PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ngày nay, du lịch được coi là ngành
kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào quá trình sản xuất, giải quyết việc làm
cho người lao động cũng như làm tăng thu nhập quốc dân. Cùng với sự phát triển
của du lịch thế giới, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Thừa Thiên Huế nói riêng
ngày càng có sự phát triển đáng kể. Những năm qua nước ta đã có những bước
phát triển khá mạnh mẽ về cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du khách ở khắp các
vùng miền đất nước. Các cơ sở lưu trú xuất hiện ngày càng nhiều với hệ thống các
dịch vụ bổ sung đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của khách du lịch. Một trong những
dịch vụ được nhà hàng, khách sạn quan tâm hiện nay là dịch vụ tiệc cưới.
Từ lâu việc lập gia đình là chuyện hệ trọng trong cuộc đời mỗi con người, mỗi
gia đình. Ngoài đăng kí kết hôn theo đúng pháp luật thì việc tổ chức lễ cưới cũng là
một cách để thông báo cho mọi người biết. Và lễ cưới còn là nơi gặp gỡ của hai
họ,bạn bè, người thân.. đến chúc phúc cho cặp đôi hay chấp nhận cho tình yêu của
họ.
Lúc trước, thói quen của người dân khi tổ chức đám cưới đó là tổ chức tại gia
của 2 họ. Cho đến nay cùng với sự phát triển thì suy nghĩ của con người về việc tổ
chức đám cưới ở một nơi sang trọng càng được ưa chuộng. Có một số gia đình do
diện tích mặt bằng không đủ để tổ chức cưới nên mong muốn tìm đến một nơi có
diện tích rộng rãi hơn. Chính vì thế, thị trường tổ chức tiệc cưới đã được các khách
sạn, nhà hàng khai thác triệt để.
Xã hội ngày càng phát triển làm cho đòi hỏi của con người về tổ chức hay
cung cấp dịch vụ ngày càng cao hơn. Hay trong một môi trường cạnh tranh gay gắt
thì yếu tố sự hài lòng của khách hàng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp,
nó quyết định sự thành bại của họ trên thị trường. Không phải lúc nào các sản
phẩm dịch vụ của khách sạn cũng đáp ứng đủ nhu cầu của khách. Vì thế muốn thu
hút khách hàng và cạnh tranh với những khách sạn, nhà hàng khác thì bản thân
-
Khảo sát sự hài lòng của khách hàng thông qua đánh giá chất lượng dịch vụ tiệc
cưới của khách sạn Morin huế.
-
Đề xuất định hướng và một số giải pháp để hoàn thiện chất lượng dịch vụ tiệc cưới
của khách sạn, đáp ứng nhu cầu và nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng.
3. Lập kế hoạch nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tiệc
cưới tại nhà hàng Jules Ferry – khách sạn Saigon Morin Huế.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1
Về không gian: tại nhà hàng Jules Ferry - khách sạn Saigon Morin Huế.
3.2.2
Về thời gian: thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 1/2016-3/2016.
3.2.3
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại nhà hàng
Jules Ferry – khách sạn Saigon Morin Huế, đánh giá chất lượng dịch vụ tiệc cưới tại
nhà hàng Jules Ferry - khách sạn Morin Huế thông qua đánh giá mức độ hài lòng
-
Bước 1: Xác định quy mô mẫu theo công thức của Linus Yamane:
n=
Trong đó:
n: Quy mô mẫu
N: kích thước của tổng thể, N = 48.670 (tổng lượt khách đến khách sạn
Saigon Morin Huế năm 2015 là 48.670khách).
e: Mức độ sai lệch. e = 0,1
Độ tin cậy là 90%
Lúc đó ta có:
n = = 99,80
Như vậy quy mô mẫu là 100 mẫu.
-
Bước 2: Tiến hành chọn mẫu phân tầng: Khách đặt tiệc (30%) và Khách tham dự
(70%).
-
Bước 3: Sau khi phân tầng, trong từng tổ ta dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
giản để chọn các mẫu sẽ điều tra.
-
Giá cả
Chất lượng dịch vụ tiệc cưới
Sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ tiệc cưới
PHẦN II
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số vấn đề về kinh doanh khách sạn và dịch vụ tiệc cưới trong khách sạn
1.1.1
Kinh doanh khách sạn
Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ
phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách. Theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách
sạn chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách.
