NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ, KỸ THUẬT TỔNG HỢP NHẰM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NGẬP MẶN VÀ RỪNG TRÀM TẠI KHU VỰC PHÍA NAM - Pdf 37

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ, KỸ THUẬT TỔNG HỢP NHẰM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN
RỪNG NGẬP MẶN VÀ RỪNG TRÀM TẠI KHU VỰC PHÍA NAM

Ngô Đình Quế và ctv
Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

TÓM TẮT
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm khôi phục và phát
triển rừng ngập mặn và rừng Tràm ở Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng
thực hiện từ năm 2000 đến năm 2003. Trên cở sở kết quả điều tra, đánh giá thực địa đề tài đã đề xuất tiêu
chuẩn phân chia rừng ngập mặn phòng hộ và rừng mặn sản xuât ven biển; Tiêu chuẩn phân chia lập địa
rừng Tràm; Đề xuất các giải pháp và xây dựng mô hình khôi phục và phát triển rừng ngập mặn và rừng
Tràm ở Việt Nam. Bài viết này trình bày các kết quả nghiên cứu cho khu vực ven biển phía nam Việt Nam.
Từ khóa: Rừng ngập mặn, rừng Tràm

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một trong số ít nước trên thế giới có hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và rừng Tràm rất
độc đáo của vùng đất ngập nước. Vai trò và ý nghĩa kinh tế, xã hội, môi trường của rừng ngập mặn và rừng
Tràm đã được khẳng định trong nghiên cứu và trong thực tiễn không những ở nước ta mà còn ở nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt nơi có rừng ngập mặn.
Diện tích rừng ngập mặn và rừng Tràm giảm mạnh trong một số năm qua do việc phá rừng nuôi tôm vì
lợi ích kinh tế trước mắt và cháy rừng Tràm khó kiểm soát được đã gây nên những hậu quả xấu về môi
trường và thiệt hại về kinh tế (các vuông tôm bị bỏ hóa, ô nhiễm nguồn nước và đất, hạn chế lưu thông thủy
triều phèn hóa và mặn hóa các vùng lân cận, nguồn than bùn bị cháy,…) mà nhiều nơi cho tới nay chưa thể
khắc phục được.
Chính vì vậy nhiều vấn đề khoa học công nghệ được đặt ra phải nghiên cứu giải quyết nhằm nhanh
chóng khôi phục hai hệ sinh thái đặc biệt quan trọng này ở vùng đất ngập nước và đề tài độc lập cấp nhà
nước " Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khôi phục và phát triển rừng ngập mặn và
rừng Tràm tại một số vùng phân bố ở Việt Nam" được Bộ KHCN và MT phê duyệt và tiến hành từ tháng
4/2000 do Viện KHLN Việt Nam chủ trì thực hiện.

Từ Vũng Tàu
đến Soi Rạp

Từ Soi Rạp đến Mỹ
Thạnh

Từ Mỹ Thạnh đến mũi Cà
Mau

Từ mũi Cà Mau đến Hà
Tiên

Khí hậu
- Nhiệt đới ẩm,
không có mùa
đông.
-Nhiệt độ trung
bình 27,2oC.
- Lượng mưa
1.345mm/năm

- Nhiệt đới ẩm, không
có mùa đông
- Nhiệt độ trung bình
o
26,8 C
-Lượng mưa 1.4671.859mm/ năm

- Nhiệt đới ẩm, không có mùa
đông

Cửu Long

của sông Đồng
Nai

- Lưu lượng nước rất
lớn 3.400m3/s

- Nằm xa các vùng cửa sông
tiền và sông Hậu.

- Nằm xa các vùng cửa
sông

tiếp
thượng

- Lưu
nước

lượng
nhỏ

532m3/s.
- Cửa sông hình
phễu.
Sản phẩm bồi tụ
Sản
phẩm
phong hóa nhiệt

- Chế độ bán nhật
triều
- Biên độ triều 2,5-3m
- Độ mặn của nước
vùng cửa sông biến
động lớn 3-17o/oo.

