UBND THỊ XÃ CHÍ LINH
TRƯỜNG THCS CHÍ MINH
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO
HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN TẬP LÀM VĂN
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
Năm học 2014- 2015
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học
sinh lớp 8 thông qua dạy học phần tập làm văn.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Ngữ văn lớp 8 ở trường THCS
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thủy
Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 11 tháng 9 năm 1979
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Chí Minh
Điện thoại: 0984 403 224
0320 3585 548
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Chí Minh- Chí Linh- Hải Dương
Điện thoại: 0320 3585 548
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Tên đơn vị: THCS Chí Minh
Bên cạnh việc động viên, khuyến khích, giáo viên cũng cần có biện pháp đối
với những học sinh còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại như yêu cầu các em ở lại sau
buổi học để làm bài tập, mượn bài của bạn chép lại nhiều lần …
Khi chọn hướng nghiên cứu “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn
bản cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học phần Tập làm văn” với mục đích cung
cấp cho học sinh một con đường nhanh và dễ để tạo lập văn bản trong khi làm bài
viết. Đồng thời giúp cho bản thân tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề: Tìm hiểu đề, viết
đoạn văn trong văn bản tự sự, liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự từ đó hình
thành cho mình kĩ năng để góp phần làm tốt bài văn. Ngoài ra với mục đích để trao
đổi với đồng nghiệp để cùng nhau bổ khuyết, xây dựng cho giải pháp càng hoàn
thiện hơn trong quá trình áp dụng.
Đối với sáng kiến này tôi nghiên cứu và dừng lại ở các vấn đề:
- Tìm hiểu các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn như: Năng lực giải
quyết văn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý bản thân, năng lực giao tiếp,
năng lực hợp tác, năng lực thưởng thức văn học, đặc biệt là năng lực tạo lập văn
bản…
- Tìm hiểu đề;
- Viết đoạn văn trong văn bản tự sự;
- Liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự.
Qua việc nghiên cứu này cung cấp cho học sinh những giải pháp giúp các em
biết tạo lập một văn bản đúng và hay.
Những biện pháp này chỉ áp dụng trong phạm vi văn bản tự sự trong chương
trình Ngữ văn lớp 8.
Sáng kiến này đã và đang được bản thân tôi vận dụng trong quá trình giảng dạy
từ học kì I năm học 2014- 2015 cho đến nay và nhận thấy có nhiều tín hiệu khả
quan. Vì vậy tôi cũng muốn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp, rất mong được sự
góp ý để sáng kiến hoàn thiện có thể ứng dụng để nâng cao chất lượng môn Ngữ
văn.
sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết. Bên cạnh đó việc viết đúng kiến
thức cơ bản cũng vô cùng quan trọng, kiến thức cơ bản là “bột”, “có bột mới gột
nên hồ”.
Hình thức trình bày là sự thể hiện hình thức bố cục của bài văn trên trang giấy.
Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy, chưa cần đọc đã
thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn thế người viết không chỉ phải
chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh của mình chưa đáp ứng
được những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn
còn hiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đoạn văn trong
bài thường sai quy cách. Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết.
Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinh
làm tốt bài văn tự sự. Qua thời gian tìm tòi và vận dụng, cho đến nay tôi đã tìm
được cho mình một cách làm mang lại hiệu quả cao. Trong cách làm đó vấn đề tích
hợp có vai trò rất quan trọng. Đó cũng là yêu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay.
Cũng chính xuất phát từ đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào
thực tế giảng dạy “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học
sinh lớp 8 thông qua phần tập làm văn”.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS nói riêng và trong nhà trường nói
chung giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực đáp ứng yêu cầu phát
triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển cho học sinh bốn kĩ năng đó
là: “nghe - nói - đọc - viết”. Với đặc trưng của môn học, môn Ngữ văn triển khai
các mạch nội dung bao gồm các phân môn: Văn, Tiếng Việt, Làm văn nhằm hướng
dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập các văn bản theo các kiểu loại khác
nhau. Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc, môn Ngữ văn giúp học sinh
trọng luyện tập và ra bài tập về nhà cho các em để từ đó hình thành kĩ năng làm bài.
