SKKN rèn luyện kĩ năng suy luận trong bồi dưỡng học sinh giỏi phần di truyền học bậc trung học phổ thông - Pdf 37

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
-----oOo----I. THÔNG TIN VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: HOÀNG THỊ THU HUYỀN
2. Ngày tháng năm sinh: 9-11-1982
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 443 - Hồ Thị Hương – TX Long Khánh – Đồng nai
5. Điện thoại: ĐTDĐ: 0937250735
6. Chức vụ: không.
7. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Khánh.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
- Năm nhận bằng: 2013
- Chuyên ngành đào tạo: phương pháp giảng dạy sinh học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
 Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy Sinh học THPT
 Số năm kinh nghiệm: 9 năm

1


Sáng kiến kinh nghiệm
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SUY LUẬN TRONG BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI PHẦN DI TRUYỀN HỌC BẬC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Phần 1: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những tiết bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG), với khoảng thời gian hạn hẹp
lại chưa có giáo trình chuẩn thì mục tiêu bồi dưỡng của giáo viên là: Củng cố, cung
cấp kiến thức mới, giảng các dạng bài tập...Giáo viên (GV) ít chú trọng đến việc rèn
luyện cho học sinh (HS) các kĩ năng học tập, cách thức tự lực chiếm lấy tri thức,
sáng tạo và không ngừng học hỏi. Do đó việc rèn luyện kĩ năng suy luận trong bồi

thiết kế và sử dụng các biện pháp để rèn luyện kĩ năng suy luận cho HSG nhằm góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học phần này, đồng thời nâng cao hiệu quả và
thành tích trong các kì thi.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung của chương trình bồi dưỡng HSG nói
chung, phần di truyền học nói riêng để xác định các nội dung kiến thức chính cần
rèn luyện kĩ năng suy luận.
- Nghiên cứu các tài liệu về kĩ năng suy luận: Các loại kĩ năng suy luận, vai trò của
chúng và các giải pháp để rèn luyện được kĩ năng suy luận.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các tình huống, câu hỏi và bài tập để thiết kế
và sử dụng chúng phù hợp trong rèn luyện kĩ năng suy luận.
2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành ở đội tuyển HSG trường THPT
Long Khánh nhằm:
- Khảo sát khả năng trả lời các câu hỏi liên quan đến kĩ năng suy luận ở HSG.
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp để rèn luyện kĩ năng suy luận cho HS.
IV. GIỚI HẠN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi mới chỉ sử dụng 2 biện pháp để rèn luyện kĩ
năng suy luận cho HSG phần di truyền học sinh học 12 THPT.
V. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Tháng 4 – 5/ 2012: nghiên cứu cơ sở lý luận.
- Tháng 6/ 2012: Điều tra tình hình nghiên cứu và sử dụng kỹ năng suy luận trong
dạy học Sinh học ở trường THPT.
- Tháng 7 – 8/ 2012: nghiên cứu các bài tập để ứng dụng cho rèn luyện kỹ năng suy
luận trong phần di truyền học.
- Tháng 9 – 12/ 2012: thực nghiệm sư phạm.
- Tháng 2 – 3/ 2013: viết sáng kiến kinh nghiệm.
3



Kết luận là tri thức mới (phán đoán mới) thu được từ các tiền đề và là hệ quả của
chúng.
4


