Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và sự phát triển tư duy của con
người.Văn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo
dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Giáo dục học sinh có ý thức tự tu
dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới
tương lai, hướng đến tình cảm cao đẹp như: có lòng vị tha, lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải,
sự công bằng, yêu ghét. Môn Ngữ Văn cũng giúp các em năng lực sử dụng tiếng Việt như
một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực đến các bộ môn khác và ngược lại. Điều đó đề ra
yêu cầu tăng tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn
hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống. Chính các yếu tố trên nên tôi chọn đề tài
"Lồng ghép trò chơi trong giảng dạy môn Ngữ Văn.”
Nhưng dạy văn trong nhà trường phổ thông, đặc biệt đối tượng học sinh bổ túc đang là
một thử thách lớn đối với giáo viên hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, cho hiệu quả cao,
tạo hứng thú say mê cho học sinh quả là một vấn đề lớn. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới
học sinh không thích học môn văn:
+ Môn văn là môn khó học
+ Nghề nghiệp cho môn văn là không phong phú
+ Gíao viên dạy không hay, không cuốn hút
+ Chưa có những phương pháp thích hợp kích thích sự say mê học, sáng tạo, cảm thụ văn
học của học sinh
+ Đối tượng học là học viên bổ túc
Để nâng cao chất lượng dạy và học, đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng thành thạo
các phương tiện dạy học. Các phương tiện dạy học vừa là nguồn cung cấp kiến thức, vừa
là phương tiện minh họa cho bài học, đồng thời là phương tiện thực hiện thao tác quá
trình dạy học của giáo viên. Bên cạnh những việc sử dụng các loại sách như: sách tham
khảo, sách giáo khoa, sách giáo viên, dụng cụ trực quan, sử dụng công nghệ thông
- Phần nhiều phụ huynh còn xem nhẹ môn Văn, họ chỉ quan tâm đến các môn tự
nhiên.
- Đối tượng học viên GDTX khác với học sinh THPT. Họ chủ yếu là người không có
điều kiện theo học chương trình THPT chính qui, là những thanh niên và người lớn bỏ
học trước đây, là những người có khó khăn hơn về hoàn cảnh gia đình, về khả năng học
tập, về thời gian học trên lớp cũng như thời gian học ở nhà. Đặc biệt có những học viên
phải vừa học, vừa làm, vừa phải lao động kiếm sống. Vì vậy, điều kiện và khả năng học
tập còn bị hạn chế nhiều mặt.
3. Số liệu thống kê:
Kết quả khảo sát từ đầu năm: Thử nghiệm trong 3 lớp:
-
LỚP
SỐ HS
GIỎI
KHÁ
TB
YẾU
KÉM
11A 1
44
4
36
8
0
Số học sinh thích học môn Văn: 60%
Số học sinh hiểu bài:
50%
Số học sinh hứng thú với môn học: 80%
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông theo luật giáo dục năm
1998 là:
- Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo ở học sinh
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Các định hướng này có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó định hướng đầu tiên là định
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
không gượng ép và khô cứng. Từ đó, nó thúc đẩy hành động, áp dụng bài học vào thực
tiễn.
2. Đặc điểm:
Bộ môn Ngữ văn có đặc thù riêng, học sinh cảm nhận bài học bằng ngôn từ trong
văn bản. Trò chơi chỉ mang tính hỗ trợ cho quá trình tiếp nhận kiến thức ở học sinh. Tuy
nhiên trò chơi cũng cần thiết vì nó tạo nên hứng thú học tập, giúp học sinh tiếp thu tri
thức nhẹ nhàng thoải mái hơn.
3. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Giới thiệu hình thức lồng ghép trò chơi trong tổ chức lớp học ở các giờ học Ngữ
Văn THPT nhằm bổ sung và đổi mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống.
Qua phân tích ý nghĩa, mối quan hệ của việc học mà chơi, để giới thiệu một cách có hệ
thống về các hình thức lồng ghép trò chơi, minh hoạ một số trò chơi và những khả năng
lồng ghép trò chơi đối với cả ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn. Nhằm
hướng đến mục đích cuối cùng là cải tiến phương pháp dạy học, tạo thêm hứng thú cho
người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát
triển nhân cách
Ngày nay phương tiện dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc dạy và học, trò
chơi trở thành công cụ nhận thức. Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đưa trò chơi vào
trong các tiết dạy học Ngữ Văn .
a. Mô tả giải pháp:
Đối với đặc thù bộ môn Ngữ văn, việc phủ nhận những phương pháp dạy học truyền
thống, là điều thiếu thoả đáng. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa chúng ta có quyền
“khư khư” với những gì đã có. Một khi học sinh đã quá nhàm chán với kiểu học văn thầy
giảng, trò nghe, ghi chép thụ động, thỉnh thoảng rụt rè trình bày vài ý kiến theo gợi ý của
thầy… nảy sinh thực trạng học đối phó, thụ động, thậm chí chán học bộ môn thì trò chơi
trò chơi với hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lí, đúng mức và đúng lúc để không
xáo trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc; trò
chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các tiết học,
đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho
người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng cho vui (dí dỏm, tế nhị).