Kinh doanh khách sạn không chỉ bán những dịch vụ do khách sạn sản xuất ra
mà còn bán những sản phẩm thuộc rất nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau của nền
kinh tế quốc dân như: nông sản, thủy sản, dịch vụ viễn thông, dịch vụ ngân hàng,
dịch vụ vận chuyển, điện nước...Như vậy ngoài việc cung cấp dịch vụ của chính
khách sạn thì khách sạn còn là trung gian thực hiện dịch vụ tiêu thụ của các ngành
khác trong nền kinh tế quốc dân.
Khái niệm kinh doanh khách sạn ban đầu chỉ dùng để chỉ hoạt động cung cấp
chổ ngủ cho khách trong khách sạn và quán trọ. Khi nhu cầu ăn uống và các mong
muốn thỏa mãn nhu cầu khác nhau của khách ngày càng cao, đa dạng thì kinh
doanh khách sạn đã mở rộng đối tượng và bao gồm cả khu cắm trại, làng du lịch,
motel...
Trên phương diện chung nhất có thể đưa ra định nghĩa về kinh doanh khách
thực chất đây là dịch vụ phục vụ nhu cầu bổ sung và giải trí cho khách tại các nhà
hàng.
1.1.3
Đặc điểm của kinh doanh nhà hàng trong khách sạn
Kinh doanh nhà hàng trong khách sạn có những đặc điểm sau:
-
Vì nhà hàng thuộc khách sạn nên đòi hỏi tính thẩm mỹ cao hơn so
với các nhà hàng thông thường khác, cách trang trí nội thất, bố trí bàn ghế,
cây cảnh...phải phù hợp với thị trường khách mục tiêu và mang tính thẩm mỹ cao,
kể cách bài trí món ăn cũng phải đẹp mắt và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm...
-
Đa dạng về chủng loại các món ăn như món âu, món á, món ăn đặc trưng của từng
vùng miền...
-
Đa dạng về hình thức phục vụ, khách có thể được phục vụ món ăn theo thực đơn,
theo đặt trước và cũng có thể tự phục vụ.
-
Đối tượng phục vụ chủ yếu là khách du lịch đến từ nhiều vùng đất khác nhau, tính
cách và thị hiếu khác nhau, đặc điểm của thị trường khách này là thường mong
muốn nhận được chất lượng dịch vụ tốt nhất, vì thế việc phục vụ trong nhà hàng ở
nhân một dịp vui mừng. Tiệc cưới được hiểu là một loại tiệc trong đó có những nghi
lễ trang trọng để công bố người nam và người nữ trở thành thành viên của gia tộc
-
đó dưới sự cho phép của hai gia đình và sự chứng kiến, chúc phúc của mọi người.
Dịch vụ tiệc cưới: dịch vụ tiệc cưới là các hoạt động dịch vụ cụ thể
nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng đến dự lễ cưới tại nhà hàng.Dịch vụ tổ
chức tiệc cưới là một trong những loại hình kinh doanh tiêu biểu về dịch vụ. Do đó,
nó có các đặc tính: tính vô hình, tính không đồng đều, tính đồng thời, tính không lưu
trữ được, tính không chuyển quyền sở hữu được.
1.1.5
Quy trình tổ chức tiệc cưới tại nhà hàng trong khách sạn
Để cung ứng dịch vụ tiệc cưới tốt nhất cho khách hàng, mỗi doanh nghiệp
đều phải tiến hành tổ chức tiệc cưới theo ba giai đoạn sau:
-
Nhận đặc tiệc: Khách và khách sạn thỏa thuận thống nhất các nội dung như về thời
gian, địa điểm tổ chức tiệc, thực đơn, mức giá……
-
Lập bảng phân công chi tiết gửi các bộ phận: Người phụ trách kinh doanh tiệc hay
người phụ trách phân công công việc để các bộ phận chủ động phục vụ như: bộ
phận bếp chuẩn bị nguyên liệu và chế biến món ăn; bộ phận bar chuẩn bị đồ uống
cho khách; bộ phận bàn chuẩn bị dụng cụ và phục vụ khách ăn uống; nhóm nhân
Theo Armand Feigenbaum “chất lượng là quyết định của khách hàng dựa
trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên
những yêu cầu của khách hàng- những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không
nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang
tính chuyên môn – và luôn đại diện cho mục tiêu động trong thị trường cạnh tranh”
“Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về mức độ chất lượng
tổng thể của dịch vụ đã cung cấp trong mối liên hệ với chất lượng mong đợi” (Giáo
trình Marketing du lịch – T.S Bùi Thị Tám, NXB Đại Học Huế, Trang 40)
Như vậy nhìn chung chất lượng dịch vụ được định nghĩa là những gì mà
khách hàng cảm nhận được.