Cách thức lôgic rút ra kết luận từ các tiền đề gọi là lập luận. Quan hệ suy diễn lôgic
giữa các tiền đề và kết luận được quy định bởi mối liên hệ giữa các tiền đề về mặt
nội dung. Nếu giữa các tiền đề không có liên hệ về mặt nội dung thì không thể lập
luận để rút ra kết luận.
*Suy luận đúng và suy luận hợp logic:
- Suy luận hợp logic là khái niệm chỉ một suy luận nào đó xét thuần tuý trên
phương diện hình thức, trong sự trừu tượng khỏi nội dung cụ thể của các phán đoán
tham gia vào suy luận mà kết cấu logic của từng phán đoán cũng như suy luận tuân
thủ chặt chẽ các qui tắc suy luận ứng với dạng suy luận cụ thể đó và không mâu
thuẩn với các qui luật cơ bản của tư duy hình thức. Hợp logic như vậy không liên
quan đến vấn đề nội dung của các tiền đề, kết luận có phù hợp với nội dung khách
quan hay không. Trường hợp suy luận hợp logic thì chưa thể bàn đến tính đúng đắn
của suy luận.
- Suy luận đúng là suy luận mà kết luận được rút ra và được đảm bảo giá trị chân
thực một cách tất yếu từ tiền đề chân thực thông qua lập luận đúng. Do đó muốn có
suy luận đúng (kết luận sẽ chân thực) khi có hai điều kiện sau:
1) các tiền đề là chân thực về nội dung
2) suy luận tuân theo quy tắc (đúng về hình thức).
2.2. Phân loại suy luận
*Suy luận diễn dịch: Là suy luận từ tri thức chung hơn về cả lớp đối tượng ta suy
ra tri thức riêng về từng đối tượng, đi từ cái phổ biến đến cái cá biệt, từ cái chung
đến cái riêng. Tức là căn cứ vào thuộc tính và quan hệ phổ biến của một loại sự vật
hiện tượng nào đó mà rút ra kết luận một sự vật hiện tượng cá biệt trong loại đó
cũng có thuộc tính và quan hệ như vậy. Trong dạy học Sinh học, suy luận diễn dịch
là quá trình đi từ các khái niệm, định luật đến các sự kiện, hiện tượng riêng lẽ hoặc

Như vậy: Phép quy nạp hoàn toàn luôn cho kết luận đúng, phép quy nạp không
hoàn toàn có thể dẫn đến kết luận đúng hoặc sai. Tuy nhiên phép quy nạp không
hoàn toàn đóng vai trò quan trọng, có thể nói, phần lớn các trong Sinh học chúng ta
đều dùng phương pháp quy nạp không hoàn toàn.
Muốn thực hiện vững chắc suy luận quy nạp, cần tuân theo hai điều kiện:
-

Kết luận của suy luận quy nạp là tin cậy, khi nó được khái quát hoá từ các
dấu hiệu bản chất.

-

Suy luận quy nạp chỉ được sử dụng khi các đối tượng là cùng loại, tương
tự.

Diễn dịch và quy nạp là một cặp phương pháp luôn được áp dụng trong một thể
thống nhất kế thừa và làm tiền đề của nhau, hổ trợ cho nhau. Nếu chỉ có quy nạp
con người đến một lúc nào đó không còn nhu cầu quy nạp nữa vì những kiến thức
chung khái quát có được trở nên xa lạ thậm chí hầu như không còn đóng vai trò gì
6


nữa. Hơn thế chúng khó mà kiểm soát đánh giá những tri thức đó nếu như không
đem nó vào ứng dụng trong thực tiễn. Nhờ có diễn dịch, con người biết đem những
tri thức chung suy diễn và nhận thức cái đơn lẽ và do đó có thể áp dụng tri thức vào
nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của mình. Cứ như thế quy nạp cung cấp
nguyên liệu cho diễn dịch, diễn dịch lại đặt ra nhu cầu mới cho quy nạp. Sau mỗi
bước quy nạp con người lại đi gần thêm vào bản chất chung của sự vật, hiện tượng,
hiểu biết càng nhiều về bản chất chung của thế giới.
*Suy luận loại suy: Là suy luận mà trong đó tri thức ở kết luận có cùng cấp độ với