Thứ hai, giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ và kỹ nội dung giảng dạy và cách tổ chức
sinh hoạt trò chơi kèm theo các dụng cụ cần thiết và biết dự đoán trước mọi tình huống có
thể xảy ra để không bị bất ngờ và có khả năng tùy cơ ứng biến. Giáo viên cần tạo một ấn
tượng ban đầu tốt đẹp cho học sinh. Ấn tượng ban đầu tốt (hòa nhã, vui tính, thân thiện,
không đe dọa,...) sẽ giúp giáo viên dễ thành công trong các buổi dạy tiếp theo. Khi học
sinh có cảm tình với giáo viên, họ sẽ hợp tác tích cực với giáo viên - Bầu không khí sẽ trở
nên sôi động và tự nhiên
Thứ ba, phải biết làm chủ thời gian, kiểm soát được tiến trình hoạt động, nếu không trò
chơi sẽ phản tác dụng. học sinh không có cơ hội có ý tưởng mới rút ra từ trò chơi , thậm
chí có khi họ bị bối rối thêm. Nên dành khoảng thời gian vừa đủ để học sinh hồi tưởng lại
trò chơi đã qua và rút ra điều gì cần thiết liên quan với đề tài, mục tiêu giảng dạy. Nếu
dành thời gian nhiều quá để chơi, cuối cùng ta sẽ không rút ra được bài học gì vì đã quá
giờ!
Thư tư, trò chơi được chọn tốt, phù hợp với lứa tuổi, tâm trạng của học sinh, phù hợp
với nội dung giảng dạy sẽ gây nhận thức khó quên . Cùng một loại trò chơi, có thể sáng
tạo nhiều cách khác nhau. Quan trọng là giáo viên phải nắm rõ ý nghĩa và mục tiêu của
trò chơi để khai thác hết các khía cạnh của nó, như vậy hiệu quả sẽ rất lớn. Trong lớp sẽ
có học sinh chưa quen với loại hình sinh hoạt này, giáo viên cần giúp đỡ và từ từ đưa họ
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
* Đọc – văn: tuỳ thuộc dạng bài (bài khái quát, ôn tập; đọc - hiểu văn bản…), lượng
kiến thức, mục tiêu bài học, thời lượng để áp dụng hình thức trò chơi: trò chơi nhỏ dành
cho một hoạt động dạy học hay trò chơi lớn cho cả tiết học. Do đặc thù của phân môn với
mục đích cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương, đòi hỏi những cảm xúc tinh
tế, nên mức độ vận dụng trò chơi chỉ vừa phải.
* Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt là đối
với những tiết thực hành, luyện tập. Trò chơi cần gắn với các bài tập, hoặc các hình thức
6
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra. Vận dụng tốt giải pháp này, giờ học
Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học sinh sẽ cảm thấy thoải mái, hứng thú, kích thích
hoạt động tư duy của các em, quan trọng hơn là góp phần phát triển năng lực sử dụng
ngôn ngữ ở học sinh. Qua trò chơi, tư duy và khả năng ngôn ngữ của các em sẽ được bộc
lộ tự nhiên, giáo viên có thể phát hiện và uốn nắn kịp thời những mặt còn hạn chế.
* Làm văn: Chính là phần thực hành của Đọc văn và Tiếng Việt. Có thể vận dụng trò
chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hình thức này trong cả tiết, với phân
môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơi không thể thay thế được các phương pháp
cũng như hình thức tổ chức lớp học đặc thù như thực hành, luyện tập,…hoạt động theo
nhóm hay cá nhân tự luyện tập các kĩ năng…Do đó không nên gượng ép, để cố tình đưa
trò chơi vào tất cả các giờ học làm văn.
Ví dụ minh hoạ: Tiếng Việt- Bài: NGỮ CẢNH.
Hoạt động 4: Hướng dẫn luyện tập – Phương pháp dạy học: thực hành + hình thức lồng
ghép trò chơi.
viên có thể đặt bằng một cái tên khác của trò chơi như: "Đi tìm bí mật bức tranh" "Lật
mảnh ghép đoán hình nền", hoặc "Đi tìm người trong tranh"....vv. Tuỳ theo sức tưởng
tượng và áp dụng, giáo viên có thể đặt tên cho trò chơi sao cho vừa gần gũi, dễ hiểu, lại
gây được sự chú ý, kích thích tính tò mò của học sinh.
Trò chơi: "Lật ô chữ đoán hình nền" :
GV: hướng dẫn thể lệ: Thực hiện trong thời gian từ 3 đến 5 phút. Có 4 mảnh ghép, học
sinh lần lượt lật các mảnh ghép, sau đó sâu chuỗi các dữ kiện từ những mảnh ghép đoán
hình nền là ai. Các cá nhân nhanh tay nhanh mắt thực hiện nhanh nhất và hợp lí nhất, sẽ
thắng
HS: nghe phổ biến thể lệ trò chơi.