1.2.2
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
Phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có nhiều yếu tố mang tính chủ quan và khách
quan. Và dưới đây là những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiệc
cưới:
- Đặc điểm của nguồn khách
- Cơ sở vật chất kĩ thuật
- Cơ cấu chất lượng lao động
1.2.3
Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ ((SERVQUAL)
Dựa trên kết quả phỏng vấn nhóm các nhà quản lý và nhóm khách hàng về
chất lượng dịch vụ, Parasunaman và các cộng sự đã đưa ra mô hình chất lượng dịch
vụ chung với 5 khoảng cách (GAP) để đo lường về chất lượng dịch vụ. Đây là một
trong những mô hình được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ.
Với quan điểm tiếp cận là nhà sản xuất muốn cung cấp dịch vụ tốt cho khách
hàng thì trước hết phải hiểu được khách hàng đang mong đợi gì ở họ. Mô hình này
GAP 2
Hiểu biết của nhà cung cấp về nhu cầu thị trường
Sơ đồ 1.1: Mô hình SERVQUAL về 5 khoảng cách của chất lượng dịch vụ
Mô hình SERVQUAL đề xuất hai nhóm khoảng cách chất lượng có thể xảy ra bao
gồm: các sai lệch từ phía nhà cung cấp (các khoảng cách 1-4) và sai lệch từ phía người
tiêu dùng (khoảng cách 5)
Khoảng cách 1 (GAP 1): Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng với nhận
thức của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy không phải lúc nào nhà quản lý
cũng hiểu rõ nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ, những yếu tố gì cũng
phải có để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và cấp độ thực hiện ra sao để có dịch vụ
chất lượng. Sự thiếu hiểu biết này có thể ảnh hưởng đến nhận định về chất lượng của
khách hàng.
Khoảng cách 2 (GAP 2): Khoảng cách giữa nhận thức của nhà quản lý và diễn
giải thành các tiêu chí chất lượng dịch vụ. Khoảng cách này tổn tại vì nhà quản lý có
thể hiểu được mong muốn của khách hàng, nhưng đôi khi nhà quản lý không thể lấy
thông tin đó để đưa ra các tiêu chí dịch vụ thích hợp. Ví dụ nhà quản lý mong muốn
phục vụ ăn tại bàn chậm nhất là 10 phút sau khi khách hàng gọi đồ ăn (nhanh nhất
trong điều kiện có thể), nhưng cũng biết răng khách hàng mong muốn chỉ trong
vòng 5 phút phải có đồ ăn ngay. Điều này có nghĩa là nhà quản lý đã nhận ra điều
khách hàng mong muốn, nhưng đôi khi không thể đáp ứng được.
Khoảng cách 3 (GAP 3): Khoảng cách giữa các tiêu chí chất lượng dịch vụ với
việc cung cấp dịch vụ. Khi nhà quản lý nhận ra được sự mong muốn của khách hàng,
đã thiết kế ra tiêu chuẩn dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng (quy định
thời gian phục vụ nhanh như khách hàng mong đợi), nhưng trong quá trình thực
hiện nhân viên không thực hiện theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Khoảng cách này do kỹ
năng kém hoặc do nhân viên không sẵn lòng cung cấp dịch vụ tận tâm.
vực chuyên môn khác.
1.3 Sự hài lòng
Theo Philip Kotler: “Sự hài lòng là mức độ trạng thái cảm giác của mỗi người
bắt đầu từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm/dịch vụ với những mong đợi
của người đó”
Dựa vào nhận thức về chất lượng dịch vụ có thể chia sự hài lòng thành ba mức
độ:
-
Không hài lòng: khi mức độ cảm nhận của khách hàng nhỏ hơn mong đợi.
-
Hài lòng: khi mức độ cảm nhận của khách hàng nhỏ hơn mong đợi.
-
Rất hài lòng: khi mức độ cảm nhận của khách hàng lớn hơn mong
đợi. Nhận thức chất lượng dịch vụ là kết quả của khoảng cách giữa dịch vụ.