tương tự không phải lúc nào cũng đúng nhưng nếu GV biết khéo léo vận dụng thì
đó là một công cụ đắc lực trong việc dạy Sinh học.
II. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1. Thực trạng công tác bồi dưỡng đội tuyển HSG ở một số trường THPT
- Qua trao đổi với giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi trong các đội
tuyển của một số trường trong tỉnh Đồng Nai, chúng tôi thấy rằng:
- 100% giáo viên đánh giá cao vai trò của các kĩ năng học tập bao gồm các kĩ
năng như: Kĩ năng tự học, kĩ năng suy luận, kĩ năng phân tích, so sánh…và sự cần
thiết phải hình thành kĩ năng học tập cho HSG.
- Đa số giáo viên cho rằng trong số các kĩ năng học tập thì kĩ năng suy luận
là một trong những kĩ năng hết sức quan trọng đối với học sinh giỏi. Đồng thời các
giáo viên cũng thấy được vị trí quan trọng của kĩ năng này trong các đề thi học sinh
giỏi. Và các giáo viên đã đề xuất sử dụng nhiều biện pháp để nâng cao kĩ năng này
như sử dụng các câu hỏi, bài tập, sử dụng các tình huống có vấn đề .
- 100% giáo viên thấy rằng để đánh giá kĩ năng suy luận thì cần căn cứ vào
khả năng lập luận chặt chẽ của các em. Nhưng muốn có khả năng này thì kĩ năng
suy luận của các em phải rất tốt trong khi theo đánh giá của các thầy cô thì chỉ có
10% khẳng định kĩ năng suy luận của học sinh trong đội tuyển của mình là rất tốt.
Qua đó chúng tôi nhận thấy GV đánh giá rất cao tầm quan trọng của kĩ năng suy
luận nhưng chưa có điều kiện để rèn luyện cho HS. Việc bồi dưỡng HSG vẫn mang
nặng về truyền đạt nội dung, chưa chú ý rèn các kĩ năng đặc biệt là kĩ năng suy
luận.
2. Thực trạng học tập của HS trong đội tuyển ở một số trường THPT
Chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 33 học sinh tham gia đội tuyển HSG
năm học 2012 – 2013 của 3 trường THPT tỉnh Đồng Nai: THPT Long Khánh, Xuân
Mỹ, Xuân Lộc thông qua 2 hình thức:
+ Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh giỏi.
+ Trao đổi trực tiếp với một số học sinh trong đội tuyển.

8

đội tuyển HSG

Có cơ hội để tham gia các kì thi

28

84

Có tác dụng tốt với nghề nghiệp sau này

27

81

Những khó khăn Thời gian không phù hợp

21

63

mà bạn gặp phải Lượng kiến thức nhiều

25

75

khi học đội tuyển?

25


sinh giỏi môn Sinh Kĩ năng khái quát hóa

32

96

học cần có những Kĩ năng so sánh

30

90

kĩ năng nào?

Kĩ năng tự học

32

96

7

Trong các kĩ năng Rất quan trọng

24

73

9


sử

dụng Bạn tự rèn luyện ở nhà

phương pháp nào?

11

34

Bạn thảo luận và trao đổi ý kiến với bạn 17

52


9

Bạn đánh giá như Rất tốt

0

0

thế nào về kĩ năng Tốt

8

24.5

suy luận của mình

câu khác
11

Bạn cảm nhận như Giờ học hứng thú và bổ ích

9

thế nào về các giờ Thu lượm được rất nhiều kiến thức khó 22
học bồi dưỡng

27
66

hay
Rèn luyện được nhiều kĩ năng học tập

15

45

Giờ học bình thường

8

24

Giờ học nhàm chán

0


BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN DI TRUYỀN HỌC
I. Nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi phần Di truyền học
Nội dung 1: Vật chất di truyền
Vật chất di truyền cấp phân tử
Cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ phân tử gồm các nội dung ở các phần sau:
- ADN, ARN, protein thuộc chương I “Thành phần hoá học của tế bào”, chương
trình sinh học lớp 10 đã trình bày về:
+ Cấu trúc và chức năng của ADN.
+ Cấu trúc và chức năng của ARN.
+ Cấu trúc và chức năng của protein.
- Gen và mã di truyền thuộc chương I “Cơ chế di truyền và biến dị”, chương trình
sinh học lớp 12 trình bày về:
+ Khái niệm, cấu trúc, phân loại gen theo chức năng, sự khác nhau về cấu trúc
của gen ở sinh vật nhân sơ với sinh vật nhân thực.
+ Giải thích vì sao mã di truyền là mã bộ ba, trình bày những đặc điểm của mã
di truyền.
Qua phân tích nội dung chúng tôi nhận thấy, nội dung ở SGK mới chỉ trình bày
những nét cơ bản, thể hiện chúng như là một thành phần hoá học của tế bào, do đó
khi bồi dưỡng GV phải nâng cao và trình bày thêm các vấn đề sau:
+ Phân tích được sự phù hợp giữa cấu trúc và chức năng của phân tử ADN.
+ Trình bày được tính bảo thủ (ổn định tương đối), khả năng bị biến đổi, tính
đa dạng và đặc thù của ADN.
+ Giải thích được tại sao ADN được xem là vật chất di truyền ở cấp độ
phân tử.
+ Giải thích tính đa dạng - tính đặc trưng của protein, giải thích tại sao
protein được xem là cơ sở vật chất của sự sống.
+ Phân tích bản chất mối quan hệ giữa ADN -> mARN ->Protein.
Vật chất di truyền cấp tế bào

