽ tìm được mẫu số chung là 75 song giáo
viên nên gợi ý giúp học sinh tìm mẫu số chung nhỏ nhất :Tức là đi tìm một số
nhỏ nhất mà chia hết cho cả 15 và 5 số đó là 15.
Do đó:
3 1
2
1 1
= =
5 15
5 15
15
+ Ví dụ 2: Việc nắm vững cách chuyển số tự nhiên về phân số của các em chưa
chắc chắn ( ví dụ: 3 =
Thử lại: :
5 15
15
2 1
1
= thì là kết quả đúng)
5
15 15
4.5.3.Phép nhân đối với phân số, với số tự nhiên và ngược lại.
Với phép nhân thì các em thường ít mắc sai lầm song vẫn có một số trường hợp
đặc biệt và số ít các em mắc phải.
VD A : Tính :
2
3
2
3
6
x có học sinh làm :
x = ( trường hợp này các em
9
9
9
9
9
nhầm với phép cộng )
4
Khi tìm hiểu được các nguyên nhân gây nên những sai lầm của học sinh, tôi đã
có những biện pháp khắc phục cụ thể:
+ Trước khi làm bài tập yêu cầu học sinh nhắc lại quy tắc và một số chú ý trong
sách giáo khoa có liên quan đến kiến thức bài học.
+ Trong khi thực hành mẫu, tôi thực hiện từng bước một rõ ràng, cụ thể không
thể làm đơn giản ( làm tắt ). Nhấn mạnh giúp học sinh phân biệt rõ phần chú ý
của phép cộng số tự nhiên với phân số, quy tắc nhân phân số …Chỉ rõ sai lầm
cho các em khắc phục và tránh lặp lại những sai lầm đó.
+ Hướng dẫn học sinh khắc phục cách làm sai:
2
3
2 x3
6
x =
=
(nhân tử số với tử số, mẫu số với mẫu số )
9
9
9 x9
81
4
5
4
20
4
5x 4 20
*Ví dụ 2: 5 x
=
x
=
8
7 x8
56
VD A: Tính:
14
* Trường hợp 2:
VD B: Tính:
5
3
:
=
7
8
5 x7
35
=
8 x3
24
5
5
5x 2
10
: 2 Học sinh còn nhầm:
5
8
5 x8
40
x
=
=
( nhân phân số thứ hai đảo ngược)
7
3
7 x3
21
- Với ví dụ B: Một lần nữa, nhấn mạnh giúp học sinh nhớ:số tự nhiên là phân số
đặc biệt. Sau đó hướng dẫn cách làm:
Hoặc:
5
5 2
5
1
5
: 2 =
: = x =
6
6 1
6
2 12
4.5.5.Những sai lầm khi tính giá tri biểu thức phân số.
1 1
2
+ x
3 3
5
5 2
4
VD2:
x :
7 3
3
VD1:
1 1
2 2
+ x = x
3 3
5 3
5 2
4 5
Học sinh làm: x : = x
7 3
3 7
Học sinh làm:
2 4
7
VD1:
1
3
1
+
3
1
4
2
x
3
+
2
1
2
5
2
7
= +
=
+
=
5
3
15
4
12
12
12
12
4
10
4
10 x3
30
5
:
=
:
=
=
=
3
21
3
21x 4
84
14
x
Ngoài ra, biểu thức chỉ có phép tính cộng hoặc phép tính nhân thì các em có thể
thực hiện từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái đều được.
3
4
( Thực hiện nhân từ trái qua phải )
Trên đây là một số sai lầm mà học sinh mắc phải khi giải các bài toán bốn
phép tính với phân số. Mỗi lần mắc sai lầm được giáo viên chỉ rõ sẽ tạo cho học
sinh những kinh nghiệm, góp phần bồi dưỡng năng lực giải toán cho bản thân
các em. Để có thể vận dụng vào đời sống đ đi hỏi học sinh không những biết tránh
sai lầm trong giải toán nêu trên mà còn tránh được những sai lầm không đáng có
xảy ra trong các bài toán có lời văn.