HS: Tham gia trò chơi theo hướng dẫn của giáo viên
GV: Quan sát học sinh chơi vừa đóng vai trò chỉ dẫn kịp thời, đối chiếu với đáp án
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
TRÒ CHƠI: LẬT Ô CHỮ
ĐOÁN HÌNH NỀN
1
QUỐC ÂM THI TẬP
3
CẢNH NGÀY HÈ
HS: nghe phổ biến thể lệ trò chơi.
HS: Tham gia trò chơi theo hướng dẫn của giáo viên, học sinh trả lời vào bảng cá nhân
cùng giơ cao để cả lớp cùng theo dõi
GV: Đọc từng câu hỏi, hiệu lệnh cho học sinh trả lời. Quan sát học sinh chơi vừa đóng
vai trò chỉ dẫn kịp thời, đối chiếu với đáp án. Còn lại từ 1 đến 5 học sinh trả lời đúng,
giáo viên có thể dừng để trao giải thưởng (Tuỳ theo số lượng giải thưởng mà giáo viên
đã chuẩn bị) Tuyên bố người thắng cuộc.
HS: Thực hiện yêu cầu của bên thắng.
GV: Còn lại những bạn trả lời sai gom nộp tất cả những bảng cá nhân đã có tên, trong đó
phải có một lời hứa rèn luyện về học tập hoặc hạnh kiểm và phải thực hiện được ngay
trong tuần học tiếp theo.
(Trích một số lời hức của học sinh: Em hứa sẽ cố gắng học bài nhiều hơn....;Em hứa sẽ
chép bài đầy đủ...; Em hứa không mất trật tự trong lớp...)
Ví dụ minh hoạ Khi dạy bài Tiếng việt "Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ" lớp
10
Áp dụng trò chơi "giải ô chũ" ở phần củng cố bài học
Chuẩn bị: - GV: làm sẵn các ô chữ trên giấy rôki hoặc chuẩn bị trong bài dạy công nghệ
thông tin
- Học sinh: Các phương án trả lời
GV: hướng dẫn thể lệ: Thực hiện trong thời gian từ 3 đến 5 phút. GV Đọc các câu hỏi
ứng với các ô chữ, học sinh nào trả lời đúng và nhanh nhất sẽ được thưởng, phần thưởng
có thể là bánh kẹo hoặc một điểm 10...
HS: nghe phổ biến thể lệ trò chơi. Nghe câu hỏi và trả lời
Trò chơi : "Gỉai ô chữ"
Gồm 6 ô chữ, gv dẫn dắt câu hỏi cho từng ô, đối chiếu đáp án
M
U
A
N
H
N
G
H
I
V
T
U
D
A
I
C
U
T
E
N
N
G
cho học sinh, lớp học sôi động hơn.)
Ví dụ minh hoạ Khi dạy bài Văn bản - Tiết làm văn -lớp 10:
- Phần cuối bài ta có thể sử dụng trò chơi giải ô chữ trong phần củng cố
- Trò chơi như sau: GV đọc câu hỏi gợi ý cho các ô chữ. Học sinh nhanh chóng trả lời
đúng sẽ được thưởng 10 điểm hoặc phần quà....
S
I
C
N
O
H
K
C
N
H
H
H
G
O
O
I
A
N
U
A
T
11
Sáng kiến kinh nghiệm
Trương Thị Hà
- Ô số 1: Gồm 6 chữ cái: CÔNG VỤ
- Ô số 2: Gồm 8 chữ cái: SINH HOẠT
- Ô số 3: Gồm 9 chữ cái: NGHỆ THUẬT
- Ô số 4: Gồm 6 chữ cái: BÁO CHÍ
- Ô số 5: Gồm 7 chữ cái: KHOA HỌC
- Ô số 6: Gồm 9 chữ cái: CHÍNH LUẬN
6 ô chữ trên là nội dung chủ yếu của bài học đó là tên các loại văn bản , là trọng tâm của
bài
- Còn lại ô chữ trung tâm (hàng dọc: là chữ : VĂN BẢN) là yếu tố để dẫn dắt cho các từ
hàng ngang, là tiêu đề bài học, là khái niệm chung
* Khả năng áp dụng:
- Giáo viên có thể áp dụng lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở THPT đối với cả
28
44
44
12
24
39
48
27
15
22
31
Kết quả khảo sát cho thấy, hình thức dạy học này đã khắc phục phần nào nhược điểm học
tập thụ động ở học sinh, giúp học sinh hứng thú, chủ động, giáo viên cũng có thể phát
huy tốt tính sáng tạo trong giảng dạy và đích cuối cùng không chỉ là kết quả học tập của
học sinh mà còn góp phần hình thành nhân cách, năng lực của các em sau này.
12
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trương Thị Hà
* ĐỀ TÀI CÓ KÈM THEO MỘT BÀI GIẢNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CÓ LỒNG GHÉP TRÒ CHƠI
(Trò chơi có ở đầu và cuối tiết học)
13