Mong đợi và dịch vụ cảm nhận và sự hài lòng cũng là sự so sánh hai giá trị
này. Khi khoảng cách giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ cảm nhận về chất lượng dịch
vụ được thu hẹp bằng không thì được xem là khách hàng hài lòng.
Mong đợi và đánh giá của người tiêu dùng đối với dịch vụ có thể thay đổi
theo thời gian và ngữ cảnh thực hiện dịch vụ. Dịch vụ được coi là có chất lượng,
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng này có thể lại không đáp ứng mong đợi của
khách hàng khác. Điều này là do sự kỳ vọng và nhận thức của khách hàng đối với
chất lượng dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng là tổng hợp của nhiều yếu tố, các
khách sạn nhà hàng khai thác. Do đó trong những năm nay khách sạn Saigon Morin
đã đưa loại hình dịch vụ này nào trong hoạt động kinh doanh nhà hàng. Một mặt
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác làm đa dạng thêm các dịch vụ, mở ra
một hướng đi mới trong hoạt động kinh doanh khách sạn.Với những cố gắng nỗ lực
không ngừng, khách sạn đã có những kết quả đáng khả quan trong việc thu hút một
số lượng khách khách đến tham dự và đặt tiệc tại khách sạn. Và trong những năm
gần đây, doanh thu và chi phí trong kinh doanh dịch vụ tiệc cưới đều tăng nên
nguồn lợi nhuận không ngừng tăng lên qua các năm. Để đạt được thành tích như
vậy là kết quả sự nỗ lực cố gắng của toàn thể đội ngũ lao động nhà hàng khách sạn
Saigon Morin nói chung và đội ngũ lao động trong kinh doanh dịch vụ tiệc cưới nói
riêng.
Tóm lại có thể nói kinh doanh dịch vụ tiệc cưới đã góp phần không nhỏ mang
lại nguồn thu đáng kể cho hoạt động kinh doanh chung của khách sạn. Đây là một
lĩnh vực kinh doanh cần được đầu tư và phát triển hơn nữa nhằm đem lại hiệu quả
kinh tế tối ưu cho hoạt động kinh doanh của khách sạn trong tương lai.
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TIỆC CƯỚI
TẠI NHÀ HÀNG JULES FERRY – KHÁCH SẠN SAIGON MORIN HUẾ
A TỔNG QUAN VỀ KHách sẠN SAIGON MORIN HUẾ
2.1 giới thiệu chung về khách sạn
2.1.1
Giới thiệu chung
Địa chỉ: 30 Lê Lợi, Thành phố Huế,
Thừa Thiên Huế
Điện thoại: (84 54) 3823526
Fax: (84 54) 3825155
động trở lại từ năm 1905 và một tên mới là “Le Grand Hotel de Hue”.
Kể từ năm 1907, an hem Morin làm chủ quản lí mọi hoạt động của khách sạn
và đổi tên thành Khách Sạn Morin.
Từ năm 1907-1953 ngoài việc phục vụ du khách, khách sạn còn đảm nhiệm vai
trò “Nhà khách” của Chính phủ Nam Triều và chính phủ Bảo hộ (Tòa Khâm sứ Trung
Kì),cơ quan du lịch Trung Kì, một bộ phận của phòng Du lịch Đông Dương thuộc
PHáp và là nơi hội họp của Hội Đô Thành Hiếu Cổ. Vào thời điểm này, khách sạn có 72
phòng ngủ, một nhà hàng, một rạp chiếu phim, một cửa hàng và một phòng đọc sách.
Nằm ở vị trí trung tâm thành phố, khách sạn đẹp nhất Huế đã từng lưu lại
dấu ấn của nhiều chính khách, thương gia, các ngôi sao điện ảnh, nhà văn nổi tiếng
thời bấy giờ như nhà văn Pháp nổi tiếng Andre Malraux, đặc biệt Vua hề Serlo
Charlie Chaplin và Paulette Godard đã có kì nghỉ tuần trăng mật tại đây năm 1936.
Từ năm 1954, người Pháp rút về theo hiệp định Gerneve, hãng buôn Morin đã
chuyển nhượng toàn bộ khách sạn cho ông Nguyễn Văn Yến- một doanh nhân người
Việt thời bấy giờ.