4.5.6. Một số sai lầm trong những bài toán có lời văn liên quan đến phân số:
VD1: ( SGK - Toán 4 - trang 133): Một hình chữ nhật có chiều dài
chiều rộng
6
m và
7
3
m. Tính diện tích hình chữ nhật đó?
5
Ở ví dụ này, một vài học sinh thường lúng túng không biết làm thế nào vì ở
lớp 3 các em mới chỉ tính diện tích của hình chữ nhật với số đo là số tự nhiên.
Vì vậy, khi gặp trường hợp này cần nhắc nhở em thực hiện bình thường như em
đã làm với số tự nhiên.
VD 2: ( Bài 3- SGK - Toán 4 - trang 130 ): Trong một công viên có
đã trồng hoa và cây xanh, trong đó
6
diện tích
7
6 2
16
- = ( diện tích)
7 5
35
VD3: Một người bán vải, lần thứ nhất bán được
3
1
tấm vải, lần sau bán được
5
4
tấm vải đó. Hỏi?
a.Cả hai lần bán được bao nhiêu phần tấm vải?
b.Còn lại mấy phần tấm vải ?
Ở ví dụ này, phần a tất cả các em đều làm được. Xong đến phần b, học sinh
không biết tính thế nào nên lúng túng và tìm một cách tính bất kỳ không biết
đúng hay sai.
Việc học sinh làm sai hoặc không biết làm phần b của bài tập là do các em còn
bị chi phối nhiều vào từ ngữ trong đề toán nên chưa hiểu hết đề toán. Không
hiểu được số phần vải ban đầu là 1 đơn vị hay bằng số phần tương đương. (ở
đây coi số phần vải ban dầu là 1 hay là
20
)
20
Với sai lầm này của học sinh, giáo viên giúp học sinh khắc phục bằng cách:
3
tấm vải
20
Tóm lại:
Qua việc phân tích những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải các
bài toán bốn phép tính với phân số ở lớp 4. Đây là phần mới theo chương tŕnh
SGK hiện nay do đó mà học sinh dễ mắc sai lầm dù rất đơn giản. Mặc dù đây là
những kiến thức mới làm quen ban đầu. Để hạn chế những sai lầm trên, góp
phần nâng cao hiệu quả việc dạy học toán ở Tiểu học. Giáo viên khi dạy học cần
lưu ý một số điểm cơ bản sau:
+ Khi truyền tải kiến thức mới giáo viên cần khắc sâu cho các em ngay từ đầu,
chú ý đến những sai lầm dù rất nhỏ.
17
+ Khi thực hiện các phép tính giáo viên cần thực hiện đúng các bước, cách tŕnh
bày bài toán.
+ Sau khi thực hiện các phép tính xong giáo viên hướng dẫn các em thử lại để
kiểm tra kết quả mình đã làm.
+ Giáo viên cần dạy cho các em một cách tổng quát để cho các em không nhầm
lẫn khi biểu thức số thay đổi. Đặc biệt là cách tính nhanh trong tính tổng hoặc
tích nhiều phân số.
+ Giáo viên cần khắc sâu thứ tự thực hiện các phép toán ( nhân chia trước, cộng
trừ sau). Đối với phép cộng và phép nhân thì các em thực hiện từ phải qua trái
hoặc từ trái qua phải.
Để hạn chế những sai lầm trên và để kiểm chứng , đối chiếu việc thực hiện
của giáo viên và thực hành của học sinh. Góp phần nâng cao chất lượng dạy
Học sinh vận Học sinh biết làm Học sinh vận
Số học sinh
dụng bài tập cơ bài tập mở rộng, dụng chậm kiến
bản
nâng cao
thức cơ bản
38
38em = 100%
25em = 92,5%
0 em = 0 %
Nhìn vào bảng kết quả thực nghiệm của hai lớp 4C và 4D ta thấy: Tuy số
học sinh bằng nhau nhưng kết quả cho thấy sự chênh lệch về chất lượng học
sinh tương đối cao. Lớp 4D thực nghiệm đã khắc phục được tình trạng học sinh
vận dụng kiến thức cơ bản chậm, học sinh biết làm bài tập mở rộng kiến thức
18
nâng cao hơn. Điều đó chứng tỏ khi dạy chú trong đến phân tích kỹ những sai
lầm cho học sinh thì các em nắm bài tôt hơn và không vấp phải những sai lầm
đơn giản.
