GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ đúc ĐỒNG TRUYỀN THỐNG TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ HUẾ - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
---------------------------

Chuyên đề:
“GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN
THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ”

GVHD : PGS.TS TRỊNH VĂN SƠN
HVTH : Nguyễn Thị Hồng Minh
Lớp
: Quản lý kinh tế - K15B

Huế, Tháng 4 năm 2016


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa

CNH

Hiện đại hóa

HĐH

Hợp tác xã

HTX

Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

MỤC LỤC

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

3


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

4


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn
Phần 1. GIỚI THIỆU CHUNG

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Làng nghề truyền thống (LNTT) là loại hình sản xuất có mặt hầu hết ở mọi địa
phương, gắn bó và có vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt, lao động của

5


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

rộn rã âm thanh.
Tuy nhiên, hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) và
làng nghề trên địa bàn Thành phố Huế còn yếu, chưa tạo được những chuyển biến lớn
nhằm tăng tốc sự phát triển của ngành, giá trị sản xuất vẫn chưa cao so với tỉnh, thành
phố khác. Số lượng cơ sở làm hàng lưu niệm, hàng đúc đồng vẫn chưa nhiều, phần lớn
các đơn vị chỉ duy trì sản xuất ở quy mô nhỏ, mẫu mã chưa phong phú, chưa đáp ứng
tốt thị hiếu khách tiêu dùng, năng suất thấp, giá trị lao động thủ công trong một đơn vị
sản phẩm còn quá lớn nên giá thành cao, bao bì thẩm mỹ kém, công tác tuyên truyền,
tiếp thị quảng cáo ít được chú trọng, trình độ quản lý của chủ cơ sở còn hạn chế.
Trong các làng nghề thủ công truyền thống (TCTT), làng nghề đúc đồng là một
trong những nhóm ngành có thế mạnh xuất khẩu. Huế là thành phố du lịch nên có thể
tận dụng ưu thế này để xuất khẩu tại chỗ thông qua các cửa hàng bán hàng lưu niệm,
tổ chức các siêu thị hàng TCMN đúc đồng, tổ chức các làng nghề mang tính biểu diễn
thu hút khách du lịch và có thể bán hàng trực tiếp. Thị trường tiêu thụ có điều kiện để
phát triển nhưng sản phẩm hàng lưu niệm tại địa phương lại không phong phú, thua
kém so với các tỉnh khác như Thanh Hóa (làng Trà Đông), Bắc Ninh (làng nghề Đại
Bái)… Đối với thị trường xuất khẩu trực tiếp chúng ta vẫn chưa khai thác được do sản
phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới, thua kém trong cạnh tranh
về mẫu mã sản phẩm, giá thành, kinh nghiệm thương trường, chưa có các thương nhân
lớn hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh hàng đúc đồng truyền thống. Trước những vấn
đề trên, yêu cầu được đặt ra là làm thế nào để làng nghề đúc đồng truyền thống
Phường Đúc, Phường Thủy Xuân tồn tại và phát triển trong cơ chế cạnh tranh khốc liệt
của thị trường mà vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống lâu đời.


Phân tích thực trạng phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành
phố Huế, tìm ra các nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển làng nghề đúc
đồng truyền thống.

-

Đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn tỉnh
Thành phố Huế trong những năm tới.
3. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu các cơ sở đúc đồng truyền thống trên địa bàn
Thành phố Huế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

-

Về nội dung: Do hạn chế về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển
của làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2013 đến
2015 và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả của làng
nghề đúc đồng truyền thống trong thời gian tới.

-

Về không gian: Nghiên cứu làng nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn Thành phố
Huế.

