Luận văn quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã trung minh, huyện kỳ sơn, tỉnh hoà bình - Pdf 37

Chơng 1
đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển đi lên của đất nớc bớc vào thời kỳ CNH- HĐH
có sự đóng góp không nhỏ của phát triển kinh tế xã hội các vùng nông thôn đặc
biệt là các vùng nông thôn miền núi nớc ta hiện nay. Nói đến nông thôn miền
núi là nói đến sản xuất lâm nghiệp, sự phát triển kinh tế xã hội nhìn chung là
thấp và chậm. hơn các vùng khác. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc
phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền núi còn thiếu đồng bộ, trình độ kỹ
thuật sản xuất còn lạc hậu, phơng thức quản lý lỏng lẻo, công tác quy hoạch sử
dụng đất lâm nông nghiệp vẫn còn những bất cập, thiếu chi tiết, cụ thể. Dẫn đến
tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy thoái cạn kiệt, đất đai bị xói mòn rửa trôi,
số chất lợng rừng tăng lên không đáng kể thậm chí còn xu hớng giảm dần. Các
sản phẩm thu đợc từ rừng không đủ đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống của ngời
dân, đặc biệt là ngòi dân có cuộc sống dựa vào rừng, đời sống vật chất tinh thần
của ngời dân không đợc cải thiện.
Trớc những thực trạng đó, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nớc đã ban
hành nhiều chủ trơng, chính sách, văn bản pháp luật nh luật Đất đai sửa đổi năm
2003, luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Điều đó đã góp phần ổn định
phát triển kinh tế xã hội ở các vùng nông thôn miền núi, đặc biệt là nhằm phát
triển sản xuất lâm, nông nghiệp, từ đó mà công tác quy hoạch ngày càng chi tiết,
cụ thể đến các xã thậm trí đến cấp thôn bản.
Với vai trò là đơn vị nhỏ nhất trong các đơn vị quản lý lãnh thổ hành
chính và là đơn vị cơ bản quản lý và sản xuất lâm nghiệp của các thành phần
kinh tế tập thể và t nhân, cấp xã ngày càng phát huy vai trò thế mạnh của mình
trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng nh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
vùng nông thôn miền núi. Công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã đã góp phần
phân bổ đất đai một cách hợp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phơng, phù hợp với mục đích sử dụng đất đai một cách bền vững, với mục tiêu, phơng hớng phát triển của các cấp quản lý trên cũng nh tâm t nguyện vọng của của
ngời dân, đặc biệt là những ngời sống trong hoặc gần rừng. Không những thế nó
còn góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngời dân nông thôn, đáp
1


Lập địa hợp lý và Năng suất sử dụng đợc coi là mở đầu cho thời kỳ quy
hoạch. Nh vậy đến đầu thế kỷ XX thế giới coi quy hoạch sử dụng đất chỉ là quy
hoạch thuần tuý mà thôi.
Vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX quy hoạch ngành bắt đầu xuất
hiện, giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng. Thời kỳ những năm 50 đến
70 trên thế giới nhấn mạnh nhiều đến nghiên cứu và đánh giá đất đai trong quy
hoạch sử dụng đất. Năm 1971 và 1975 các chuyên gia t vấn của FAO họp tại
Rome và Geneve thảo luận về phơng pháp luận quy hoạch nông thôn. Vào thời
kỳ này các thuật ngữ nh quy hoạch địa phơng, quy hoạch vi mô, quy hoạch thôn
bản, quy hoạch cùng tham gia... mới bắt đầu hình thành và đa vào quy hoạch.
Vào năm 1984 Bohlin đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin cho quy
hoạch trồng rừng. Các tác giả Soda và Lund (1987) đa ra hệ thống thông tin cần
thiết cho quy hoạch xây dụng rừng. Năm 1975, Vink đã phân 6 nhóm chính về
dữ liệu của tài nguyên đất cần thu thập cho quy hoạch sử dụng đất nh : khí hậu,
độ dốc và địa mạo, thổ nhỡng gồm cả thuỷ văn, đất, nớc, tài nguyên nhân tạo nh
hệ thống tới tiêu, thảm thực vật. Hiện nay, về cơ bản thì hệ thống thông tin này
vẫn cần cho quy hoạch, nhng mức độ chi tiết cao hơn.
Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX xuất hiện các phơng pháp đợc sử dụng
trong quy hoạch nh phơng pháp điều tra đánh giá cùng tham gia( RRA, PRA)
phơng pháp phân tích các hệ thống canh tác, phơng pháp LEFSA (phơng pháp
kết hợp giữa đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác).