- Chế độ bán nhật triều
- Biên độ triều TB 1,9m
- Độ mặn nước tương đối
cao, biến động không nhiều
trong năm 20,7-28,7o/oo

- Chế độ nhật triều vịnh
Thái Lan
- Biên độ triều thấp 6070cm
- Độ mặn tương đối cao,
biến động không nhiều
trong năm

Đặc điểm đất
- Đất ngập mặn

- Đất ngập mặn không

- Đất ngập mặn

335

- Đất ngập mặn phèn tiềm

trung bình
- Thành phần cơ giới
biến động lớn từ cát
pha đến sét pha nặng.

- Đất ngập mặn phèn tiềm
tàng (loại đất có diện tích rộng
nhất)
- Đất ngập mặn than bùn
phèn tiềm tàng (diện tích nhỏ
nhất)
- Đất giàu chất hữu cơ và hạt
sét

tàng (chiếm diện tích rộng
nhất)
- Đất giàu hạt cát
- Hàm lượng chất hữu cơ
cao
- Có nơi hình thành đất
ngập mặn than bùn phèn
tiềm tàng

Đặc điểm thực vật
- Có phong phú
các rừng Mắm,
sau đó đến rừng
bần, rừng Đước
tự nhiên có diện
tích không rộng

biển luôn cao hơn 20OC. Có các loại rừng ngập mặn rất đặc trưng, không thấy phân bố ở miền Bắc, như
rừng Đước, rừng Đưng, rừng Mắm trắng, rừng Mắm đen, rừng Dà, rừng Dừa nước...
2. Chế độ mưa:
Lượng mưa trong năm 4).
- Bùn loãng: Rừng Bần chua, rừng Mắm trắng, rừng Mắm biển (n: 4- 2,5).


nam bản đồ Cà Mau
Tây bán đảo Cà Mau

2. Thành phần loài và phân bố cây rừng ngập mặn ven biển phía Nam.
Ở nước ta có 78 loài cây ngập mặn thuộc 2 nhóm (Phan Nguyên Hồng, 1993, 1999):
- Nhóm cây ngập mặn “thực thụ”: có 37 loài thuộc 20 chi, 14 họ
- Nhóm cây ngập mặn “gia nhập”: có 42 loài thuộc 36 chi, 28 họ.
Trong số các loài cây ngập mặn thực thụ, thân gỗ có 5 họ có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái RNM ở
Việt Nam là:
+ Họ Đước (Rhijophoraceae) gồm 4 chi: Đước, Vẹt, Dà, Trang với 10 loài.
+ Họ Mắm (Avicemiaceae) chỉ có 1 chi Mắm với 4 loài trong số 8 loài có trên thế giới.
+ Họ Bần (Souneratiaceae) có 1 chi Bần với 3 loài trong số 6 loài có trên thế giới.
+ Họ Đơn nem (Myrsinaceae) có chi sú với 2 loài.
+ Họ Dừa (Palmeae) có 1 chi Dừa nước với 1 loài có duy nhất trên thế giới.
Đối với nhóm cây Mắm “tham gia” gần đây đã được bổ sung lên tới 70 loài thuộc 32 họ nhiều hơn so
với 42 loài thuộc 28 họ (Phan nguyên Hồng 1999, Đặng Trung Tấn, Viên Ngọc Nam, 2002) đã thống kê
trước đây, tuy nhiên tiêu chuẩn cây “tham gia” rừng ngập mặn cần được xem xét thêm.
Tổng quát về số lượng loài và phân bố một số loài chủ yếu theo các vùng ngập mặn ven biển phía nam
được ghi ở bảng 3.
Bảng 3: Phân bố loài cầy RNM ven biển Việt Nam
Vùng

Loài cây ngập mặn
Thực

Tham

Phân bố các loài chủ yếu


Vẹt khang, Vẹt tách, Dà quánh, Dà vôi, Mắm trắng, Mắm
quăn, Mắm biển, Mắm lưỡi đòng, bần trắng, Bần ổi, Bần
chua, Dừa nước