Đến năm 1957 chính quyền Ngô Đình Diệm mà trực tiếp là Ngô Đình Cẩm đã
cho chủ tịch thu toàn bộ cơ sở Morin và cho Nhà Nước ngụy quyền Sài Gòn Morin
thuê làm cơ sở Đại Học Huế. Tết Mậu Thân 1968 Khách sạn Morin cũng là nơi diễn
ra trận chiến ác liệt giữa quân đội Mỹ và quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau ngày
Việt Nam hoàn toàn giải phóng 30/3/1957, khách sạn Morin vẫn tiếp tục là cơ sở
đào tạo của trường Đại Học Tổng Hợp Huế.
Đến năm 1989 Tỉnh Thừa Thiên Huế đã chuyển giao cho Sở Du lịch TT Huế
để đưa vào kinh doanh trở lại. Cơ sở vật chất của khách sạn đã xuống cấp và chỉ
kinh doanh với đối tượng khách “Tây Ba lô”.
Để đáp ứng nhu cầu về chất lượng ngày càng cao của du khách, đồng thời
tạo ra một cơ sở kinh doanh du lịch quốc tế có tầm cỡ tại Huế. Năm 1992, Tỉnh
Thừa Thiên Huế đã cho liên doanh cùng Công ty Du Lịch Sài Gòn nâng cấp thành
khách sạn 3 sao và đưa vào hoạt động trở lại năm 1997 với tên mới “Hotel SaiGon
sản phẩm truyền thống, hội nghị khách hàng, tiệc cưới,...là điểm hoạt động văn hóa
trong và nước ngoài để thu hút khách.
-
Vận chuyển khách du lịch: bảo đảm các yêu cầu đưa đón khách đến khách
sạn, đi tham quan các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh.
-
Các dịch vụ khác thực hiện do khách yêu cầu như: hướng dẫn tham quan
phiên dịch, đăng kí vé máy bay, tàu hỏa, gia hạn Visa, fax, điện thoại,
photocopy, phục vụ trọn gói các hội nghị, hội thảo quốc tế.
-
Nhiệm vụ
Khách sạn Sài Gòn – Morin là doanh nghiệp Nhà nước, có tư cách pháp
nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại
ngân hàng để giao dịch, là đơn vị kinh doanh thu lợi nhuận hoạt động trên nguyên
tắc hoạch toán kinh tế.
-
Khách sạn Sài Gòn – Morin là cơ sở kinh doanh phục vụ lưu trú, nơi sản xuất
chế biến và tiêu thụ những dịch vụ hàng hóa đáp ứng những nhu cầu về ăn
ngủ, vui chơi giải trí, vận chuyển và các nhu cầu khác của khách.
-
Khách sạn Sài Gòn – Morin đặt dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quản trị Công ty ( do
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG KINH DOANH – TIẾP THỊPHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN PHÒNG KẾ HOẠCH – TỔ CHỨC
KINH DOANH
TIẾP THỊ
KẾ TOÁN TỔNG HỢP THỦ QUỸ KẾ HOẠCH THỐNG KÊ BẢO VỆ
Xúc tiến bán tour Kế toán thu chi
Xúc tiến bán tiệc Kế toán công nợ
Nghiên cứu phát triển Kế toán kho
Thu ngân
Vi tính
Vật tư
Thủ kho
LỄ TÂN
BUỒNG
NHÀ HÀNG
BẾP
KĨ THUẬT
Tổng đài
Quan hệ phối hợp
2.2 Nguồn lực của khách sạn
2.2.1
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong kinh doanh lưu trú
Số lượng phòng ngủ có tới 180 phòng, thể hiện ở bảng 2.1 :
Bảng 2.1 : CƠ SỞ VẬT CHẤT LƯU TRÚ KHÁCH SẠN SAIGON MORIN – HUẾ
Loại phòng
Colonial
Deluxe
Premium
Premium River
Deluxe
Colonial Suite
Morin Suite
Excultive Suite
Tổng
Số lượng
Tỷ trọng
(%)
Loại giường
Diện tích
(m2)
3,26
2,72
100,00
King
King
King
70
100
120
( Nguồn : Phòng kinh doanh – Tiếp thị khách sạn Sài Gòn – Morin Huế )
Qua bảng trên ta thấy các loại phòng ngủ ở khách sạn được chia ra làm 6
loại khác nhau phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán của từng đối tượng
khách hàng. Mỗi loại phòng đều khác nhau về diện tích, mức độ tiện nghi và sự hài
lòng, tuy nhiên vẫn đảm bảo đáp ứng đầy đủ các dịch vụ theo tiêu chuẩn. Trong mỗi
phòng đều có đầy đủ tiện nghi như: đèn làm việc, đèn ngủ, truyền hình cáp, điện
thoại, Internet không dây, TV, tủ lạnh, trà, cafe, nước khoáng miễn phí...khóa cửa
phòng kín đáo, an toàn két sắt, ngoài ra còn có hoa tươi, trái cây, sách đọc và các đồ
dùng cá nhân khác.