11

động gen ở sinh vật nhân sơ, một số đặc điểm điều hoà hoạt động gen ở sinh vật
nhân thực.
Nội dung phần này đã trình bày khá đầy đủ cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử ở
sinh vật nhân sơ, tuy nhiên cần làm rõ được những vấn đề sau:
12


+ Giải thích các nguyên tắc tái bản.
+ Phân tích được ý nghĩa của các cơ chế.
+ Phân biệt sự khác nhau cơ bản của các cơ chế giữa sinh vật nhân sơ với sinh
vật nhân thực.
+ Giải thích được cơ chế phân tử của sự di truyền các tính trạng qua các thế hệ.
Cơ chế di truyền cấp tế bào
Phần Cơ chế di truyền cấp tế bào gồm các nội dung trong chương V thuộc
chương trình sinh học lớp 10 phổ thông cụ thể như sau:
+ Chu kỳ tế bào và các hình thức phân bào: Khái niệm chu kỳ tế bào, những
diễn biến cơ bản trong các pha của kỳ trung gian, phân loại các hình thức phân bào.
+ Nguyên phân: sự phân chia nhân, sự phân chia tế bào chất, ý nghĩa của
nguyên phân.
+ Giảm phân: những diễn biến cơ bản của giảm phân, ý nghĩa của giảm phân.
Như vậy, ở lớp 10 nguyên phân và giảm phân mới chỉ dừng lại là sự sinh sản
của tế bào. Nhưng đây chính là cơ chế di truyền ở cấp độ tế bào vì vậy cần phải chú
ý khai thác thêm những vấn đề sau:
+ Trình bày về sự vận động của NST trong quá trình nguyên phân, quá trình
giảm phân và thụ tinh.
+ Cơ chế đảm bảo bộ NST ổn định bộ trong nguyên phân.
+ Cơ chế đảm bảo bộ NST giảm đi một nữa trong giảm phân.
-> Phân biệt nguyên phân và giảm phân về dấu hiệu bản chất.
+ Vai trò của các cơ chế di truyền: duy trì ổn định bộ NST qua các thế hệ tế
bào và thế hệ cơ thể ở loài sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính, tạo ra các biến dị

của kĩ năng suy luận

GV làm mẩu, HS quan sát

Tổ chức các hoạt động để học sinh thực
hiện kĩ năng suy luận

HS thảo luận, thực hiện kĩ năng suy luận

GV kết luận, chính xác hoá kiến thức,
đánh giá kĩ năng đã rèn luyện. HS tự lực
làm lại và hoàn thiện kĩ năng
Sơ đồ 1. Qui trình rèn luyện kĩ năng suy luận
14


 Bước 1: Suy luận cũng là một hình thức của tư duy. Khi suy luận thì có
thể đi theo con đường diễn dịch hay qui nạp nhưng đều phải qua 3 bước:
Tiền đề - lập luận – kết luận. Chú ý giữa tiền đề, lập luận và kết luận phải có
mối liên hệ chặt chẽ về mặt nội dung. Suy luận có ý nghĩa quan trọng bởi vì
từ kiến thức đã biết ta có thể thu được kiến thức mới, kiến thức mới lại trở
thành kiến thức đã biết…
 Bước 2: GV chọn một ví dụ điển hình và làm mẫu kĩ năng.
Tiền đề đã cho sẵn ( thường là các dữ kiện của câu hỏi, bài tập) hoặc tiền đề
ẩn nhưng đây là phần kiến thức học sinh đã được học, sau đó lập luận để rút
ra kết luận mới. Trong trường hợp này từ tiền đề dùng lập luận để rút ra kết
luận mới nên thường dùng các từ “suy ra”, “có nghĩa là”, “vì vậy”, “vậy là”,
“từ đó suy ra”... Có trường hợp từ kết luận (đề đã cho sẳn kết luận) đi ngược
lại tìm xem tiền đề cần thiết ở đây là gì nên thường dùng các từ “bởi vì”,
“vì”, “vì rằng”...

