Công tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM GDTX NHƠN TRẠCH
Mã số : …………………
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VĂN HÓA
Ở TRUNG TÂM GDTX
Người thực hiện : Nguyễn Văn Chính
Lĩnh vực nghiên cứu :
Quản lý giáo dục : ……………………….
Phương pháp dạy học bộ môn : ……………
Phương pháp giáo dục : ……………………
Lĩnh vực khác : ……………….....................
Có đính kèm :
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
NĂM HỌC 2012 – 2013
GV: Nguyễn Văn Chính
1
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong những năm gần đây :
+ Phương pháp giảng dạy ôn – giảng – luyện môn lịch sử
+ Thực hiện bài : Ôn tập – sơ kết – tổng kết trong môn lịch sử.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn lịch sử
GV: Nguyễn Văn Chính
2
Công tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
ĐỀ TÀI : CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP HỌC VĂN HÓA
Ở TRUNG TÂM GDTX
I. Lý do chọn đề tài :
Cho đến nay, việc tổ chức dạy văn hóa ở Trung tâm GDTX (Giáo dục thường
xuyên) chỉ dựa vào hai văn bản của Bộ giáo dục và đào tạo giành riêng cho Trung
tâm GDTX đó là : Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ban hành quy chế tổ chức và
hoạt động của Trung tâm GDTX ngày 02/01/2007 và Quyết định số 02 /2007/QĐBGD ĐT ban hành quy chế đánh giá , xếp loại học viên theo học chương trình
GDTX cấp THCS (Trung học cơ sở) và cấp THPT (Trung học phổ thông) ngày
23/01/2007.
Ngoài ra còn có Quyết định số 07/2002/QĐ-BGDĐT Quy định về tổ chức hình
thức tự học có hướng dẫn đối với bổ túc trung học ngày 19/03/2002. Hình thức này
trong thời gian qua Trung tâm GDTX Nhơn Trạch không tổ chức.
Tất cả các văn bản pháp quy giành cho Trung tâm GDTX hiện hành đều không
đề cập đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của GVCN (Giáo viên chủ nhiệm).
Trung tâm GDTX Nhơn Trạch thành lập cuối năm 1996 và đi vào hoạt động
vào tháng 03/1997. Quyết định 01 và 02 của Bộ giáo dục đào tạo thì 10 năm sau
(2007) mới có. Vì vậy mọi việc của Trung tâm GDTX phải vận dụng các văn bản
của ngành học phổ thông, trong đó có công tác chủ nhiệm lớp.
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của GVCN ở Trung tâm GDTX. Vì vậy
khi thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở Trung tâm GDTX mỗi GV (Giáo viên) làm
một cách, thiếu tính nhất quán giữa GV này với GV khác, giữa GV với Giám đốc.
2. Học viên: Không đồng nhất về độ tuổi vì vậy dù có cùng một lớp học nhưng
trình độ học lực có nhiều chênh lệch giữa HV này với HV khác. Đối với địa bàn
huyện Nhơn Trạch là nơi đang trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã thu
hút nhiều người từ nhiều địa phương khác đến làm ăn, lập nghiệp. Không ít trong số
đó có con, em hoặc chính bản thân họ đến học văn hóa ở Trung tâm GDTX.
Do đó trong mỗi lớp học mà HV cũng rất da dạng về hoàn cảnh sống, phong tục
tập quán, sinh hoạt và nhận thức về việc học cũng khác nhau.
3. Chất lượng đầu vào:
Trung tâm GDTX là nơi góp phần tạo điều kiện cho mọi người “Học tập suốt
đời”. Những học viên không còn điều kiện để vào các trường phổ thông mới vào
Trung tâm GDTX.
4. Sự cộng tác của cha mẹ học viên:
Hàng năm số HV thuộc diện nghèo hay cận nghèo không nhiều, mỗi lớp khoản
từ 1 – 2 HV. Nhưng hoàn cảnh gia đình trong diện khiếm khuyết còn chiếm tỉ lệ
cao như : mất cha, cha mẹ ly hôn, cha mẹ làm ăn xa không trực tiếp nuôi dạy con…
Do đó nền tảng giáo dục từ gia đình còn nhiều hạn chế.