3


Năm 1985 một nhóm chuyên gia t vấn quốc tế về quy hoạch sử dụng đất
đợc tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất
với 4 câu hỏi: 1- Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì? 2- Có
các phơng án sử dụng đất nào? 3- Phơng án nào tốt nhất? 4- Có thể vận dụng
vào thực tế nh thế nào? Wilkingson (1985) nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất

Đặc biệt mới đây nhất Nhà nớc ban hành Luật đất đai sửa đổi (12/2003),
điều 13 của luật đã phân loại đất đai theo 3 nhóm đó là :Đất nông nghiệp, đất phi
nông nghiệp, và đất cha sử dụng. Tiếp theo đó là Luật bảo vệ và phát triển rừng
(tháng 3/2004) quy định rõ hơn quyền và trách nhiệm của các đơn vị, hộ gia
đình, cá nhân trong công tác bảo vệ, phát triển rừng.
b) Các quan điểm về quy hoạch sử dụng đất
Các vấn đề quy hoạch sử dụng đất đợc khởi xớng từ năm 1963, và đợc
hoàn thiện dần theo thời gian. Trớc đây, việc quy hoạch sử dụng đất thờng dựa
vào các đơn vị hành chính ( tỉnh, huyện, xã ), hoặc quy hoạch theo ngành ( nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ).
Giai đoạn trớc năm 1993, nhìn chung quy hoạch sử dụng đất đợc thực hiện
bởi các tổ chức chuyên môn, trong từng ngành, căn cứ vào định hớng phát triển
kinh tế của Nhà nớc, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phơng. Ngời lập
quy hoạch sử dụng đất hoàn toàn tuân thủ những quy định, văn bản hớng dẫn của
Nhà nớc, nh quy trình kỹ thuật, luận chứng kinh tế xã hội...Hoạt động quy hoạch
sử dụng đất hoàn toàn tách biệt với ngời dân.
Trong đầu những năm 1990, các vấn đề quy hoạch nông, lâm nghiệp cấp
vi mô đợc nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Các nhà khoa học trong và ngoài
nớc đề cho rằng quan điểm quy hoạch nông, lâm nghiệp cấp địa phơng nên đi
theo hớng sau:
- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông, lâm nghiệp
chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng của đất.
- Rà soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hớng tới đa mục đích
sử dụng đất đai bằng việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất, trong mỗi bản
quy hoạch của cộng đồng
- Gắn hai quá trình quy hoạch và giao đất và coi là hai bộ phận có quan hệ
chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp ở mỗi địa phơng, cộng đồng.
- Nghiên cứu và thử nghiệm phơng pháp cùng tham gia trong quy hoạch,
xác định và phân tích chủ thể trong quy hoạch nông, lâm nghiệp cấp xã.


của Nhà nớc và nhu cầu nguyện vọng của ngời dân..., xem xét mọi vấn đề liên
quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên. Cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này
phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phơng pháp quy
hoạch tổng hợp.

6


Chơng trình hợp tác Việt-Đức dự án phát triển lâm nghiệp xã hội sông Đà
đã nghiên cứu và thử nghiệm phơng pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm
nghiệp tại 2 xã trên cơ sở hớng dẫn của Chi cục kiểm lâm đã lấy cấp thôn bản
làm đơn vị quy hoạch cho phù hợp với đặc thù vùng cao.
Năm 2001, trên cơ sở phân tích đánh giá các cơ sở khoa học và thực tiễn
của quy hoạch phát triển lâm, nông nghiệp cấp xã cùng với xu hớng phát triển
của vùng miền núi phía bắc, Nguyễn Bá Ngãi đã xác định rõ bộ phận cấu thành
và đề xuất đợc khung trình tự và phơng pháp quy hoạch phát triển lâm, nông
nghiệp cấp xã.
Trong những năm gần đây cũng có những nghiên cứu về quy hoạch sử
dụng đất lâm, nông nghiệp của một số tác giả nh: Đinh Văn Đề, Nguyễn Văn
Quyết, Lê Sỹ Trung... góp phần từng bớc hoàn thiện về phơng pháp luận trong
quy hoạch.