-

Về thời gian:

Sau một quá trình nghiên cứu, trao đổi ý kiến với lãnh đạo Phòng Kinh tế
Thành phố Huế, các chuyên gia có kinh nghiệm trong ngành, các đơn vị đã nhiều năm
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong làng nghề đúc đồng truyền thống cũng như sự
quan sát chủ quan của mình, chúng tôi quyết định tập trung điều tra, nghiên cứu làng
nghề đúc đồng truyền thống cụ thể: 50 trong tổng số 61 cơ sở sản xuất.
4.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, xử lý số liệu
* Phương pháp phân tổ thống kê: Được sử dụng để hệ thống hóa tài liệu điều tra
theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào nội dung và mục đích nghiên cứu.
* Phương pháp phân tích tài liệu: Sử dụng hệ thống các phương pháp phân tích
định tính và định lượng của các hiện tượng để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có;
kết hợp giữa nghiên cứu các hiện tượng số lớn với nghiên cứu hiện tượng cá biệt; sử dụng
kết hợp phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp
so sánh.
* Số liệu xử lý bằng chương trình SPSS 16 và Excel
Toàn bộ số liệu điều tra, thu thập được tổng hợp, phân tổ thống kê theo các tiêu
thức khác nhau. Xử lý số liệu trên phần mềm SPSS và Excel.
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

8


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

4.3. Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập thông tin
từ các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý nhiều
kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các nghệ nhân, những đơn vị nhiều
năm sản xuất- kinh doanh hàng TCTT nói chung… nhằm có được những luận cứ có

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG
TRUYỀN THỐNG
1.1.1. Khái niệm về làng nghề và làng nghề đúc đồng truyền thống
1.1.1.1. Làng
Trong lịch sử hình thành và phát triển, đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông
nghiệp. Do vậy, làng, xã có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống
của cư dân. Làng, xã Việt Nam phát triển từ lâu đời, gắn bó với nông nghiệp và kinh tế
nông thôn. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Làng là một khối dân cư
nông thôn làm thành một đơn vị, có đời sống riêng về nhiều mặt” [1]
Theo tác giả Bùi Xuân Đính: “ Làng là một từ Nôm (từ Việt cổ) dùng để chỉ
đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt ở nông thôn, có địa vực riêng (địa giới xác
định); cấu trúc vật chất riêng (đường làng, ngõ xóm, các công trình thờ cúng); cơ cấu
tổ chức, lệ tục, tiếng nói của làng riêng (thể hiện ở âm hay giọng); tính cách riêng,
hoàn chỉnh và tương đối ổn định qua quá trình lịch sử ” [1].
1.1.1.2. Nghề
Theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc làm theo sự phân công lao động
của xã hội hay nghề khái niệm chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh” [2]. Từ khái niệm
trên có thể hiểu, nghề chính là sự chuyên môn hóa về một lĩnh vực nhất định, có thể
sản xuất các sản phẩm theo chất liệu khác nhau và kinh doanh các mặt hàng đó trên thị
trường nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi thời đại.
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều có
hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một số hàng
gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đình mang tính chất tự
cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có. Nhưng qua một quá trình dài
phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa
phương nhất định đã có sự chuyên môn hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị
trường trao đổi như những loại hàng hoá. Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

10

Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh…), làng đồng Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiệu Diễn, Phù
Dực, Đa Hội…), là làng ấy tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ
(lợn, gà…), cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ…), song
đã nỗi lên một số nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp
hay bán chuyên nghiệp, có phường( cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùng
một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “ sinh ư nghệ,
tử ư nghệ”, “ nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản
xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

11


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh với thị
trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể
xuất khẩu ra cả nước ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một
quá khứ tram ngàn năm) “Dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào
ca dao, tục ngữ… trở thành di sản văn hóa dân gian” [3]. Quan niệm nêu trên là nói về
những làng nghề thủ công thuyền thống có từ lâu đời, tồn tại hàng trăm năm nay như
nghề chạm bạc ở làng Đồng Xâm (Thái Bình), nghề gốm làng Bát Tràng, nghề rèn
làng Đa Sỹ quận Hà Đông thủ đô Hà Nội…
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường đã xuất hiện các làng nghề mới
có tính hiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và xây dựng,
kinh doanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
(CNH – HĐH) diễn ra mạnh mẽ ở các làng nghề, trong các làng nghề kỹ thuật và công
nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kỹ thuật thủ công, mà có nhiều nghề nhiều công