RNM ven biển miền Bắc đơn giản về thành phần loài cây. Cho đến nay, đã thống kê được 50 loài trong
28 họ thực vật từ ven biển Móng Cái đến Lạch Trường. Nếu so sánh với cấu trúc thực vật RNM Nam Bộ có
sự khác biệt cơ bản, đó là số lượng loài trong mỗi họ đều ít hơn và kích thước cây cũng nhỏ hơn.
3. Tiêu chuẩn phân chia rừng phòng hộ và rừng sản xuất ngập mặn ven biển.
Tiêu chuẩn phân chia ranh giới rừng phòng hộ và rừng sản xuất ngập mặn ven biển được thể hiện ở
bảng 4 sau đây.
Bảng 4: Tiêu chuẩn phân chia rừng phòng hộ và rừng sản xuất vùng ven biển
Vùng
a) Ven biển

1) Không có đê, đập
2) Có đê, đập
b/ Cửa sông

1) Không có đê, đập
2) Có đê, đập

Tình trạng

Tiêu chuẩn phân chia

Tình trạng bờ
biển

Khoảng cách tính từ bờ biển lúc triều cao trung
bình (m)

SX

- Không xói lở.

PHXY

SX

SX

Tình trạng bờ
sông

Khoảng cách tính từ bờ biển lúc triều cao trung
bình (m)
0+50

50200/
50X

200500/
XB

>B

- Xói lở

PHXY

PHXY


SX

SX

Ghi chú:
Dấu dương (+) được quy định là khoảng cách tính từ bờ biển vào phía đất liền;
Dấu âm (-) được quy định là khoảng cách tính từ bờ biển ra phía ngoài khơi.
X = Tốc độ xói lở/năm (m) x chu kỳ lở, bồi (40 năm), áp dụng cho vùng không có đê, đập chắn sóng.
X = Khoảng cách từ bờ đê/đập ra đến bờ biển, áp dụng cho vùng có đê, đập chắn sóng.
B = Ranh giới rừng phòng hộ (chiều rộng tính từ bờ biển vào đất liền) được xác định căn cứ vào diện tích
rừng phòng hộ tối thiểu cần thiết phải xây dựng.
- PHXY: Khu vực phòng hộ xung yếu và rất xung yếu. Rừng ngập mặn trong khu vực này có chức năng
chuyên phòng hộ.
- PH + SX: Khu vực phòng hộ kết hợp sản xuất (lâm ngư kết hợp), còn gọi là vùng đệm. Trong khu vực
này rừng ngập mặn phòng hộ chiếm 60%, 40% diện tích còn lại dành cho nuôi trồng thuỷ sản kết hợp.
- SX: Khu vực dành cho sản xuất.

338


4. Tiêu chuẩn phân chia lập địa cho vùng ngập mặn ven biển phía Nam
4.1. Kết quả phân chia lập địa đất ngập mặn ven biển phía nam.
Trên cơ sở kết quả khảo sát nghiên cứu và phân tích kế thừa các thành quả về đất rừng ngập mặn với
các thảm thực vật và diễn biến của chúng phân chia các cấp phân vị đối với đất vùng ven biển ngập mặn
theo hệ thống: Miền Vùng  Tiểu vùng và dạng lập địa theo các tiêu chí như sau:
a) Miền lập địa.
Đây là đơn vị lập địa lớn nhất được phân chia, dựa vào đặc điểm khí hậu, chế độ nhiệt trong năm
Miền Nam Việt Nam (Từ Đèo Hải Vân trở vào bán đảo Cà Mau) thuộc khu vực lập địa khí hậu nhiệt đới
điển hình không có mùa đông lạnh.