3.2 Về phía học sinh, do đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải lao
động hàng ngày ở ngoài đồng ruộng nên ít có thời gian để đọc các tài liệu tham
khảo, mở rộng hiểu biết.
Xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy học
nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo. Vì vậy chỉ có thể nắm bắt được
những gì SGK cung cấp.
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh lại ít có điều kiện cũng
như thời gian để luyện tập. Bên cạnh đó học sinh là con em những gia đình thuần
nông (vốn từ không phong phú do ít giao tiếp với mọi người) kết hợp với những
điều kiện trên làm cho các em nghèo nàn về vốn từ nên khi viết cũng thêm phần
khó khăn.
Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về nhà
không làm bài nên khi làm bài thường vụng về, lúng túng … khi viết văn.
3.3. Những thuận lợi và khó khăn
3.3.1. Thuận lợi
Ngữ văn là môn học quan trọng trong chương trình THCS nên rất được sự
quan tâm của ngành. Hàng năm thường có các đợt tập huấn nhằm củng cố cũng
như nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên Ngữ văn. Trước khi bước vào
năm học 2014- 2015, phòng Giáo dục và đào tạo cũng đã tổ chức tập huấn “Dạy
học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học
sinh” cho các giáo viên Ngữ văn.
Ban giám hiệu cũng như tổ chuyên môn thường xuyên quan tâm, tạo điều
kiện cho giáo viên môn Ngữ văn dạy tốt, vận dụng các phương pháp và hình thức
dạy học vào công tác giảng dạy để nâng cao hiệu quả dạy dọc.
Giáo viên trong tổ thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong
quá trình công tác. Nhờ vậy có thể học hỏi kinh nghiệm của nhau, phát huy điểm
tích cực, hạn chế những yếu kém trong dạy học.
trung Điểm yếu/ kém
Khối
SL
3
%
3,1
SL
27
%
27.6
SL
52
%
51.0
8: 98
5.1. Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh
SL
%
Câu hỏi 2: “ Em có thấy tự tin, hứng thú khi tạo lập văn bản trong môn Ngữ văn
không ?” Nếu em thích vì nhiều lí do, vui lòng điền đủ các thông tin.
Số học sinh khảo Em thấy tự tin,
sát (em)
Khối 8: 98
hứng thú.
SL
%
35
35.7
Em không thấy tự
Ý kiến khác
tin, hứng thú
SL
%
46
46.9
SL %
17 17.4
4. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
4.1. Các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức
kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực
4.1.3 Năng lực hợp tác
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân
và tập thể trong học tập và cuộc sống.
Trong môn Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh cùng nhau
chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học
sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra đồng
thời lắng nghe những ý kiến trao dổi, thảo luận của nhóm đê tự điều chỉnh cá nhân
mình. Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người
học sinh trong bối cảnh mới.
4.1.4. Năng lực tự quản bản thân
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi người trong việc kiểm soát cảm
xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế
hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của
cá nhân trong các bối cảnh khác nhau.
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rèn
luyện và phát triển ở học sinh năng lực tự quản bản thân. Trong các bài học, học
sinh cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh
kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến
việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng của các nhân để khai thác, phát huy
những tích cực, hạn chế tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần
thiết trong những tình huống của cuộc sống.
4.1.5. Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Năng lực giao tiếp là khả năng sử dụng những quy tắc cảu hệ thống ngôn
ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội…,
nhăm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những
côn người với nhau trong xã hội.
các kiểu loại khác nhau. Khi dạy học sinh tiếp cận với văn bản, môn Ngữ văn học
sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là
năng lực tiếp cận văn bản và năng lực tạo lập văn bản. Năng lực đọc hiểu văn bản
của học sinh thẻ hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về tiếng Việt, về
các loại hình văn bản và ký năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông
tin, cảm thụ cái đẹp và giá trị của các tác phẩm văn chương nghệ thuật. Năng lực
tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về
các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa cùng kỹ năng
thực hành tạo lập văn bản theo các phương thức biểu đạt khác nhau theo hình thức
trình bày miệng hoặc viết. Thông qua các năng lực học tập của bộ môn để hướng
tới các năng lực chung và những năng lực đặc thù của các môn học.