độc lập nên đã phù hợp với điều kiện mới. Đồng thời trong cơ cấu kinh tế của làng còn
có các hoạt động phi nông nghiệp khác. Quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất của
làng nghề cũng như sự phân công lao động trong các làng nghề đã làm xuất hiện các
ngành dịch vụ đi kèm, từ đó đã xuất hiện các làng nghề buôn bán dịch vụ. Tuy nhiên,
không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi là làng nghề. Làng được là làng
nghề khi các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp đạt đến quy mô nào đó mang
tính ổn định. Vì vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện được cả định tính và định lượng.
Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú với hàng
trăm loại ngành nghề khác nhau. Căn cứ vào tiêu chí, mục tiêu khác nhau mà có những
các phân loại làng nghề khác nhau. Phân loại làng nghề theo số lượng và thời gian làm
nghề gồm có làng một nghề, làng nhiều nghề, LNTT và làng nghề mới.
Quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường phân loại làng nghề như sau:
Theo LNTT và làng nghề mới; Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; Theo
quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; Theo
mức độ sử dụng tài nguyên, nhiên liệu; Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng
tồn tại và phát triển.
Mỗi cách phân loại trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể
lựa chọn cách phân loại phù hợp. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất,
sản phẩm, thị trường NVL và tiêu thụ sản phẩm thì nước ta gồm 6 nhóm ngành hoạt
động làng nghề.
Một là, làng nghề chế biến thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Có số lượng
làng nghề lớn, chiểm 20% tổng số làng nghề, với các làng nghề nổi tiếng như nấu
rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miếng dong, bún, bánh đậu xanh…
Hai là, làng nghề dệt, nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Nhiều làng có từ lâu đời, có
các sản phẩm mang tính lịch sử văn hóa, mang đậm nét địa phương với những sản
phẩm như tơ tằm, thổ cẩm, dệt, may…

Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

13

15
Nguồn: [4]

Ba là, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng
trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung c nguyên liệu cơ bản cho hoạt động
xây dựng và sản xuất các sản phẩm TCMN.
Bốn là, làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số
lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế như tái chế chất thải
kim loại, giấy, nhựa, vải.
Năm là, làng nghề TCMN: Chiếm tỷ trọng lớn về số lượng( gần 40% tổng số
làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao,mang đậm nét văn hóa và
đặc điểm địa phương, văn hóa dân tộc, gồm các làng nghề gốm, sánh sứ thủy tinh mỹ
nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn
mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren.
Sáu là, các nhóm ngành khác: Gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như
cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng,
đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu … Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản
phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất địa phương [4].
Như vậy, các tiêu chí để phân loại làng nghề chỉ mang tính tương đối, đan xen,
bao hàm lẫn nhau, làng nghề TCMN đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với làng nghề
TCTT, làng nghề TCMN là làng nghề TCTT trong đó TCMN là nghề chính hoặc
chiếm ưu thế so với các nghề chủ công khác.
1.1.1.4. Khái niệm và đặc điểm của làng nghề đúc đồng truyền thống
1.1.1.4.1. Khái niệm
Làng nghề đúc đồng truyền thống là một bộ phận quan trọng của LNTT nói
riêng, và của nền kinh tế đất nước nói chung. Trong làng nghề đúc đồng truyền thống
thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

14

hóa làng xã.
+ Sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống có tính mỹ thuật cao, mang đậm
bản sặc văn hóa dân tộc
Các sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có
giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật
trang trí trong nhà, đền chùa, công sở Nhà nước.
Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự
sáng tạo nghệ thuật. Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

15


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

trống đồng và các hoạ tiết trên đồ vật đúc đồng đến những nét chấm phá trên các
tượng đồng... tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về
văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
+ Làng nghề đúc đồng truyền thống là sản phẩm của tổ chức nông thôn truyền
thống, theo địa bàn cư trú và có tính gia truyền
Làng nghề đúc đồng truyền thống nói riêng và làng nghề Việt Nam nói chung là
kết quả của quá trình phát triển của xã hội loài người. Làng xã Việt Nam có tổ chức
chặt chẽ. Đó chính là môi trường sống, là tập thể cộng đồng chủ yếu của người Việt
Nam, là kết quả của nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, ít nhu cầu trao đổi hàng hóa, nền
sản xuất nông nghiệp không phát triển. Trong các làng nghề đúc đồng truyền thống,
các sản phẩm đúc đồng thường được sản xuất ngay trong làng, thậm chí ngay trong
từng nhà ở những thời kỳ nông nhàn. Nghề đúc đồng trong các làng nghề mang tính
gia truyền, theo hình thức cha truyền con nối. Mô hình đó, đến nay vẫn còn thích hợp