7- 9

1152- 2290

2. Đông Nam bộ

0

0

12

1357- 1684

Mắm trắng, Đước đôi

3. Đồng bằng Nam bộ

0

0

12

1473- 2366

Đước đôi, Dừa nước

Đưng, Đước, Mắm quăn,
Gía


- Độ thành thục của đất (kiểm tra bằng thực vật chỉ thị)
- Loại đất (chính và phụ)
Tuỳ theo từng nơi mà xác định các yếu tố sau:
+ Thành phần cơ giới của đất tầng mặt (0-20cm) và mức độ xen tầng cát ở các độ sâu khác nhau (2050cm; >50cm)
+ Tầng sinh phèn ở nông (0- 50cm) và tầng sinh phèn ở sâu (>50cm)
+ Hàm lượng chất hữu cơ (thấp, trung bình, cao, rất cao….) có trong đất chủ yếu ở tầng đất mặt (030cm)
4.2. Phân chia dạng lập địa ứng dụng cho vùng ngập mặn ven biển Đồng bằng sông Cửu Long
Các yếu tố phân chia dạng lập địa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện ở bảng 6 sau:
Bảng 6: Các yếu tố dạng lập địa
Tổng hợp 3 yếu tố lập địa theo độ thành thục của đất
Thời gian ngập triều

Loại đất

a
(bùn loãng)

b
(bùn chặt)

c
(sét mềm)

d
(sét cứng)

I
Vùng ngập triều thường
xuyên

*

*

300 - 365 ngày

Mp

*

Mp II b

*

*

III

M

*

M III b

M III c

M III d

100 - 300 ngày


Mp IV c

Mp IV d

Vùng ngập triều trung
bình

Ghi chú: (*) thực tế không hình thành các dạng lập địa này.
Như vậy, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 14 dạng lập địa chia ra: Đất ngập mặn có 8 dạng lập
địa, đất ngập mặn phèn tiềm tàng có 6 dạng lập địa
4.3. Hướng dẫn sử dụng
1. Trên cơ sở các tư liệu về thời gian ngập triều, độ ngập triều, loại đất, kết hợp điều tra độ thành thục
của đất để khoanh vẽ các dạng lập địa trên thực địa và trên bản đồ có sự sử dụng hệ thống GIS.
2. Phân chia nhóm dạng lập địa.
Nhằm đơn giản hoá để dễ sử dụng có thể ghép một số dạng lập địa có điều kiện gần giống nhau về độ
ngập triều, độ thành thục của đất và phương hướng sử dụng đối với cây trồng thành những nhóm dạng lập
địa như sau:

Bảng 7: Các nhóm dạng lập địa
Nhóm dạng lập địa

Các dạng lập địa chủ yếu

A

M Ia, MIIa

B

M IIb, MpIIb, M IIIb, MpIIIb

1. Tóm tắt các đặc điểm tự nhiên trong các khu vực đất phèn sử dụng trong sản xuất lâm nghiệp
ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
1.1. Đặc điểm khí hậu.
- Nhìn chung các khu vực đất phèn sử dụng trong sản xuất lâm nghiệp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
đều mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình (Cận xích đạo) trong năm không có mùa đông lạnh.
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 26- 270C
- Tổng tích nhiệt cả năm 9.0000 - 10.0000 C
- Nhiệt độ trung bình cao tháng trong năm đều lớn hơn 250C
- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 380C (tháng 4- 1991)
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 150C (* tháng 1- 1963)
- Lượng mưa hàng năm biến động từ 1500- 2400mm/năm
- Tổng số ngày mưa trong năm 160- 165 ngày/năm
- Trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 chiếm
90% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 4 năm sau chiếm 10%
tổng lượng mưa cả năm.
- Tháng có lượng mưa thấp nhất cả năm là tháng 2 (có lượng mưa 1,8mm/ tháng đến 8,3mm/ tháng);
Hai tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 và tháng 10 (có lượng mưa từ 214 - 347mm/ tháng)
- Độ ẩm không khí 81% - 85% thuộc dạng ẩm đến ẩm ướt trong năm có 2 tháng, tháng 3 và tháng 4
(mùa khô) là các tháng có độ ẩm khí thấp nhất trong năm 75- 77%.
1.2. Đặc điểm địa mạo:
- Địa hình nơi cao: có độ cao trên mặt nước biển 2m
- Địa hình nơi thấp, trũng có độ cao trên mặt nước biển 0,46m (Lê phát Quối, 1999)
1.3. Chế độ ngập nước.
- Ngập nước nông < 50cm không bị ảnh hưởng cuả hệ thống sông Cửu Long hoặc có ảnh hưởng
Lâm Bình Lợi, Nguyễn Văn Thôn Viện ĐTQH Rừng
Viện ĐTQH Rừng
Phân Viện ĐTQHR Nam Bộ
Phân Viện ĐTQHR Nam Bộ

