Tiểu luận phân tích mối quan hệ giữa các nguồn lực (tài nguyên, dân cư, lao động) và các hoạt động kinh tế của quảng ninh - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Với mục tiêu đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo ở bậc đại học,
hướng đào tạo lý luận ở nhà trường với thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước,
từ năm học 2002 – 2003 Đại học Kinh Tế Quốc Dân chủ trương khuyến khích
thực tập của sinh viên năm thứ tư chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thực tập
tổng và giai đoạn thực tập chuyên đề. Hưởng ứng chủ trương đúng đắn này của
nhà trường, chuyên ngành kinh tế và quản lý Tài nguyên Môi trường của khoa
Kinh tế - Quản lý Tài nguyên Môi trường và Đô thị đã triển khai ngay từ đầu
năm học. Trong nội dung và chương trình thực tập tổng hợp tuần cuối được sử
dụng cho việc đi nghiên cứu thực tế ở Quảng Ninh nhằm mục đích :
- Củng cố, cập nhật và nâng cao kiến thức đã được học ở trường.
- Khi về trường tiếp tục tăng cường bổ sung các kiến thức cho các môn học
chuyên ngành đảm bảo tính hiệu quả của môn học như: Kinh tế vùng, Hạch toán
môi trường, Phân tích chi-phí lợi ích, Du lịch sinh thái,…
- Làm quen với việc thu thập số liệu, điều tra thực tế, xử lý số liệu,…
- Trên cơ sở viết báo cáo thu hoạch sinh viên có dịp vận dụng kiến thức đã học
để lý giải một số vấn đề cụ thể như: khai thác tài nguyên hiệu quả và hợp lý,cơ
chế quản lý môi trường của địa phương,….
Như thông lệ, năm nay Khoa tiếp tục tổ chức đợt thực tế tại Quảng Ninh
cho sinh viên lớp KT-QL Tài nguyên Môi trường 46. Dưới sự hướng dẫn tận
tình của các giáo viên (của khoa KT-QL Tài nguyên Môi trường & Đô thị), các
cán bộ của các cơ quan nơi đoàn đến tham quan và tìm hiểu; cùng với sự tìm
hiểu và ghi chép cẩm thận tôi đã hoàn thành đợt nghiên cứu thực địa này. Và kết
quả của đợt thực tế này, không chỉ là những thông tin, kiến thức trong bản báo
cáo thực địa dưới đây mà còn rất nhiều thông tin, kiến thức, kinh nghiệm khác
tôi đã thu thập được trong quá trình làm việc; bởi không thể đưa ra hết những
1


kiến thức, thông tin, số liệu có được sau chuyến đi trong bản báo cáo này. Bản
báo cáo này tập trung vào vấn đề :

tỉnh Quảng Ninh

2


I.

Các nguồn lực của tỉnh Quảng Ninh

1.

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.

Vị trí địa lý
Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó có

mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát
triển. Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cả
vùng Bắc Bộ. Tỉnh nằm trong giới hạn toạ độ 106 – 108 o kinh độ đông,
20o40’21” vĩ độ bắc; Đông Bắc giáp Trung Quốc, có đường biên giới dài khoảng
132,8 km, phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía Tây
Nam giáp thành phố Hải Dương, phía Tây Bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc
Giang và Hải Dương.
1.2.

Điều kiện tự nhiên
Đặc điểm địa hình
Địa hình Quảng Ninh mang tính chất là một vùng miền núi, trung du và

- Hệ thống sông Tiên Yên – Móng Cái gồm một số sông lớn của tỉnh như sông:
Tiên Yên, Phố Cũ, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hà Cối,….
2.

Tài nguyên thiên nhiên

2.1.