mang tính đa dạng và phong phú hơn.
1.1.2. Phát triển làng nghề truyền thống
1.1.2.1. Khái niệm phát triển làng nghề truyền thống
Phát triển là sự chuyển biến từ trạng thái thấp sang trạng thái cao hơn, với trình
độ và chất lượng cao hơn. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền
kinh tế trong một giai đoạn nhất định, bao gồm cả sự tăng lên về lượng và sự thay đổi
tiến bộ về chất. Nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề
kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố
nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu
nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người, sự biến đổi theo
đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội.
Do vậy, phát triển làng nghề là sự tăng lên về cả số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ
chức của làng nghề từ mức độ thấp lên đến mức độ cao thể hiện ở việc mở rộng về quy
mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp nhân sách và thu thập bình quân đầu người,
việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường làng nghề.
1.1.2.2. Tiêu chí đánh giá phát triển làng nghề truyền thống
Phát triển làng nghề được thể hiện trong Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày
17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ với nội dung “Định hướng chiến lược phát triển
bền vững ở Việt Nam” và chỉ rõ “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo về môi trường”. Phát triển
làng nghề biểu hiện về phát triển số lượng làng nghề, về quy mô làng nghề và cơ cấu
sản phẩm làng nghề dựa trên đặc thủ của từng làng nghề. Đối với làng nghề TCMN,
việc đánh giá sự phát triển thể hiện ở một số nội dung sau: [12]
+ Các tiêu chí về lĩnh vực kinh tế: Quy mô sản xuất (doanh thu bình quân);
trình độ công nghệ; quy mô nguồn nhiên liệu; hoạt động thương mại (các kênh tiêu
thụ); hoạt động du lịch.
+ Các tiêu chí về lĩnh vực xã hội: Số việc làm; hình thức tham gia nghề; thu
nhập của người lao động; đào tạo cho người lao động; an toàn lao động.
+ Các tiêu chí về môi trường: Các chỉ tiêu kỹ thuật; nhận thức của người dân
về ô nhiễm môi trường

khó khăn và bấp bênh cho sản xuất.
1.1.3.2. Trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
Công nghệ là nhân tố quan trọng chi phối các hoạt động sản xuất. Trong các
LNTT bao giờ cũng có thợ cả, nghệ nhân có trình độ tay nghề cao, có kinh nghiệm sản
xuất, tâm huyết với nghề, là những hạt nhân để duy trì những nét độc đáo của làng
nghề, đó là sự khác biệt của các sản phẩm làng nghề.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có kinh nghiệm cổ truyền thôi chưa
đủ mà phải có khoa học công nghệ hiện đại, đó là mặt tiêu cực của yếu tố truyền
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

18


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

thống. Đồng thời những quy định khắt khe, hạn chế trong luật nghề, lệ làng đã làm cản
trở không nhỏ đến việc mở rộng sản xuất-kinh doanh của làng nghề.
Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường ngày càng gay gắt, sản phẩm sản xuất ra
chịu sự cạnh tranh về năng suất, chất lượng, giá cả cùng loại trong nước cũng như
nhập khẩu. Vì vậy, đòi hỏi các sản phẩm phải đa dạng, phong phú hơn, chất lượng
được nâng cao hơn. Để được như vậy, các làng nghề phải không ngừng đổi mới trang
thiết bị, công nghệ tiên tiến và hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt trong giai đoạn
hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại mang tính toàn cầu thì việc
ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ càng có tác động to lớn đến khả năng
cạnh tranh, tăng năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm.
1.1.3.3. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp thoát nước,
bưu chính viễn thông. Thực tế ngày càng thấy rõ LNTT chỉ có thể phát triển mạnh ở