7


Chơng 3
mục tiêu giới hạn phạm vi nội dung và phơng pháp
nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu tổng quát

- Tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã ổn định, bền
vững trong 10 năm tới.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng đất lâm, nông nghiệp bền vững
trong giai đoạn 10 năm tới.
- Tổng hợp vốn đầu t và ớc tính hiệu quả của phơng án quy hoạch sử dụng
đất lâm, nông nghiệp.
3.4. Phơng pháp nghiên cứu
3.4.1. Phơng pháp thu thập số liệu
- Phơng pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu sẵn có của địa phơng về điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất...
- Phơng pháp phỏng vấn bán định hớng, phỏng vấn cán bộ địa phơng, cán
bộ kỹ thuật và ngời dân.
- Phơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA).
- Điều tra trữ lợng, sản lợng rừng theo phơng pháp ô tiêu chuẩn điển hình.
3.4.2. Phơng pháp xử lý số liệu
- Phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản theo phơng pháp SWOT.
- Xây dựng phơng án quy hoạch sử dụng đất theo phơng pháp chuyên gia.
N

t
- Dự tính dân số trong tơng lai theo công thức: H t = H o . N

o

Trong đó: Ht: Số hộ trong tơng lai
Ho: Số hộ hiện tại
Nt: Dân số trong tơng lai
No: Dân số hiện tại
- Tính toán hiệu quả kinh tế cho một số loài cây trồng chủ yếu theo phơng
pháp tĩnh và phơng pháp động.

Trong sản xuất kinh doanh, chúng ta coi yếu tố về chi phí và kết quả có
mối quan hệ động với mục tiêu đầu t, thời gian và giá trị đồng tiền. Các chỉ tiêu
đợc tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, IRR trong chơng trình
EXCEL 7.0
+ Giá trị hiện tại thuần túy NPV: là hiệu số giữa thu nhập và chi phí thực
hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về
thời điểm hiện tại.
n

NPV =

Bt Ct

(1 + i )
t =1

t

Trong đó:

NPV là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng).
Bt: là giá trị thu nhập ở năm thứ t(đồng).
Ct: là giá trị chi phí ở năm thứ t (đồng)
i: là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%).
t: là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm).
NPV dùng để đánh giá hiệu qủa kinh tế của các mô hình kinh tế hay các
phơng thức canh tác. NPV càng cao thì hiệu quả kinh tế càng cao.
+Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR: là chỉ tiêu đánh giá thu hồi vồn đầu t có
kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu.
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi tỷ


(1 + i )
t =1

t

=

BPV
CPV

t

Trong đó: BCV: Tỷ lệ thu nhập và chi phí.
BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập.
CPV: Giá trị hiện tại của chi phí
Nếu mô hình nào hoặc phơng thức canh tác nào có BCR>1 thì có hiệu quả
kinh tế, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngợc lại.

11


Chơng 4
kết quả nghiên cứu
4.1. Điều tra điều kiện cơ bản của xã
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính
Trung Minh là một xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc của huyện Kỳ Sơn
với các đơn vị hành chính giáp ranh bao gồm:
Phía Bắc giáp thị trấn Kỳ Sơn trung tâm huyện lỵ.