5. Việc phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp :
Theo PGS.TS Hà Nhật Thăng – Viện khoa học giáo dục Việt Nam thì GVCN
cần quản lý HV cả một cấp học. Như vậy GV có đủ thời gian cần thiết để tìm hiểu
HV từ lớp đầu cấp đến cuối cấp.
Phân công GVCN như hiện nay : GV chỉ được phân công chủ nhiệm 1 lớp (9
tháng học) rồi sau đó chuyển sang lớp khác. GV phải tìm hiểu HV lớp này chưa
tường tận lại phải tiếp quản và tìm hiểu HV mới khác.
III. Nội dung, biện pháp thực hiện :
1. Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp :
Vị trí, vai trò, các hoạt động chủ yếu của GVCN ở Trung tâm GDTX.
+ Vị trí, vai trò:
ngành học phổ thông. Dù là nhóm tuổi nào GVCN cũng phải quản lý, tổ chức các hoạt
động giáo dục và nhận xét, đánh giá xếp loại 2 mặt giáo dục theo quyết định số
02/2007/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 23/01/2007 của Bộ giáo dục – đào tạo.
Sự khác nhau giữa 2 nhóm tuổi này là ở chỗ quan hệ giữa GVCN với những người
có liên quan trách nhiệm đến học viên. HV nhóm tuổi vị thành niên thì còn phụ thuộc
vào cha mẹ hoặc người giám hộ. Vì vậy khi giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của HV phải liên hệ đến cha mẹ hoặc người giám hộ HV.
HV nhóm tuổi trưởng thành (vừa học vừa làm) thì phụ thuộc vào cơ quan, đơn vị,
cơ sở sản xuất mà họ đang làm việc, công tác. Vì vậy khi giải quyết các vụ việc liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của HV phải liên hệ đến cơ quan, đơn vị, cơ sở nơi họ
đang làm việc, công tác .
Những việc chung nhất cần phải làm dù là nhóm tuổi nào, với cương vị của GVCN
chúng tôi phải thực hiện những công việc như sau :
a. Tìm hiểu hoàn cảnh, học lực, hạnh kiểm và thái độ học tập của học viên:
- Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm được phân công, GVCN phải gấp rút nghiên
cứu học bạ của HV học ở cấp dưới, thống kê học lực, hạnh kiểm và nhận xét của
GV: Nguyễn Văn Chính
5
Công tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
GVCN. Đó là yêu cầu chung trong việc tìm hiểu HV. Tuy nhiên thông qua việc này
GVCN ngay từ đầu cũng chọn lựa ra được một số nhân tố nổi trội nhất để giới thiệu
bầu vào ban cán sự lớp.
- Sau đó là công tác tìm hiểu lý lịch, hoàn cảnh của HV. Việc này GVCN làm
phiếu kê khai lý lịch để HV kê khai theo mẫu thống nhất do GVCN đưa ra. Nội dung
yêu cầu trong phiếu kê khai làm sao giúp GVCN tìm hiểu được hoàn cảnh sinh hoạt,
học tập của HV mà còn đáp ứng các yêu cầu làm các loại hồ sơ của Trung tâm GDTX.
GV: Nguyễn Văn Chính
6
Cơng tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
Hoạt động giáo dục ngoại khóa ở Trung tâm GDTX trên thực tế khơng chiếm
nhiều thời gian. Phần nào thuộc về nghị quyết của Đồn cấp trên thì Chi đồn đứng ra
tổ chức và quản lý các hoạt động phong trào. GVCN chỉ cần liên hệ với Ban chấp hành
Chi đồn để ghi nhận kết quả, tun dương các HV của lớp mình phụ trách có thành
tích trong các phong trào hoặc ghi nhận xét tinh thần ý thức tham gia các hoạt
động phong trào của học viên vào học bạ cuối năm học.