4.2.1. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
4.2.1.1 Tìm hiểu đề (hay còn gọi là phân tích đề):
Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua năm bước (Tìm hiểu đề,
tìm ý, lập dàn ý, viết bài văn, đọc và sửa bài), trong đó tìm hiểu đề là bước thứ nhất.
Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài
tập làm văn. Tuy vậy đa số học sinh thường không chú ý đến bước này. Vì vậy
trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc lệnh đề nên bài văn thường
không có điểm cao.
Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh
được việc lạc đề, lệch đề. Từ đó bào văn sẽ tốt hơn.
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện
thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài
học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kĩ năng cần thiết trước khi viết bài.
Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo
viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người giáo
viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập.
Ví dụ: Như ra đề rồi yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2,
- Lời yêu cầu ở mỗi đề là trực tiếp hay giàn tiếp?
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào (kể về một hay nhiều
kỉ niệm)?
- Lưu ý: Đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ ngữ quan
trọng.
Ở đây do là tiết đầu hướng dẫn học sinh làm nên có thể cho các em tự tìm hiểu
nhanh sau đó giáo viên hướng dẫn các em làm:
* Kiểu bài:
- Đề có kiểu bài tự sự.
- Đề có yêu cầu trực tiếp.
* Giới hạn của đề bài: kể duy nhất một kỉ niệm, đó là kỉ niệm đáng nhớ nhất ở
thời thơ ấu.
Từ nội dung đó giáo viên nhắc nhở học sinh: từ bây giờ, trước khi viết một bài
văn các em nên tìm hiểu đề bài trước để viết bài văn cho tốt bằng cách thực hiện
các yêu cầu như bài tập các em vừa làm. Có thể khái quát thành hai nội dung cơ
bản (ta gọi là Tìm hiểu đề):
- Xác định kiểu bài;
- Xác định nội dung của đề bài;
- Xác định giới hạn của đề bài.
Sau khi hướng dẫn các em thực hiện xong giáo viên có thể ra đề yêu cầu các
em về nhà làm. Ở tiết học tiếp theo giáo viên xem bài các em là và cho điểm (nếu
làm tốt).
Ví dụ 2. Khi dạy xong bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản (tiết 10 – bài 3),
giáo viên yêu cầu học sinh: Ngoài việc chuẩn bị để làm bài các em thực hiện trước
bước tìm hiểu đề cho các đề có trong phần Viết bài tập làm văn số 1 – văn tự sự.
Tới tiết 11 -12, trước khi viết bài giáo viên yêu cầu 1 hoặc 2 học sinh trình bày
kết quả việc tìm hiểu đề rồi mới đi vào viết bài.
Học sinh trả lời :
tiết
10 – Xây dựng đoạn văn trong văn bản, trong đó học sinh đã nắm được kiến
thức về hình thức và nội dung của đoạn văn. Trên cơ sở bài này, các em đã có kiến
thức về cách xây dựng đoạn văn. Từ đó tôi thường xuyên cho học sinh luyện tập
luyện tập nhận diện đoạn văn cũng như viết đoạn văn ở trên lớp và ở nhà.
Trước hết, sau khi học xong tiết 10 – Xây dựng đoạn văn trong văn bản giáo
viên cho học sinh làm bài tập nhận điện đoạn văn. Đây là bước giúp học sinh nhận
biết cũng như khắc sâu kiến thức về đoạn văn. Trong SGK Ngữ văn 8 có rất nhiều
đoạn văn chuẩn, dựa vào ưu điểm này giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận diện.
Ví dụ 1: Sau khi dạy xong tiết 10 - Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ở
bước củng cố nêu yêu cầu: các em xem đoạn văn b trong bài tập 1, phần luyện tập
ở trang 26 và đoạn văn giới thiệu về Nam Cao trong phần chú thích ở trang 45 rồi
xác định các đoạn văn đó được viết theo cách nào?