mùa, tính chất khí hậu diễn biến theo mùa tơng đối rõ rệt, đặc biệt ở hai yếu tố:
nhiệt độ và lợng ma, biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm không lớn, ít gây sự
biến đổi đột ngột về thời tiết khí hậu. Tuy nhiên, với lợng ma lớn và tập trung
theo mùa đã gây nên tình trạng úng ngập và hạn hán ở một số nơi làm ảnh hởng
đến sản xuất nông nghiệp.
4.1.1.4. Thuỷ văn nguồn nớc
Sông Đà là con sông lớn chảy qua địa bàn của xã dài 5km, chiều rộng
trung bình 300m-350m, lu lợng nớc lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Tuy
nhiên, hàng năm do việc xả lũ của hồ sông Đà vào tháng 6 đến tháng 8 với bề
mặt dòng sông rộng từ 500m-600m, mặt nớc chảy xiết thờng gây úng ngập và sạt
lở ven sông.
Hồ Ngọc với diện tích khoảng 6,5 ha là nguồn nớc dồi dào đảm bảo việc
cung cấp nớc cho sản xuất nông nghiệp thông qua hệ thống kênh mơng đã đợc
cứng hoá dài 3,5km.
Ngoài hai hệ thống sông, hồ chính nêu trên Trung Minh còn có hệ thống
suối tự chảy cũng là nguồn cung cấp nớc cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
trong khe núi.
4.1.1.5. Thổ nhỡng
Theo kết quả điều tra thổ nhỡng năm 1974, đất đai xã Trung Minh gồm 3
loại đất chính nh sau:
Biểu 01: Đặc điểm nông hoá, thổ nhỡng.
STT

Loại đất

1
2
3

Đất đỏ vàng trên đá sét


Nhìn chung, chất lợng đất của Trung Minh vào loại trung bình, đất cha bị
ô nhiễm và thoái hoá, nhng do chế độ nớc cha hoàn toàn chủ động nên đã hạn
chế việc thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp.
4.1.1.6. Cảnh quan môi trờng
Trung Minh là nơi hội tụ của núi, rừng, sông, suối, nguồn tài nguyên rừng
khá lớn, có dòng sông Đà chảy qua, có khu hồ Ngọc nằm cạnh quốc lộ 6, tạo cho
nơi đây có môi trờng sinh thái và cảnh quan thiên nhiên đẹp. Trong tơng lai, có
thể phát triển khu vực này thành khu du lịch sinh thái, kết hợp với du lịch sông
Đà và khách nghỉ cuối tuần.
4.1.1.7. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên của xã
Qua kết quả điều tra khảo sát thực tế cho thấy, điều kiện tự nhiên của xã
có những thuận lợi và khó khăn sau:
- Trung Minh có vị trí địa lý rất thuận lợi, có cơ hội để giao lu kinh tế, văn
hoá với nhiều địa phơng khác trong và ngoài huyện, đặc biệt với thị xã Hoà Bình,
là điều kiện thúc đẩy xã tiếp cận nhanh với nền kinh tế thị trờng.
- Với nguồn tài nguyên khá phong phú, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất
rộng lớn, các yếu tố tự nhiên tơng đối thuận lợi, giúp cho xã có khả năng phát
triển nền sản xuất lâm, nông nghiệp hàng hoá đa dạng. Tuy nhiên, hiện nay việc
khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên đó còn ở mức hạn chế.
- Trung Minh có môi trờng sinh thái cảnh quan thiên nhiên đẹp, là tiềm
năng để phát triển khu vui chơi giải trí và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, vẫn còn
một số vấn đề bất cập nh: đất trống, đồi núi trọc còn nhiều, cha có thảm thực vật
che phủ, đất đang bị xói mòn, rửa trôi, môi trờng sinh thái cha đảm bảo bền
vững. Hàng năm, khi đến mùa lũ và việc xả lũ sông Đà đã gây nên tình trạng xói
mòn và sạt lở đất ven sông, gây úng ngập, làm ảnh hởng đến sản xuất và đời
sống sinh hoạt của nhân dân.
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1. Dân số, lao động và việc làm
Kết quả tổng hợp dân số và lao động giai đoạn 2000 đến 2005 của xã đợc

Hộ
Hộ
Hộ

2000
6120
1964
4156
407
1.23
2937
862
2075
1412
504
908

2002
6203
1993
4210
412
1,15
2977
880
2097
1438
513
925


Trong những năm qua nhờ thực hiện tốt chủ trơng đờng nối chính sách của
Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế mà tốc độ tăng trởng kinh tế của xã Trung
15