Trong những năm qua, nhiều khu rừng Tràm tự nhiên trên đất phèn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đã bị
người dân địa phương chặt đốt để lấy đất trồng lúa nước giải quyết nhu càu về lương thực nên diện tích
rừng Tràm mỗi ngày một thu hẹp dần hiện nay rừng tromg tự nhiên chỉ còn lại ở khu rừng đặc dụng khu bảo
tồn thiên nhiên và khu di tích lịch sử.
3. Phương pháp phân chia các dạng lập địa để trồng rừng Tràm
Các yếu tố phân chia các dạng lập địa trên đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long để trồng rừng Tràm.
3.1. Loại đất (mức độ phèn)
Chia 3 loại: đất phèn tiềm tàng (I), đất phèn hoạt động ít và trung bình (II) (tầng màu vàng rơm - garosite
ở sâu >50cm), đất phèn hoạt động mạnh (III) (tầng màu vàng rơm gazosite ở độ sâu 150cm (C)
3.3. Khả năng rửa phèn: Thuận lợi: (1); Có khó khăn: (2); Rất khó khăn: (3)

Bảng 9: Tổng hợp các yếu tố lập địa
Mức độ ngập
Khả năng rửa phèn
Loại đất

Ngập nước nông
(A)

Ngập nước sâu trung
bình (B)

Ngập nước sâu


IB2

IB3

IC1

IC2

IC3

II
Đất phèn hoạt động ít

IIA1

IIA2

IIA3

IIB1

IIB2

IIB3

IIC1

IIC2




Loại đất I (đất phèn tiềm tàng) có diện tích 24.027ha

- Trên loại đất này hiện nay là nơi phân bố chủ yếu của rừng Tràm tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu
Long (vùng rừng Tràm U Minh), nên phần lớn diện tích đã được quy hoạch là nơi bảo tồn thiên nhiên, các
khu rừng đặc dụng và các khu di tích lịch sử.
- Trong quá trình quản lý khu vực này, cần cố gắng hạn chế quá trình phèn hoá, đặc biệt ở các dạng lập
địa IA2, IAB, IB2, IB3, IC2, IC3.
- IB và IC đặc biệt là IC1 cần phát huy thế mạnh về nuôi cá nước ngọt kết hợp với rừng Tràm.


Loại đất II (đất phèn hoạt động ít và trung bình).

- Loại đất này chủ yếu là sử dụng trong sản xuất nông nghiệp canh tác lúa nước  70% tổng diện tích,
nằm trong các dạng lập địa: IIA1, IIA2, IIB1, IIC1, IIC2.
Còn 3 dạng lập địa IIA3 kinh doanh rừng Tràm theo hướng thâm canh + canh tác lúa nước ( 30% diện
tích ).
IIB3: Mô hình kinh doanh rừng Tràm tổng hợp - lâm - ngư - nông kết hợp.
IIC3: Mô hình kinh doanh tổng hợp ngư + lâm + nông kết hợp.
Cá + Tràm (phòng hộ) + lúa nước (thức ăn cho cá).


Loại đất III (đất phèn hoạt động mạnh).