khác. Sau đó HS tự lực làm lại và hoàn thiện kĩ năng suy luận.
III. Vận dụng qui trình để rèn luyện kĩ năng suy luận cho HS
Tổ chức cho HS rèn luyện kĩ năng suy luận diễn dịch (hoặc suy luận quy nạp)
thông qua giải các bài tập tình huống, các câu hỏi – bài tập.
Bước 1: Suy luận diễn dịch là đi từ cái chung đến cái riêng, do đó khi gặp những
dạng câu hỏi liên quan đến loại suy luận này thì HS phải biết vận dụng những kiến
thức đã được học vào các trường hợp cụ thể. Trong suy luận thì điều đầu tiên phải
tìm ra tiền đề - đây là những kiến thức mà HS đã biết, tiền đề có thể có sẳn trong
câu hỏi cũng có thể ẩn. Sau đó lập luận và rút ra kết luận đúng.
Bước 2: GV làm mẫu thông qua giải bài tập tình huống sau
Tình huống : Có ý kiến cho rằng với bộ ba UGG trên mARN mã hoá a.a
tryptophan thì bộ ba đối mã trên tARN là 5’AXX 3’.
Theo em ý kiến đó là đúng hay sai? Giải thích?
Với kiến thức đã biết (tiền đề): Trong quá trình dịch mã: Các bộ ba mã sao trên
mARN được khớp với các bộ ba đối mã trên tARN theo nguyên tắc bổ sung, đồng
thời trên mARN bộ ba được đọc theo chiều 5’→ 3’, nên bộ ba đối mã trên tARN
được đọc theo chiều ngược lại 3’→ 5’.
16


Ta suy ra: Với bộ ba UGG (tức là 5’ UGG 3’) trên mARN thì bộ ba đối mã trên
tARN là 3’AXX 5’ hoặc 5’XXA 3’.
Kết luận: Đáp số đưa ra chỉ đúng một phần (đảm bảo được nguyên tắc bổ sung
trong dịch mã mà không đúng về chiều). Do đó ý kiến đó là sai.
Với cách giải như trên thì HS có thể vận dụng khi gặp các trường hợp tương tự dù
câu hỏi có thay đổi như thế nào đi nữa (Ví dụ như: từ bộ ba đối mã trên mARN tìm
bộ ba mã sao trên mARN hoặc từ bộ ba mã gốc trên ADN tìm bộ ba mã sao trên
mARN hoặc ngược lại, hoặc từ bộ ba đối mã trên tARN tìm bộ ba mã gốc trên
ADN… )
Bước 3: Để rèn luyện kĩ năng, chúng tôi cho HS làm bài tập tình huống sau đây