Minh có những chuyển biến khả quan, năm sau cao hơn năm trớc, năm 2000 là
6% đến năm 2005 là 8,6%. Tổng thu nhập của xã là 29 tỷ 502 triệu đồng, trong
đó thu từ các hoạt động sản xuất lâm, nông nghiệp là 11 tỷ 800 triệu đồng
(chiếm 40%), còn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 17 tỷ
702 triệu đồng (chiếm 60%). Bình quân thu nhập đầu ngời là 4,7 triệu đồng/ngời/năm.
Theo kết quả điều tra của các ban quản lý xã thì thực trạng đời sống nhân
dân đợc thể hiện qua biểu sau:
Biểu 03: Thực trạng đời sống nhân dân xã Trung Minh
STT
1
2
3
4

Phân loại thu nhập
Giầu và khá
Trung bình khá
Trung bình
Nghèo

Số hộ
337
295
732
113

*) Thuỷ lợi:
Do địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên việc bố trí các hệ thống kênh mơng
gặp khó khăn. Hiện tại, chủ yếu là các kênh mơng tới tự chảy từ hồ Ngọc (rộng
6,5ha) và các suối thông qua hệ thống đập tràn và các bai. Hệ thống mơng tiêu nớc cha có nên vào mùa lũ việc tiêu nớc cha đáp ứng đợc dẫn đến ngập úng cục
bộ ở một số diện tích. Toàn xã có khoảng 5,7 km kênh mơng, trong đó đã cứng
hoá đợc 3,5 km, còn 2,2 km cha đợc đầu t cứng hoá nên khả năng tới nớc còn
hạn chế, cha đáp ứng đợc nhu cầu sử dụng. Hệ thống bai, đập trong xã có 2 cái
đợc xây dựng kiên cố đảm bảo sử dụng nớc cho khoảng 70 ha. Trong tơng lai,
cần xây dựng bai xóm Chu (suối Chu) kết hợp với việc cứng hoá kênh mơng
nhằm mở rộng diện tích 3 vụ.
*) Hệ thống y tế, giáo dục và văn hoá:
- Y tế: Trong địa xã có một trung tâm y tế của huyện và một trạm y tế của
xã đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
- Giáo dục: Xã đã có trờng cấp I, II và hệ thống trờng mần non tại các
xóm phố. Tuy nhiên cơ sở vật chất cha cao, cần đợc mở rộng diện tích, đầu t
nâng cấp nhằm đạt chuẩn quốc gia.
- Văn hoá: Các phong trào thể dục, thể thao, văn hoá, văn nghệ trong xã
cha thực sự phát triển do cha có đầy đủ hệ thống trang thiết bị, sân bãi, nhà văn
hoá, vì thế cần đợc quan tâm đầu t thích đáng hơn.
4.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh lâm, nông nghiệp và một số ngành
nghề khác
4.1.3.1. Sản xuất lâm nghiệp
Trong những năm gần đây, Trung Minh đã trồng đợc 451,94 ha diện tích
rừng trong đó có 373,94 ha trồng bạch đàn theo chơng trình PAM từ những năm
90 hiện đã cho khai thác và đang kinh doanh rừng chồi. Năm 2004 vừa qua, xã
đã trồng thêm đợc 78 ha Keo lá tràm, với mật độ 2200 cây/ha, qua kiểm kê,
nghiệm thu tỷ lệ sống đạt 96% cho thấy công tác trồng rừng đã đợc chú trọng.
Các diện tích trồng rừng kể trên chủ yếu phục vụ cho nguyên liệu giấy của nhà
máy giấy Hoà Bình, đồng thời cũng phục vụ cho dự án 5 triệu ha rừng. Ngoài
công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ các diện tích rừng trồng các cán bộ chuyên

và nớc là hai nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển sản xuất nhất là sản xuất
lâm, nông ngiệp. Ngoài ra, Trung Minh còn có cảnh quan thiên nhiên đẹp có thể
18