- Loại đất này chủ yếu sử dụng trong sản xuất lâm nghiệp dạng lập địa IIIA1: trồng rừng Tràm thâm canh.
IIIB1: trồng rừng Tràm thâm canh + cá
IIIC1: Trồng rừng Tràm + cá (tiềm năng lớn về cá)
Các dạng lập địa IIIA2: Trồng rừng Tràm bán thâm canh
IIIB2: Trồng rừng Tràm + cá

c) Mô hình tôm - rừng tách riêng biệt:
Trên diện tích được GĐKR, người dân được sử dụng 30% để xây dựng đầm nuôi tôm, thường thì ao
nuôi tôm phía trước, rừng ở phía sau được ngăn cách bằng kinh và đê bao. Ở diện tích nuôi tôm không có
cây rừng vừa lấy giống tự nhiên vừa thả bổ sung mật độ 5con/m2.
Ưu điểm của mô hình này là người dân có điều kiện để chủ động điều chỉnh tác động của môi trường
cho ăn bổ sung và chăm sóc tôm năng suất có nơi đạt 300 - 400kg/ha. Rừng phía sau được bảo vệ, nhưng
có tồn tại là do đào bới với tỷ lệ kênh mương quá cao dễ gây biến động về mặt môi trường nhất là vấn đề
axit hoá đất.
d) Nuôi ốc Len (Carithides cingulata) trong rừng ngập mặn:
Được tiến hành từ năm 1995 ở Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó một số tỉnh Bến Tre, Bạc Liêu,
Cà Mau học tập áp dụng. Trên diện tích đất đã trồng rừng được các hộ gia đình đắp bờ hoặc rào lưới mành
xung quanh diện tích từ 5000 - 10.000m2 sau đó mua ốc len giống từ 5000-10.000đ/kg đổ vào nuôi từ 5-6
tháng là thu hoạch được giá bán 1kg ở thời điểm năm 2000 là 50-60 ngàn đồng. Thông thường thì 1kg ốc
giống ban đầu khi thu hoạch được 5kg thương phẩm. Mô hình này đầu tư ban đầu ít nhưng lợi nhuận khá
cao, rừng không bị ảnh hưởng nên môi trường sinh thái ở khu vực không bị biến đổi.
1.2. Nuôi tôm bán công nghiệp và công nghiệp:
Được xuất hiện năm 1986 hiện nay phát triển khá mạnh ở Bến Tre, Sóc trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà
Mau. Người ta xây dựng các đầm nuôi tôm kiểu Thái Lan vốn đầu tư rất lớn, diện tích nuôi đầm từ 0,5ha trở
2
lên có máy bơm sụt khí. Nếu nuôi tôm bán công nghiệp thì thả tôm sú giống mật độ 5-10con/m , nếu nuôi
công nghiệp thì thả mật độ 25 con/m2 và cho ăn theo quy trình công nghiệp. Mô hình này cho năng xuất cao
từ 1500-2500kg/ha/năm nhưng rủi ro cũng rất lớn. Sau một thời gian từ 4-5năm đầm nuôi tôm bị lão hoá môi
trường đất nước bị biến đổi đầm bị bỏ hoang.
Ngoài các mô hình đã nêu trên đây là phổ biến hiện nay ở một số địa phương có rừng ngập mặn người
dân còn đào ao nuôi cua, nuôi cá chẻm, cá bống mú để tăng thêm thu nhập cho gia đình khai thác hết tiềm
năng thế mạnh của nguồn tài nguyên nước mặn.
2. Các mô hình nông - lâm - ngư kết hợp trong rừng Tràm.
2.1. Mô hình lâm - nông - ngư kết hợp (Tiểu khu 048 -Lâm ngư trường U Minh I)
Quy mô hộ gia đình nhận khoán 7ha, rộng 70m theo bờ kênh và dài 1000m vuông góc bờ kênh. Sử dụng
2ha để sản xuất nông nghiệp và thổ cư (300m2) ao thả cá 500m2 còn lại 4,5ha trồng tràm. Bước đầu cho