Loại phòng chiếm tỷ lệ cao là phòng Premium River Deluxe, chiếm 34,24%
tổng số các loại phòng. Đây là loại phòng có mức giá bán trung bình, phòng rộng,
tiện nghi tốt, vị trí đẹp. Tiếp theo là phòng Premium, chiếm tỷ trọng 30,98% đây là
loại phòng trung bình về giá, diện tích phòng và vị trí. Nhưng nhìn chung thì tỷ
trọng cũng không chênh lệch nhiều. Còn lại là loại phòng Suite có tỷ trọng thấp gồm
Colonial Suite, Morin Suite và Excultive Suite, chỉ chiếm 9,78%. Đây là loại phòng
rộng và sang trọng, có phòng khách riêng, tiện nghi tốt, dành cho những khách có
thu nhập cao, có khả năng thanh toán.
Quy mô ( chỗ ngồi )
450 – 500
400 – 450
40
120 – 150
20- 30
( Nguồn : Khách sạn Sài Gòn – Morin )
Ngoài ra, tại khách sạn còn có đầy đủ các trang thiết bị hiện đại cung cấp các
dịch vụ bổ sung sau : Dịch vụ phòng 24 giờ, giặt là trong ngày, giữ thẻ, quầy hàng
lưu niệm, wifi miễn phí, dịch vụ y tế, tour desk, gallery, ATM...
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giải trí : Khách sạn có 2 bàn bida, phòng xông
hơi và massage, phòng chăm sóc sắc đẹp. Phòng cắt tóc, phòng tập thể dục, bể bơi
ngoài trời,...
2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách sạn Saigon Morin
Huế giai đoạn 2013-2015
Doanh thu hoạt động kinh doanh của khách sạn Morin Huế qua 3 năm 20132015 được thể hiện ở bảng 2.3:
Bảng 2.3 CƠ CẤU DOANH THU THEO TỪNG LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
Chỉ tiêu
2013
ĐVT
SL
2014
8
DT dịch vụ
Tr.Đồng 5.926 10,2 7.292 10,86 9.215 11,67 1,366 23,1 1,923 26,4
bổ sung
( Nguồn : Khách sạn Sài Gòn Morin – Huế )
Qua bảng 2.3 cho thấy tổng doanh thu của khách sạn có sự tăng trưởng theo
các năm. Qua 3 năm ta thấy doanh thu từ dịch vụ lưu trú của khách sạn chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng doanh thu ( 58,38% năm 2013, 58,42% năm 2014 và
59,17% năm 2015). Chiếm tỷ trọng thứ hai trong tổng doanh thu chính là doanh
thu từ dịch vụ ăn uống (31,42% năm 2013, 30,72% năm 2014 và 29,16% năm
2015) và cuối cùng là doanh thu từ các dịch vụ bổ sung như dịch vụ massage, hồ
bơi, phòng tập thể dục...
So với năm 2013 thì năm 2014 tổng doanh thu dịch vụ lưu trú của khách sạn
tăng 15,6% tương ứng là 5.319 triệu đồng, và so với năm 2014 thì năm 2015 tăng
19,1% , tương ứng 7,492 triệu đồng. Cùng với sự gia tăng của doanh thu từ dịch vụ
lưu trú thì doanh thu từ ăn uống cũng tăng lên ( năm 2014 tăng 13% so với năm
2013, tương ứng 2,377 triệu đồng và năm 2015 tăng 11,6% so với năm 2014, tương
ứng 2,400 triệu đồng). Ngoài ra thì doanh thu từ các dịch vụ bổ sung khác cũng có
chiều hướng tăng dần thêm năm 2014 tăng 23,1% so với năm 2013, tương ứng
1.366 triệu đồng và năm 2015 tăng 26,4% so với năm 2014, tương ứng 1,923 triệu
đồng.