Một số hoạt động ngoại khóa khác mà GVCN phải trực tiếp quản lý như : Sinh
hoạt chào cờ; Các buổi học tập ngoại khóa như : An tồn giao thơng, HIV AIDS, giới
tính, các chun đề về kỹ năng sống … Các buổi lễ của Trung tâm GDTX tổ chức hoặc
các buổi mít tinh kỷ niệm các ngày lễ lớn do cấp trên điều động, cắm trại…
+ Thời gian học viên khơng học ở trường:
Thời gian này có thể nói là nhà trường khơng trực tiếp quản lý học viên. Nhưng
khơng phải là khơng còn mối liên hệ nào. Đó là mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình
và xã hội vẫn phải duy trì. Phổ biến nhất vẫn là mối liên hệ giữa cha, mẹ (người giám
hộ HV) với GVCN.
Để thống nhất việc quản lý HV học tập ở nhà, ngay từ đầu năm học Trung tâm
GDTX tổ chức họp cha mẹ HV. Nhằm cung cấp cho cha, mẹ HV những thông tin
cần thiết nhất như:
- Cung cấp số điện thoại của GVCN và các bộ phận có liên quan
đến việc quản lý HV ở TTGDTX.
- Thời gian biểu của nhà trường tổ chức dạy và học
- Các môn học và chuẩn bò sách giáo khoa, học cụ.
02/2007/QĐ.BGDĐT ngày 23/1/2007 của Bộ Trưởng Bộ giáo dục và đào
tạo.
Đó là những nội dung cơ bản nhất mà học viên cần nắm vững
để xác đònh tiêu chí phấn đấu học tập rèn luyện. Học viên tự đối
chiếu các quy đònh của quy chế mà tự xếp loại kết quả rèn luyện của
mình. Nhất là về mặt hạnh kiểm cuối học kỳ và cả năm. GVCN tổ
chức cho học viên viết tự kiểm điểm chấp hành quy chế, nội quy học
tập rèn luyện ở TTGDTX. Tự liên hệ những việc làm được chưa làm
được và căn cứ vào tiêu chí xếp loại hạnh kiểm theo QĐ của Bộ
Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để tự xếp loại hạnh kiểm cho mình.
Sau đó thông qua tập thể lớp xét xếp loại hạnh kiểm của từng học
viên đúng theo quy đònh của quy chế.
e. Về việc phát huy vai trò tự quản của lớp
Để phát huy tốt vai trò tự quản của lớp phải cần đến ban cán sự
đặc biệt là lớp Trưởng. GVCN phải có những tiêu chí nhất đònh để lựa
chọn những HV năng nổ trong học tập, sinh hoạt tập thể, ý thức chấp
hành tốt nội quy, quy chế của nhà trường, có học lực tương đối nổi trội
trong tập thể lớp, có khả năng đoàn kết, tập hợp các bạn tham gia các
phong trào.
Việc lựa chọn lớp Trưởng và ban cán sự lớp đối với lớp 11,12 thì
không khó. Vì giáo viên chủ nhiệm đã biết rõ năng lực HV qua hơn
một năm học tập và rèn luyện ở TTGDTX. Nhưng ở lớp 10 (lớp đầu
cấp) học viên mới vào học, vì thế nên GVCN chỉ tìm hiểu qua hồ sơ,
học bạ về kết quả học tập, rèn luyện và ý kiến nhận xét của GVCN
ở lớp dưới, cấp dưới để lựa chọn.
GV: Nguyễn Văn Chính
8
GVCN có nhiệm vụ truyền đạt, giải thích, thuyết phục HV thực hiện
các nội dung chỉ đạo của Ban giám đốc và Ban chấp hành chi đoàn.
Ngược lại GVCN cũng có trách nhiệm đề đạt ý kiến nguyện vọng của
HV, của cha mẹ HV với Ban giám đốc. Góp ý với chi đoàn trong việc
thực hiện nghò quyết của Tổ chức Đoàn và mục tiêu kế hoạch giáo
dục và đào tạo của TTGDTX.