Như vậy dạy học chú trọng đến việc phân tích kỹ những sai lầm cho học sinh
là một trong những biện pháp tích cực hoá hoạt động học tập cho học sinh và cải
tiến phương pháp dạy học. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào từng bài học cụ thể,
sử dụng sao cho phù hợp. Qua đó chúng ta thấy việc khắc phục những sai lầm
mà học sinh mắc phải trong việc giải các bài toán bốn phép tính về phân số.
Hình thức này không tốn nhiều công sức nhưng đem lại hiệu quả cao, góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học toán ở tiểu học.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
nhỏ cũng là giúp các em rèn luyện tính tỉ mỉ , nghiêm túc, tính kỷ luật cao trong
học tập. Hình thành nhân cách, góp phần đào tạo con người Việt Nam trong thời
kỳ HĐH- CNH đất nước tự chủ, năng động, sáng tạo, tự giải quyết các vấn đề
mà cuộc sống đặt ra.
- Nêu và phân tích, chỉ rõ nguyên nhân mắc phải sai lầm của học sinh khi giải
các bài toán liên quan đến phép tính phân số và dạng toán có lời văn, góp phần
giúp các em học tốt hơn các dạng toán tỷ số phần trăm sau này.
- Đề xuất và đưa ra một số lưu ý khắc phục sai lầm giúp học sinh tránh được
những sai lầm không đáng có, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy học toán ở
tiểu học .
Qua thực nghiệm sư phạm, với kết quả thực nghiệm đã kiểm chứng được giá
trị của việc phân tích kỹ những sai lầm của học sinh trong dạy học giải các bài
toán bốn phép tính với phân số. Với học sinh tiểu học môn toán chiếm vị trí rất
quan trọng là cơ sở để học tập tốt các môn học khác và học toán ở các lớp trên.
Vì vậy mỗi giáo viên tiểu học cần nhận thức đúng đắn vị trí và vai trò của môn
toán để từ đó tìm ra những hướng đi đúng đắn cho mình trong việc dạy học toán
trong nhà trường tiểu học. Người giáo viên tiểu học cần nắm vững nội dung,
chương trình, nắm được các đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học, nắm
được những điểm yếu, những sai lầm mà học sinh thường mắc phải. Trong quá
trình soạn giảng, giáo viên cần quan tâm đến việc phát hiện các “bẫy” tìm ra
nguyên nhân sai lầm để kịp thời sửa chữa, bổ sung kiến thức cho học sinh, giúp
học sinh năm vững kiến thức và kỹ năng cơ bản trong việc giải các bài toán bốn
phép tinh về phân số nói riêng và học toán nói chung.
2. Khuyến nghị:
2.1. Đối với giáo viên:
- Cần có nhận thức đúng: giáo viên là chủ thể trực tiếp đổi mới phương pháp
dạy học, không ai làm thay được và điều đó diễn ra thường xuyên, liên tục trong
bài học, môn học, lớp học, trường học và quá trình dạy học.
20
phương pháp dạy học của giáo viên trong tổ. Nếu công việc này được làm
thường xuyên, có kế hoạch thì chắc chắn sẽ có tác dụng và hiệu quả cao.
- Ban giám hiệu thường xuyên thăm lớp dự giờ để rút kinh nghiệm cho giáo
viên nâng cao chất lượng dạy học.
- Tạo điều kiện phát huy những năng lực, sự sáng tạo trong giảng dạy của từng
cán bộ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
- Có đầu tư hợp lí cho việc mua sắm phương tiện dạy học và các tài liệu chuyên
môn phục vụ cho dạy và học. thường xuyên tổ chức các chuyên đề, hội thảo tập
trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, lấy đó là một trong những tiêu chí
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
2.3. Đối với các cấp quản lí:
- Nên tổ chức nhiều chuyên đề "đổi mới phương pháp dạy học" hơn nữa trong
mỗi kì học, trong mỗi chuyên đề nên tập trung vào những việc làm cụ thể, tránh
mang nặng tính lí thuyết khó vận dụng.