phát triển du lịch sinh thái đem lại nguồn thu, đóng góp vào sự phát triển chung
của nền kinh tế. Tăng trởng kinh tế qua các năm ngày càng tăng, đời sống nhân
dân ổn định, văn hoá, xã hội từng bớc phát triển, an ninh quốc phòng đảm bảo,
ổn định chính trị địa phơng.
Tuy nhiên, trong những năm qua Trung Minh cha phát huy hết những lợi
thế và tiềm năng sẵn có nêu trên. Sản xuất nông nghiệp cha thực sự ổn định và
vững chắc, diện tích cây vụ đông cha đợc mở rộng, đặc biệt là những cây có giá
trị kinh tế cao (cây mía, cây hoa màu...) còn chiếm tỷ trọng thấp. Ngành lâm
nghiệp cha phát triển, diện tích đất trống đồi núi trọc còn nhiều, sản phẩm thu
hoạch cha đem lại giá trị kinh tế cao. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
chủ yếu vẫn chỉ là phát triển ngành nghề theo mô hình kinh tế hộ gia đình.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng còn thấp, hệ thống thuỷ lợi cha đáp
ứng đợc nhu cầu tới tiêu, kênh mơng cha đợc cứng hoá đồng bộ, còn gây lãng
phí đất.
Trình độ dân trí của nhân dân còn thấp, các công trình phúc lợi xã hội cha
đáp ứng đợc nhu cầu. Quy mô phát triển dân số ngày càng tăng, do vậy trong tơng lai sẽ gây áp lực rất lớn đối với tài nguyên đất đai, đặc biệt là đất dân c, đất
nông nghiệp và đất chuyên dùng.
4.2. Tình hình quản lý sử dụng đất đai của xã Trung Minh
4.2.1. Tình hình quản lý đất đai của xã
Trong những năm qua, UBND xã đã chỉ đạo chặt chẽ các ban ngành ở địa
phơng quán triệt và thực hiện tốt các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc cũng nh các văn bản của Nhà nớc về quản lý đất đai. Công tác giao đất cho
thuê đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đợc thực hiện
dân chủ, công khai đảm bảo tính công bằng nên đã hạn chế những tiêu cực trong
quản lý sử dụng đất. Đảm bảo 100% số hộ đã đợc giao đất đều đợc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đầy đủ, điều này đã làm cho các hộ dân thực sự

còn lại chủ yếu là: Re, Giẻ, Kháo, Chẹo, cùng một số loài cây tái sinh th a thớt
khác, ngoài ra còn một số loài cây mọc nhanh nh: Thành ngạnh, Thôi ba,

20


STT

Loại đất
Tổng diện tích tự nhiên

Diện tích(ha)
1504,68

Cơ cấu(%)
100

I
Nhóm đất nông nghiệp
I.1
Đất lâm nghiệp
I.1.1
Rừng tự nhiên
I.1.1.1
Rừng tự nhiên phòng hộ
I.1.2
Rừng trồng
I.1.2.1
Rừng trồng sản xuất
I.1.2.2

II.2.2
Đất giao thông
II.2.3
Đất thuỷ lợi
II.2.4
Đất an ninh quốc phòng
II.2.5
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
III
Nhóm đất khác
III.1
Đất cha sử dụng
III.1.1
Đất bằng cha sử dụng
III.1.2
Đất đồi núi cha sử dụng
III.1.3
Đất có mặt nớc cha sử dụng
III.2
Sông suối

840.04
606,94
155
155
451,94
451,94
0
0
233,15

74,46
0
0
15,49
69,02

21

30
0
0
0,97
7,93
42,32
57,68
17,15
17,52
13,79
7,13
2,08
36,24
74,15
1,65
71,59
0,91
25,85


Ràng ràngTuy nhiên, do ảnh hởng của dây leo, bụi rậm cũng nh tác động
không mong muốn của con ngời nên khả năng tái sinh của các loài trên còn hạn

12,1
0,0851 97,865
2
Keo
9
1020
13,77
10,95
0,098 99,96
Ngoài ra trong năm 2004 vừa qua, xã đã trồng mới đợc 78 ha keo tai tợng,
đạt tỷ lệ sống khá cao (96%), hiện nay đang trong giai đoạn chăm sóc bảo vệ.
Qua điều tra khảo sát thực tế, tôi nhận thấy một số khu vực nên chuyển
đổi mục đích sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra sắp tới. Khu vực suối Củ có
diện tích khoảng 56 ha, hiện đang là rừng trồng keo và bạch đàn, nhng do đây là
nguồn nớc tự nhiên cung cấp một phần nhu cầu nớc tới cho sản xuất nông
nghiệp, nên trong thời gian sắp tới khi đến tuổi khai thác cần chuyển mục đích
sử dụng khác, cụ thể là trồng rừng phòng hộ, duy trì nguồn nớc tự nhiên nói trên.
22