Phát hòên những HV có năng khiếu, có ý thức vươn lên trong học tập
và rèn luyện giới thiệu cho tổ chức Đoàn, Ban giám đốc có kế hoạch
GV: Nguyễn Văn Chính
9
Cơng tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
bồi dưỡng kiến thức và năng khiếu. Góp phần xây dựng đội ngũ, nhân
lực cho Đoàn và cho mọi hoạt động của TTGDTX.
Đồng thời để phát huy vai trò của Tổ chức Đoàn là giáo dục lý
tưởng cho thanh niên. GVCN cần liên hệ chặt chẽ với tổ chức Đoàn
trong việc giáo dục học viên cá biệt. Làm cho những gương tốt trong HV
ngày càng được tăng lên và các hành vi tiêu cực trong HV ngày càng
giảm bớt.
h. Thực hiện hồ sơ sổ sách quản lý của GVCN và chế độ báo
cáo
Hiện nay các loại sổ sách của TTGDTX quản lý nhưng lại có liên
quan đến trách nhiệâm của GVCN như: Sổ gọi tên và ghi điểm – Sổ đầu
bài – Sổ chủ nhiệm lớp. Đây là các loại sổ phần lớn do GVCN thực
hiện, nhưng thuộc loại sổ do TTGDTX quản lý chứ không phải sổ cá
nhân.
Vì vậy trước khi ghi chép vào các loại sổ sách trên GVCN phải
Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục cả năm học của lớp như sau:
- Học lực : Khá (8,69%) Trung bình (39,13%) yếu (52,17%)
- Hạnh kiểm : Tốt (26,08%) Khá (43,47%) trung bình (30,43%)
Số HV rèn luyện trong hè , thi lại và được lên lớp : 7/12 HV. Như vậy sau khi
thi lại tổng số HV lên lớp : 18/23 HV. ở lại 5 HV (Tỉ lệ lên lớp : 78,26%)
trong đó có 2 HV tiên tiến.
Trên cơ sở đó bước sang năm học 2012 – 2013, lớp 10B2 năm trước, nay là
lớp 11B2, ln là lá cờ đầu trong phong trào thi đua học tập của TTDGTX
Nhơn Trạch.
Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục cả năm được nâng lên rõ rệt
- Học lực : Giỏi (11,76%) Khá (29,41%) Trung bình (58,82%), khơng có học
viên yếu, kém
- Hạnh kiểm : Tốt (76,47%) Khá (23,52%) . khơng có hạnh kiểm trung bình,
yếu.
Năm học trước, lớp này chỉ có 02 HV Tiên tiến, năm nay có đến 05 HV Tiên
tiến và 02 HV giỏi
Đến năm học (2012-2013) lớp 10B2 mới vào cũng tương tư,ï tỉ lệ học
viên có hoàn cảnh đặc biệt tương đối nhiều chiếm gần 30%. Cuối học
kỳ I, kết quả không có học viên khá giỏi, học lực trung bình chỉ chiếm
37,03%, yếu kém chiếm 62,97%. Xếp loại hạnh kiểm loại khá tốt chỉ có
22% còn lại là loại hạnh kiểm trung bình.
Kết quả cuối năm học cũng có nhiều thay đổi:
- Về học lực : có 1 học viên đạt danh hiệu tiên tiến. Tỉ lệ HV học lực đạt trung
bình, khá (40%), tỉ lệ HV yếu giảm còn (56%)
- Về hạnh kiểm : Loại khá, tốt được nâng lên là 32% còn lại hạnh kiểm trung
bình 68%.
Lớp 12 T (2012 – 2013) cũng có nhiều chuyển biến tích cực :
Kết quả cuối kỳ I :
- Học lực : Giỏi ( 4,34%) khá ( 13,04%) trung bình (30,43%) yếu (47,82%)
kém (4,34%)
học viên. Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục. Kỹ năng phát
hiện và giải quyết các vấn đề sẽ nảy sinh trong thực tiễn giáo dục.