1.1.3.5. Nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các LNTT.
Trong những giai đoạn trước đây, gần nguồn NVL được coi là một trong những điều
kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của LNTT. Song hiện nay, vấn đề này trở nên
không quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề bởi việc hỗ trợ tích cực của
các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật. Tuy nhiên, vấn đề khối lượng,
chất lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồn NVL này vẫn có những ảnh
hưởng nhất định tới chất lượng và giá cả sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra. Chất lượng
sản phẩm tốt được bảo đảm, càng thu hút được người tiêu dùng và nâng cao được thị
phần sản phẩm của các làng nghề trên thị trường.
Cho đến nay, nguồn nguyên liệu cung cấp cho một số LNTT vẫn phong phú,
đặc biệt là nguyên liệu cho các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm (riêng nghề
này nguồn nguyên liệu đã giải quyết được từ 95-97% nhu cầu cho sản xuất). Nhưng
đối với nhiều làng nghề thì đây lại là một khó khăn gây nhiều cản trở đến sản xuất, các
nguyên liệu khai thác phục vụ cho các làng nghề này chủ yếu từ môi trường tự nhiên
nên vùng nguyên liệu ngày càng suy giảm (như gỗ …), gây khó khăn cho sản xuất vì
nguyên liệu đang cạn kiệt.
1.1.3.6. Số lượng và trình độ đội ngũ lao động
Tại các làng nghề, những nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, thợ lành
nghề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề. Họ là
những người truyền nghề, dạy nghề đồng thời là người sáng tao ra các sản phẩm độc
đáo, mang nét riêng của làng nghề. Thực tế để tạo ra được những sản phẩm tinh xảo
thì ngoài năng khiếu bẩm sinh, người lao động cần trải qua một thời gian đào tạo lâu
dài mà nhiều khi họ không đủ kiên nhẫn để theo đuổi đến cùng. Bên cạnh đó, với
phương thức đào tạo theo kiểu nghề truyền thống như hiện nay, những kỹ năng bí
quyết nghề nghiệp nhiều khi chỉ truyền lại cho gia đình. Chính điều này đã làm cho số
lượng thợ cả, nghệ nhân mới ngày càng hạn chế trong khi đó những nghệ nhân cũ
ngày càng mất đi, như vậy những tinh hoa của làng nghề ngày càng bị mai một.
Ngày nay, việc phát triển sản xuất theo hướng hiện đại, hội nhập, tính cạnh
tranh cao đòi hỏi nguồn nhân lực phải có chất lượng cao. Đây chính là yếu tố quan

nhiễm các khu vực lân cận, ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Việc phát triển các ngành công nghiệp và TTCN ở vùng nông thôn nước ta lại
sử dụng cộng nghệ lạc hậu, trang thiết bị cụ kỹ cũng làm cho vấn đề ô nhiễm môi
trường sống ở làng nghề nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng. Ô nhiễm môi
trường do công nghiệp nông thôn tạo ra rất đa dạng, đó là chất thải rắn, khí thải, bụi,
tiếng ồn…
Làng nghề càng phát triển thì nguy cơ ôn nhiễm làng nghề càng gia tăng, người
lao động trong làng nghề chịu ít nhất là 3 tác động tiêu cực trong môi trường lao động.
Đó là nhiệt độ cao, bụi và tiếng ồn hoặc mặt bằng nhà xưởng. Nếu làm việc trong môi
trường độc hại, nhiều nguy hiểm, người lao động sẽ chịu hậu quả là làm giảm năng
suất lao động, suy giảm về sức khỏe, tăng nguy cơ mắc bệnh tật, điều này sẽ làm tăng
chi phí khám chữa bệnh, giảm thu nhập của người lao động, đồng thời lan tỏa ảnh
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

21


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Vì vậy, môi trường cũng là một
yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề.
1.1.3.8. Truyền thống của làng nghề
Yếu tố truyền thống là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và khả năng
cạnh tranh của sản phẩm truyền thống. Yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn những nét
đặc trưng văn hóa của từng làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm làng nghề có tính
độc đáo và có giá trị cao. Những người thợ cả, những nghệ nhân, các truyền thống tốt đẹp
là tài sản của quốc gia. Những quy ước và ràng buộc trong các làng nghề, lệ làng đề ra
những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, đòi hỏi người thợ phải sản xuất-kinh doanh một