tôm hoặc tôm rừng phân cách nhau trên một đơn vị diện tích. ở khu vực này nuôi tôm bán công nghiệp khó
thành công vì biên độ thuỷ triều thấp, nước biển có độ đục cao và nền đáy không ổn định.
* Đối với vùng ven biển phía Bắc:
- Vùng cao triều và vùng trong đê biển nên áp dụng mô hình nuôi tôm bán công nghiệp hoặc quảng canh
cải tiến vì đây là vùng nước lợ tương đối ổn định do chế độ nhật triều. Đối với các đầm có quy mô lớn từ
12ha trở lên cần được chia nhỏ khoảng 5 -7ha để nuôi theo hình thức bán thâm canh hoặc quảng canh cải
tiến cho có hiệu quả. Đồng thời vẫn còn duy trì các cây rừng ngập mặn trong đầm để ổn định nhiệt độ nước
của đầm trong mùa hè.
- Vùng ngoài đê biển, áp dụng mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp với tôm hoặc rừng tôm phân cách
nhau trên một đơn vị diện tích. Ở khu vực này các đầm có diện tích lớn hơn 10ha nên tổ chức theo nhóm hộ
để đảm bảo quy định về hạn điền, không nên ngăn ra các đầm nhỏ, ngăn đầm thực chất là làm giảm diện
tích rừng ngập mặn.Đồng thời các chủ đầu tư mới chưa có kinh nghiệp nuôi trồng thuỷ sản dễ bị thất bại.
- Sử dụng các bãi triều ngoài vùng rừng ngập mặn đã quây lưới môi trường hải sản hai mảnh vỏ. Sử
dụng các vịnh, hải đảo để nuôi cá, tôm trong lồng...
* Vùng đất phèn:
- Đối với vùng khai hoang trồng mới lên bố trí các lô từ 50ha - 70ha đào mương bao quanh để chống
cháy rừng, mỗi lô khoảng 10 hộ, mỗi hộ diện tích từ 5-7ha trong đó 1/3 diện tích trồng cây nông nghiệp, 2/3
diện tích trồng tràm và kết hợp nuôi cá về mùa lũ.
- Đối với vùng dân cư đang sinh sống thực hiện trồng cây trên các bờ kênh, chuyển những diện tích
phèn hoạt động mạnh sang trồng tràm sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
Các kết quả nghiên cứu của đề tài về rừng ngập mặn bao gồm:
- Đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề cơ sở liên quan đến việc phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ở
khu vực phía Nam. Đánh giá một cách tổng hợp thực trạng rừng ngập mặn hiện nay từ nghiên cứu đặc
điểm đất đai của từng vùng liên quan đến sự hình thành rừng ngập mặn, thành phần loài và phân bố cây
rừng ven biển. Trên cơ sở đất đai và tình hình rừng đã xây dựng tiêu chuẩn phân chia các loại rừng phòng
hộ và rừng sản xuất, phân chia lập địa làm cơ sở cho quy hoạch trồng rừng và các loại mô hình nông lâm
ngư kết hợp có hiệu quả và bền vững.
- Đề tài đã nghiên cứu đánh giá thực trạng nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ven biển phía nam có liên quan

Research Centre for Forest Ecology and Enviroment
Forest Science Institute of Vietnam
SUMMARY
The national research study on “Integrated techniques for regeneration and development of Melaleuca
and Mangrove forest in its distribution region in Vietnam” have been studied for 4 years from 2000 to 2003 by
Research Centre for Forest Ecology and Environment. Based on the results of the field investigation and
evaluationa a matrix classification for protective mangrove forest and plantation mangrove forest has been
developed.
A land classification for Melaleuca forest and integrated techniques for regeneration and development of
Melaleuca and Mangrove forest in Vietnam. This article introduce the studied result in the South coastal
region Vietnam
Keywords: Melaleuca forest, Mangrove forest

346




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status