Tình huống 1:
ARN của virus gây bệnh kháng thuốc chỉ có 2 loại nuclêôtít là U và X trong
đó có 70% Urazin và 30% Xitozin. Tính tỉ lệ bộ mã UUU, XXX trên phân tử ARN
này?
Có 2 đáp án của bạn học sinh
- Học sinh A: UUU: 343/1000 , XXX=27/1000 và có thể tạo ra 8 loại mã
sao.
- Học sinh B: UUU: 27/1000 , XXX=343/1000 và có thể tạo ra 9 loại mã sao.
Theo em đáp án của bạn nào đúng?
* Đáp án :
- Tỉ lệ U trong các bộ mã sao là: 7/10
- Tỉ lệ X trong các bộ mã sao là: 3/10
-> UUU tỉ lệ (7/10)3 = 343/1000
XXX tỉ lệ (3/10)3 = 27/1000
Vì chỉ có 2 loại nu nên các bộ ba mã sao có thể hình thành (U+X)3 = 23 = 8
Vậy đáp án của học sinh A là đúng.
Tình huống 2 :
Gen B đột biến thành gen b. Khi gen B và gen b cùng tự nhân đôi liên tiếp 3
lần thì số nucleotit tự do mà môi trường nội bào cung cấp cho gen b ít hơn so với
gen B là 28 nucleotit. Dạng đột biến xảy ra với gen B là dạng nào?
Có hai bạn đưa ra hai đáp án:
Bạn A: Gen B bị đột biến mất 2 cặp nucleotit.
Bạn B: Gen B bị đột biến mất 1 cặp nucleotit.
Em hãy giải thích bài toán này và nhận xét đáp án của hai bạn là đúng hay
sai?
18


*Đáp án: NB(23-1) – Nb(23-1) = 28
 NB*7 – Nb*7 = 28 -> NB – Nb = 4.

19


Cơ chế gây bệnh: do tác nhân gây đột biến làm cho quá trình giảm phân ở bố
hoặc mẹ bị rối loạn, cặp NST giới tính nhân đôi nhưng không phân li tạo giao tử
không mang NST giới tính. Khi giao tử này kết hợp với giao tử bình thường tạo tổ
hợp OX.
Tình huống 5:
Quan sát quá trình giảm phân tạo tinh trùng của 1000 tế bào có kiểu gen AB/ab
người ta thấy ở 100 tế bào có sự tiếp hợp và trao đổi chéo giữa 2 cromatit khác
nguồn gốc dẫn tới hoán vị gen. Hãy xác định tần số hoán vị gen:
Học sinh 1: 10%
Học sinh 2: 5%
Học sinh 3: 20%
Theo em, kết quả của bạn nào đúng? Từ đó hãy thiết lập công thức tổng quát áp
dụng cho trường hợp này?
* Đáp án: 200 x 100% = 5%
4000
Công thức tổng quát
f = số tế bào sinh dục đi vào giảm phân có xảy ra trao đổi chéo x 100%.
2 x tổng số tế bào sinh dục đi vào giảm phân
2. Sử dụng câu hỏi - bài tập
2.1. Sử dụng các bài tập liên quan đến lí thuyết xác suất
2.1.1. Giá trị:
- Các bài toán về xác suất chủ yếu là được sử dụng để rèn luyện kĩ năng suy luận
quy nạp cho HS.
- Các bài toán đã được GV sắp xếp theo một trật tự nhất định: Từ di truyền cá thể
đến di truyền quần thể, trong di truyền cá thể gồm gen qui định tính trạng nằm trên
NST thường, gen qui định tính trạng nằm trên NST giới tính, trong mỗi dạng lại
được sắp xếp từ dễ đến khó. Khi làm các dạng bài này HS có thể tự rút ra quy tắc


4/9 AaBb

x

4/9 AaBb

F3:

aabb = ( 4/9 . 1/4 )( 4/9 . 1/4 ) = 1/81

Bài 2: Ở một loài thực vật, màu sắc hoa là do sự tác động của hai cặp gen (A, a và
B, b) phân li độc lập. Gen A và gen B tác động đến sự hình thành màu sắc hoa theo
sơ đồ:
Gen A

gen B

enzimA

enzim B

Chất không màu 1

chất không màu 2

sắc tố đỏ

Các alen a và b không có chức năng trên. Lai hai cây hoa trắng thuần chủng thu
được F1 gồm toàn cây có hoa đỏ. Cho F1 tự thụ phấn, tỉ lệ cây hoa trắng thuần