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

bền vững, phát huy được giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội các giá trị đạo đức, tín nhiệm
và lương tâm người thợ thông qua chất lượng sản phẩm được làm ra. Môi trường thể
chế gồm quy chế của làng và chính sách pháp luật của nhà nước.
Những quy định nghiêm ngặt trong các làng nghề là biện pháp giữ bí mật và bí
quyết nghề nghiệp của những người thợ trong các làng nghề. Điều đó có tác dụng tích
cực đối với việc duy trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề. Tuy nhiên, sự độc
quyền của các thế hệ thợ thủ công trong mỗi làng nghề như thế đã kìm hãm sự phát triển
của nghề trong phạm vi cả nước. Sau này, khi các trường dạy nghề mở ra, cùng với sự
tiến bộ khoa học công nghệ thì những hạn chế trên thay đổi theo hướng tích cực hơn.
Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển hay suy vong của các làng nghề. Thời kỳ trước đổi mới, trong chính sách đổi
với các thành phần kinh tế, chúng ta chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể, không chấp nhận kinh tế tư nhân, cá thể, nên các làng nghề theo nghĩa
là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành HTX, hoặc các tổ, đội ngành nghề phụ trong
các HTX sản xuất nông nghiệp, làm cho các làng nghề không phát triển được. Từ khi
thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, khi hộ gia đình được công nhận là chủ thể kinh
tế độc lập tự chủ trong nông thôn, các doanh nghiệp tư nhân được phép phát triển
chính thức thì các làng nghề đã có điều kiện phục hồi và phát triển mạnh.
Trong các kỳ Đại hội Đảng gần đây, vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp nông
thôn đã được quan tâm đặc biệt. Đây chính là nội dung cơ bản của quá trình CNH đất
nước nhằm đạt mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm
2020. Chính vì vậy, các chính sách về doanh nghiệp, vốn, thuế, đào tạo nguồn nhân
lực, quản lý thị trường… Là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn
nói chung và làng nghề nước ta nói riêng. Nếu không có các chính sách phát triển hợp
lý đối với sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN thì các làng nghề cũng khó có
điều kiện phát triển.
1.1.4. Vai trò của phát triển làng nghề đúc đồng truyền thống
1.1.4.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương

chục ngàn, trăm ngàn cư dân, đặc biệt là thanh niên. Tại các làng nghề, thanh niên (đa
số là nữ thanh niên) có được "tay nghề", dù tay nghề cao hay thấp thì những người lao
động này cũng thoát khỏi cuộc đời chạy tìm việc lao động phổ thông. Để làm nghề
TCTT, người thợ không cần có nhiều vốn, chỉ cần một ít công cụ thủ công cùng đôi
bàn tay khéo léo và đặc biệt là sự siêng năng cần mẫn. Với điều kiện như thế, khi sản
phẩm nghề thủ công có chỗ đứng trong nền kinh tế hàng hóa, thì làng nghề thu hút
được nhiều lao động.
Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao động nông
thôn nhàn rỗi. Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỉ lệ rất lớn
trong tổng số lao động của cả nước. Tính mỗi năm có thêm một triệu lao động ở nông
thôn không có việc làm. Trong khi đó hàng năm có khoảng 20 vạn đất sản xuất nông
nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng nên tiếp tục có thêm hàng ngàn người lao
động ở nông thôn không có việc làm. Các làng nghề thủ công hoạt động chủ yếu dựa
vào lao động cá nhân, lao động sống thường chiếm tỉ lệ lớn (50%-60%) giá thành sản
phẩm, cho nên việc phát triển LNTT được xem là cơ sở ñể giải quyết việc làm cho
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Minh_K15B Quản lý kinh tế

24


Đề cương chi tiết

PGS. TS Trịnh Văn Sơn

người lao động. Điều này được thể hiện như sau:
Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho người lao động, thể
hiện được chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta là xoá đói giảm nghèo, tạo cơ hội
làm giàu ngay tại địa phương.
Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động dôi dư và lao
động thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao động nông nhàn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status