Khu vực rừng trồng gần khu hồ Ngọc sắp tới nên thay thế cây trồng hiện tại bằng
loài cây khác vừa kết hợp sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu phòng hộ vừa tạo đợc
môi trờng cảnh quan sinh thái đẹp góp phần làm đẹp thêm khu hồ Ngọc, thu hút
khách tham quan du lịch.
4.2.2.1.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Tổng quỹ đất nông nghiệp của xã Trung Minh hiện có là 233,15 ha, chiếm
15,49% diện tích đất tự nhiên. Trong đó diện tích đã giao cho các hộ gia đình cá
nhân là 210,76 ha chiếm 90,4% đất nông nghiệp, đất do uỷ ban nhân dân quản lý
sử dụng là 22,39 ha. Đất nông nghiệp bao gồm các loại sau:
*) Đất trồng cây hàng năm

các loại, một số hộ trồng hoa. Tuy nhiên, diện nhỏ hẹp hình thức sử dụng chỉ
mới mang tính tự phát, ngời dân tự kiếm giống về trồng, ít đợc đầu t chăm bón
nên hiệu quả mang lại còn thấp. Do vậy, trong tơng lai cần chuyển đổi mục đích
sử dụng và cải tạo vờn tạp thành vờn quả tập trung, thay thế giống cũ bằng
những giống mới có năng suất, chất lợng cao hơn.
*) Đất có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản có diện tích nhỏ 2,27 ha, chủ yếu là
các ao hồ gần khu dân c, trong đó đã giao lâu dài cho các hộ nông dân là 1,1 ha,
còn lại 1,17 ha do uỷ ban nhân dân xã quản lý và giao khoán đấu thầu cho các
hộ, cá nhân nuôi thả cá.
4.2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
Tổng diện tích đất phi nông nghiệp của xã Trung Minh hiện nay là 119,34
ha, chiếm 7,93% tổng diện tích đất tự nhiên, bao gồm: đất thổ c 50,51 ha, đất
xây dựng 20,47 ha, đất quốc phòng an ninh 8,51 ha, đất công trình công cộng
(giao thông, thuỷ lợi ) là 37,37 ha và đất nghĩa trang, nghĩa địa 2,48 ha.
Theo xu thế phát triển sắp tới thì một số diện tích đất nh: đất thổ c, đất xây
dựng, đất giao thông, thuỷ lợi sẽ không đáp ứng đ ợc nhu cầu đặt ra sắp tới, vì
vậy cần phải đợc đầu t, nâng cấp mở rộng thêm.
4.2.2.3. Hiện trạng đất cha sử dụng và sông suối
Hiện nay, toàn xã vẫn còn 545,25 ha đất cha sử dụng và sông suối, chiếm
36,24% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó:
- Đất bằng cha sử dụng có diện tích 9,01 ha, chủ yếu là đất cỏ hoang, phân
bố không tập trung, những mảnh có diện tích lớn hơn 90 m 2 là 7,06 ha, còn lại
đều nhỏ hơn 90 m2. Trong tơng lai có thể cải tạo đất này để trồng cây hàng năm.
- Đất đồi núi cha sử dụng có 390,32 ha, chiếm 96,54% đất cha sử dụng.
Trên diện tích này bao gồm các trạng thái Ia( 21,02 ha ), Ib( 213,1 ha ), Ic( 156,2
ha ) phân bố rải rác trên các đồi của xã, trong đó đồi Thờ 174,44 ha, núi Chạc
Chò 130,56 ha, núi Lò Rèn 55,25 ha, còn lại phân bố trên đồi Bồ Đội, đồi Cây
24



đầu t thâm canh tăng vụ cha có hiệu quả, cha khai thác hết tiềm năng đất đai.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status