Học sinh trả lời:
- Đoạn văn ở trang 26 là đoạn văn viết theo lối diễn dịch (câu chủ đề nằm ở
đầu đoạn), chủ đề là nói về vẻ đẹp huyền ảo trong ngày của Ba Vì.
- Đoạn giới thiệu về Nam Cao ở trang 45 được viết theo lối song hành (từ
ngữ chủ đề là Nam Cao, ông), đối tượng là Nam Cao.
Học sinh trả lời được như vậy là đã nắm được “Thế nào là đoạn văn”. Trên cơ
sở đó tôi cho học sinh đi vào thực hành kĩ năng viết đoạn văn.
Ví dụ 2: Tiếp tục bài tập nhận diện đoạn văn, giáo viên có thể yêu cầu các em
về nhà đọc các văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục, Huế rồi yêu cầu các em xác
định: văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục được viết theo kiểu nào: Trong văn
bản Huế đoạn văn nào được viết theo kiểu diễn dịch? …
Học sinh trả lời:
Văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục là đoạn văn quy nạp (câu chủ đề
gian trên lớp giáo viên cho học sinh làm bài tập: Em hãy viết một đoạn văn ngắn kể
về người mẹ (hoặc cha) của mình trong đó có sử dụng từ ngữ địa phương.
Khi học sinh viết xong, giáo viên mời 2 học sinh đọc bài rồi mời những học
sinh khác nhận xét. Sau đó giáo viên kết luận về nội dung, chủ đề và hình thức
trình bày.
Bài của những học sinh còn lại giáo viên thu để về nhà xem (học sinh chưa
viết xong thì thu lại ở tiết sau).
Ví dụ 4: Khi dạy xong tiết 25 – 26, Đánh nhau với cối xay gió, giáo viên yêu
cầu học sinh về nhà viết đoạn văn với gợi ý: Sự tương phản giữa Đôn – ki – hô – tê
và Xan – chô Pan – xa.
Đến tiết 28, bài 7 – Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và
biểu cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày đoạn văn.
Trên cơ sở đó ở tiết 28 này học sinh viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và
biểu cảm là rất dễ.
Khi học sinh luyện viết đoạn văn có thể có lỗi về câu và chính tả do học sinh
tự sắp xếp vì vậy giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh sửa lỗi về câu và chính tả.
Có thể nói việc luyện viết đoạn văn tự sự là rất cần thiết, học sinh viết tốt đoạn
văn tự sự có nghĩa là học sinh đã nắm được những yêu cầu của đoạn văn. Trên cơ
sở đó khi học văn bản thuyết minh và văn nghị luận học sinh sẽ viết tốt đoạn văn –
đó là một trong những tiền đề để học sinh làm tốt các kiểu văn bản khác.
4.2.1.3. Liên kết đoạn văn trong văn bản
Một bài văn được tạo thành bởi nhiều đoạn văn liên kết lại với nhau. Bài văn
là một chỉnh thể hoàn chỉnh nên giữa các đoạn văn cần có sự liên kết với nhau.
Liên kết đoạn văn nhằm mục đích làm cho ý của cả đoạn vừa phân biệt nhau vừa
liền mạch với nhau một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản. Muốn vậy, phải
tạo mối quan hệ ngữ nghĩa chặt chẽ, hợp lí giữa các đoạn văn với nhau và sử dụng
các phương tiện liên kết phù hợp.
Trong chương trình Ngữ văn 8 học sinh đã được học “Liên kết các đoạn văn
cho các em. Bên cạnh đó là bài của các em học sinh khá giỏi. Đồng thời luôn khích
lệ tinh thần cho các em.
Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các
em về nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).
Ví dụ 1: Ở bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sư (tiết 24, bài 6), khi
dạy đến phần luyện tập, giáo viện cho học sinh làm bài tập 1 và đọc phần đọc thêm
ở trên lớp. Còn bài tập 2 – “viết một đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi
em gặp lại một người thân” thì giáo viên cho học sinh về nhà làm. Giáo viên yêu
cầu học sinh viết thành 2 đoạn văn đoạn trong đó có các phương tiện liên kết.