định và di truyền theo qui luật Menđen. Một người đàn ông có cô em gái bị bệnh
lấy một người vợ có người anh trai bị bệnh. Cặp vợ chồng này lo sợ con mình sinh
ra sẽ mắc bệnh. Hãy tính xác suất để cặp vợ chồng này sinh đứa con đầu lòng bị
bệnh? Biết rằng: ngoài người em chồng và người anh vợ bị bệnh ra, cả 2 bên vợ và
bên chồng không còn ai khác bị bệnh.
Đáp án:
Để sinh con bệnh thì vợ chồng đều phải có kiểu gen Aa chiếm tỉ lệ 2/3
XS con mắc bệnh : 2/3.2/3.1/4 = 1/9
XS con mắc bệnh bạch tạng (bb) = 2/3.2/3.1/4= 1/9
Vậy XS sinh con trai mắc cả 2 bệnh = 1/4.1/9 = 1/36
Bài 5: Bệnh mù màu đỏ và lục ở người do gen đột biến lặn nằm trên nhiễm sắc thể
X không có alen tương ứng trên Y. Bệnh bạch tạng lại do một gen lặn khác nằm
trên nhiễm sắc thể thường qui định. Một cặp vợ chồng đều không mắc cả 2 bệnh
trên , người chồng có bố và mẹ đều bình thường nhưng có cô em gái bị bạch tạng.
Người vợ có bố bị mù màu và mẹ bình thường nhưng em trai thì bị bệnh bạch tạng.
Xác suất để cặp vợ chồng này sinh con trai mắc đồng thời cả 2 bệnh trên :
22


A. 1/12

B. 1/36

C. 1/24

D. 1/8

* Đáp án: Từ gỉa thuyết → kg của chồng XAY B-(1BB/2Bb)
kg của vợ XAXa B-(1BB/2Bb)
XS con trai mắc bệnh mù màu (XaY) = 1/4

a) 1 đứa con da bạch tạng.
b) Con thứ nhất và con thứ hai đều da bạch tạng.
c) Sinh một con da bình thường.
d) Sinh con thứ nhất và con thứ hai cùng da bình thường.
* Đáp án:
a) Xác xuất sinh một con da bạch tạng là 1/4.
b) Xác xuất sinh con thứ nhất và con thứ hai cùng da bạch tạng là:
1/4 x1/4 =1/16
c)Xác xuất sinh một con da bình thường là : 3/4
d) Xác xuất sinh con thứ nhất và con thứ hai cùng da bình thường là:
3/4 x3/4 =9/16.
Bài 4: Ở mèo gen D nằm trên phần không tương đồng của nhiễm sắc thể X quy
định màu lông đen, gen lặn a quy định màu lông vàng hung, khi trong kiểu gen có
cả D và d sẽ biểu hiện màu lông tam thể. Trong một quần thể mèo có 10% mèo đực
lông đen và 40% mèo đực lông vàng hung, số còn lại là mèo cái. Tỉ lệ mèo có màu
tam thể theo định luật Hácdi-Van béc là bao nhiêu?
*Đáp án: từ gỉa thuyết→ Xd = 0,8 , XD = 0,2
CTDT: 0,04XDXD + 0,32XDXd + 0,64XdXd + 0,2XDY +0,8XdY
Tỉ lệ mèo tam thể là 32%
2.1.4. Phả hệ
Bài 1: Cho biết tính trạng nghiên cứu do một gen quy định, không xảy ra đột
biến. Nghiên cứu một bệnh di truyền ở người, người ta lập được phả hệ:

I.

II.

1

3

Con trai bệnh : aaXY = ½ . ½ . ½ = 1/8 = 12,5 %
Bài 2: Cho sơ đồ phả hệ sau:

I

II

III

Nữ bình thường

Nữ bị bệnh P

Nam bị bệnh Q

Nam bị bệnh P

Nam bình thường

Bệnh P được quy định bởi gen trội nằm trên nhiễm sắc thể thường; bệnh Q được
quy định bởi gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X, không có alen tương ứng
trên Y. Biết rằng không có đột biến mới xảy ra.
a. Xác suất để cặp vợ chồng ở thế hệ thứ III trong sơ đồ phả hệ trên sinh
con đầu lòng mắc cả hai bệnh P, Q là bao nhiêu?
b. Xác suất để cặp vợ chồng ở thế hệ thứ III trong sơ đồ phả hệ trên sinh
con đầu lòng là con trai và mắc cả hai bệnh P, Q là bao nhiêu?
* Đáp án:
a. Phân tích phả hệ ở bên chồng và bên vợ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status