Kỹ năng giáo dục học viên cá biệt. Kỹ năng đánh giá kết quả rèn
luyện đạo đức của học viên (lưu trữ hồ sơ theo dõi từng cá nhân và
tập thể học viên). Kỹ năng phối hợp các lực lượng trong công tác giáo
dục học viên, kỹ năng tổ chức và huấn luyện tập thể học viên tự
quản. Kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng tổ chức các hoạt động hỗ
trợ giáo dục (sinh hoạt trò chơi, văn thể mỹ…), kỹ năng tổ chức rèn
luyện kỹ năng sống cho học viên. Kỹ năng vận dụng các nguyên tắc,
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục.
- GVCN phải làm hết các vai trò của mình như: vai trò là nhà
chuyên môn tin cậy (tức dạy tốt bộ môn chuyên môn của mình, đó là
yếu tố đầu tiên gây cảm tình, tin cậy của học viên đối với GVCN). Vai
trò là nhà giáo dục: đònh hướng, tổ chức, thúc đẩy sự phát triển nhân
cách học viên theo mục đích, mục tiêu giáo dục. Vai trò là người điều
phối các lực lượng giáo dục, nhất là lực lượng giáo dục trong nhà
trường và với cha mẹ, cơ quan chủ quản của học viên. Vai trò là người
cố vấn hướng dẫn giúp đỡ xây dựng tập thể học viên biết tự quản.
Vai trò đại diện cho học viên, cha mẹ học viên khi có yêu cầu và thay
mặt TTGDTX phổ biến cho cha mẹ và học viên những chủ trương, quy
GV: Nguyễn Văn Chính
12
Cơng tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
chế của ngành giáo dục, liên hệ các cơ quan để giải quyết các vụ việc
có tiên quan đến học viên lớp chủ nhiệm.
- GVCN phải xây dựng hệ thống giá trò “ Chân – Thiện – Mỹ” cho
là cả một quá trình lâu dài, sự thay đổi, chuyển biến tích cực của mỗi
học viên cũng là quá trình lâu dài. Không phải chỉ vài ba tháng hay
một hai năm mà có thể thấy được sự tiến bộ của học viên. Hơn nữa sự
nghiệp giáo dục và đào tạo là trách nhiệm của toàn bộ lực lượng giáo
GV: Nguyễn Văn Chính
13
Cơng tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
dục. Nhất là lực lượng giáo dục trong nhà trường, mỗi người cần phải
thực hiện đầy đủ vai trò, vò trí của mình khi được phân công. Tạo một
môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh, hợp tác chặt chẽ giữa các
thành viên trong TTGDTX vì mục tiêu chung của đơn vò.
Các cấp quản lý giáo dục cần có những văn bản pháp quy, quy
đònh thống nhất chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa giáo viên chủ
nhiệm với các cá nhân, tổ chức khác ở TTGDTX để làm cơ sở pháp
lý cho giáo viên chủ nhiệm làm việc đúng hướng, đúng quy đònh.
Tuy nhiên trong lúc chưa có các văn bản pháp quy của ngành quy
đònh cụ thể công việc cho giáo viên chủ nhiệm ở TTGDTX. Chúng tôi
hy vọng rằng với một số kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp ở
TTGDTX trong thời gian qua cũng có thể đóng góp một số ý kiến cho
quý đồng nghiệp tham khảo.
Ngày 18/2/2013
Người viết
Nguyễn Văn Chính
* Tài liệu tham khảo
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Công tác chủ nhiệm lớp học văn hóa ở Trung tâm GDTX
Họ và tên tác giả: Nguyễn Văn Chính.....Đơn vị (Tổ): Trung tâm GDTX Nhơn Trạch
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: …………...........
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác: ....................................................
1. Tính mới
-
Có giải pháp hoàn toàn mới
-
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
GV: Nguyễn Văn Chính
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
GV: Nguyễn Văn Chính
16