Đến tiết 28, bài 7 – Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu
cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày bài của mình rồi giáo viên nhận xét. Sau đó
thu bài về nhà chấm và sửa cho học sinh.
Ví dụ 2: Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc – van – téc) có hai nhâ vật
Đôn – ki – hô – tê và Xan – chô Pan – xa tương phản nhau về mọi mặt. Vậy sau bài
học đó giáo viên yêu cấu học sinh viết 2 đoạn văn nói về hai nhân vật (hai đoạn có
quên hệ đối lập).
Ví dụ 3: Học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4), học sinh
biết rằng chị Dậu và lão Hạc là những con người tiêu biểu cho tầng lớp nông dân
Việt Nam trước cách mạng tháng 8. Giáo viên có thể cho học sinh viết hai đoạn văn
nói về số phận và tính cách của người nông dân (thông qua lão hạc và chị Dậu).
Có thể nói rằng để viết được một bài văn đúng và hay là rất khó, bởi ngoài
việc có kiến thức vũng vàng nó còn đòi hỏi người viết phải vận dụng nhiều kĩ năng
khác nhau. Nhìn chung các kĩ năng đó các em đã được học nhưng do đặc điểm lứa
tuổi, cũng như thời gian thực hành còn hạn chế nên người giáo viên phải có biện
pháp giúp các em thành thạo những kĩ năng đó mới mong các em vận dụng tốt
được.
5. Kết quả đạt được
5.1. Kết quả
36.7
SL
%
4
4.1
Tuy vẫn còn có học sinh bị điểm yếu, kém, số học sinh bị điểm trung bình
còn chiếm 36.7% nhưng tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi, điểm khá đã tăng cao, đạt 58
em. Điều này khẳng định rõ tính ưu việt trong đổi mới phương pháp dạy học. Đặc
biệt là đổi mới trong phát huy năng lực tạo lập văn bản của học sinh ở các tiết Tập
làm văn.
5.2. Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh
Sau khi áp dụng một số giải pháp trên vào dạy học trong các tiết Tập làm văn
trong học học kì I, tôi đã tiến hành khảo sát lại mức độ hứng thú của học sinh để
đánh giá hiệu quả mà sáng kiến đem lại.
*Đối tượng khảo sát:
- Học sinh: 98 học sinh khối 8
* Thời điểm khảo sát: tháng 1/2015
Câu hỏi 1: “Em có thích học phần Tập làm văn trong môn Ngữ văn không?”
Mức độ khảo sát: Rất thích, thích, không thích:
Số học sinh khảo Số rất thích
Số thích
Số không thích
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Khối 8: 98
45
45.9
40
40.8
13
13.3
Như vậy việc các em hứng thú với tiết học Tập làm văn trên lớp là do các em
đã cảm thấy tự tin vì có thể hình thành kĩ năng phát triển tư duy l«gic, sáng tạo vµ
kÜ n¨ng nãi, viÕt m¹ch l¹c, thuyÕt phôc. Các em không còn lo sợ, lúng túng khi
phải trình bày một vấn đề trước tập thể hay tạo lập một văn bản, đặc biệt là văn bản
tự sự.
5.3. Đánh giá sau khi áp dụng:
Sau khi vận dụng một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học
sinh lớp 8 thông qua dạy học phần tập làm văn kết quả thu được của tôi như sau:
Về phía giáo viên: Khi vận dụng những biện pháp này đã giúp học sinh nắm bài
chắc hơn, sâu hơn phương pháp viết kiểu văn tự sự ở lớp 8. Qua đó, hướng dẫn học
sinh phương pháp tìm hiểu, phân tích đề, viết đoạn văn, liên kết các đoạn văn trong
văn bản tự sự, bồi đắp lòng yêu thích môn văn học, biết nhìn nhận, đánh giá, đúng
một vấn đề và giải quyết hợp lý. Bản thân giáo viên khi chuyên tâm nghiên cứu
cũng cứng cáp, vững vàng hơn về chuyên môn nghiệp vụ, xóa bỏ được hẳn tâm lí
sợ dạy các tiết làm văn. Không những vậy, giáo viên còn còn có những cơ sở, định