- Có kế hoạch cung ứng sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo và đồ dùng dạy
học sớm hơn. Việc làm này nên được làm ngay từ khi kết thúc năm học cũ giúp
21
cho giáo viên có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu nội dung trước khi tham gia các
lớp bồi dưỡng thường xuyên trong hè.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên được đi học các lớp nâng cao chuyên
môn nghiệp vụ.
Trên đây là toàn bộ nội dung sáng kiến: “Giúp học sinh làm tốt các phép
tính về phân số ở lớp 4” với mục đích: “Đưa học sinh vào vị trí chủ thể của
hoạt động nhận thức, học sinh được hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn”.
Những sáng kiến mà tôi thu được qua quá trình nghiên cứu cũng không phải là
cái mới so với kiến thức chung về môn toán ở tiểu học, song lại là cái mới đối
với bản thân tôi. Ngoài việc tự rút ra cho mình những kinh nghiệm để giảng dạy
8
-1
5
2
5
;
3 5
:
4 7
;
2
:4
5
Câu 2: Tính:
2
4
x
5
7
;
2x
10
8 5 8−5
3 1
- =
= =
;
9 9
9
9 3
2 6
2+6
8
+ =
=
;
7 7
7
7
8
8 5 8−5 3
=
- 1= − =
5
5 5
5
5
;
5 4 5 x 4 20 10
2x
;
Câu 3: Chiều rộng thửa ruộng là:
23 1 23
x = ( m)
4 2 8
Diện tích thửa ruộng là:
23 23 529 2
x =
(m )
8 4
32
529 2
(m )
Đáp số:
32
Câu 4:
1-
2
3 2 1
= − =
3 3 3
3
7 1
− =
5 3
- Nhận xét, cho điểm học sinh.
- Trả lời.
- Hỏi:
+ Muốn cộng hai phân số khác mẫu số ta làm như
thế nào?
+ Muốn trừ hai phân số khác mẫu số ta làm như thế
nào?
- Nhận xét chung.
3.2. Bài mới.
3.2.1. Giới thiệu bài.
- Các em đã học cách cộng và trừ các phân số cùng
mẫu số và khác mẫu số. Vậy còn phép nhân hai
- Lắng nghe.
phân số thì sao? Bài học hôm nay sẽ giúp các em
biết cách thực hiện phép nhân hai phân số.
3.2.2. Tìm quy tắc thực hiện phép nhân phân số
dựa vào diện tích hình chữ nhật.
- Yêu cầu học sinh gấp sách và quan sát lên bảng.
- Treo bảng phụ vẽ sẵn hình vuông:
- Lắng nghe.
- Nêu lại bài toán.
- Nêu bài toán: Có hình vuông ABCD cạnh 1m.
Trên diện tích hình vuông cắt đi một hình chữ nhật
có chiều dài
được cắt đi.
+ Muốn tính diện tích hình chữ nhật trên ta làm
phép tính gì?
+ Dựa vào đâu em biết?
+ Dựa vào quy tắc tính
diện tích hình chữ nhật:
Muốn tính diện tích hình
chữ nhật ta lấy số đo
chiều dài nhân với số đo
chiều rộng.
+ Diện tích hình vuông là
1m².
Viết phép tính:
4 2
×
5 3
- Vì phép tính này học sinh chưa được học nên giáo
viên hướng dẫn học sinh tính diện tích hình chữ
nhật bằng cách:
Quay lại hình vuông ban đầu.
+ Hình vuông ABCD cạnh 1m thì có diện tích là
bao nhiêu?
Trên diện tích hình vuông cô chia thành 15 phần
bằng nhau như hình vẽ.
+ Ai đã tính được diện tích hình chữ nhật rồi?
nào chúng ta cũng có trực quan để tìm ra kết quả
của phép tính. Muốn thực hiện được phép tính
chúng ta phải biết cách tính.
+
8
là kết quả của phép tính nào?
15
+ Nhìn vào tử số, em thấy 8 là do phép tính nào tạo
thành?
25
+ 8 là kết quả của 4 x 2.
+ 4 là tử số của phân số
thứ nhất.
+ 2 là tử số của phân số
thứ 2.
+ 15 là kết quả của 5 x 3.
+ 5 là mẫu số của phân số
thứ nhất.