Đất đai
Quảng ninh có quỹ đất dồi dào với 601.000 ha, trong đó 50.364 ha đất

nông nghiệp đang sử dụng, 146.019 ha đất lâm nghiệp với nhiều diện tích đất có
thể trồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi, khoảng gần 20.000 ha có thể trồng cây ăn
quả.
Đất đai của Quảng Ninh có đặc tính chung là giàu ôxit sắt, tầng mùn
4


mỏng, ít các chất dinh dưỡng dễ tiêu. Loại đất chiếm diện tích lớn nhất là đất
feralit vàng đỏ và feralit đồng cỏ thứ sinh phát triển ở địa hình đồi, núi thấp.
Ngoài ra còn có đất phù sa cổ (diện tích 40.105 ha), đất mặn ven biển (diện tích
50.900 ha), đất cát và cồn cát ven biển (diện tích 6.087 ha), và đất vùng đồi núi
đá vôi ở các đảo, quần đảo (diện tích 46.627 ha).
2.2.

Rừng và Sinh vật
Rừng Quảng Ninh phân bố ở những nơi địa hình thấp, dễ khai thác, nhưng

do khí hậu lạnh và khô nên khả năng phục hồi chậm. Rừng ngyên sinh hầu như
không còn, chủ yếu là rừng thứ sinh. Độ che phủ rừng hiện nay là khoảng 30%.

lượng 45 triệu tấn có thể khai thác quy mô lớn. Các khoáng sản như cao lanh
Tấn Mài, cao lanh Móng Cái, thuỷ tinh Vân Hải đều là các mỏ lớn của miền Bắc,
có chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi, là nguồn nguyên liệu quan trọng
để phát triển công nghiệp phục vụ nhu cầu trong tỉnh, ngoài nước và xuất khẩu.
3.

Dân cư và lao động
Theo Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh – Niên giám 2003, dân số của tỉnh

Quảng Ninh là 1.058.752 người (chiếm khoảng 1.31% dân số của cả nước)
Mật độ dân số năm 2003 là 179 người/km2, thấp hơn nhiều so với mặt độ
dân số trung bình vùng đồng bằng sông Hồng (894 người/km2) và vùng kinh tế
trọng điểm Bắc bộ (853 người/km2). Dân cư phân bố không đồng đều, theo đơn
vị hành chính thì thành phố Hạ Long có mật độ dân cư đông nhất 908
người/km2, tiếp đến là thị xã Cẩm Phả 469 người/km2, huyện Yên Hưng 404
người/km2. Thấp nhất là ở huyện Hoành Bồ 49 người/km2 và Ba Chẽ 30
người/km2.
Cơ cấu dân số nông thôn và thành thị năm 2003: dân số nông thôn có
569.446 người, chiếm 53,78%; dân số thành thị 489.306 người, chiếm 46,22%.
Với tỷ lệ này, mức độ đô thị hóa của Quảng Ninh tương đối cao, cao hơn nhiều
6


so với trung bình cả nước (25%) và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (gần
27,8%). Cơ cấu dân số nam, nữ năm 2003 là 50,67 – 49,33%.
Dân số tỉnh thuộc loại trẻ (do tăng cơ học), tỷ lệ dân số trong tuổi lao động
chiếm 61,3% so với tổng số dân (cả nước 59,5%, đồng bằng sông Hồng là
60,2%). Tỷ lệ dân số trên 6 tuổi biết chữ chiếm 91,5% (trung bình cả nước là
86,3%). Gần 50% dân số đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở (lớp 9) bằng 1,6 lần bình
quân cả nước, là điều kiện rất thuận lợi cho việc đào tạo ngành nghề và tiếp thu

thác than: Hòn Gai, Cẩm Phả - Dương Huy và Uông Bí - Mạo Khê. Sản lượng
than khai thác năm 2002 đạt trên 15 triệu tấn, xuất khẩu hơn 5 triệu tấn. Chỉ tính
riêng tại Quảng Ninh, trong vài năm tới với sự ra đời của một loạt cơ sở công
nghiệp lớn (các nhà máy xi măng, nhiệt điện, phân bón, hóa chất, gạch chịu
lửa...), nhu cầu về than nhiên liệu và than chế biến sẽ rất lớn (dự kiến khoảng 7
triệu tấn/ năm) cùng với xuất khẩu tăng; nhu cầu sử dụng than sẽ tăng nhanh
trong các năm tới, đòi hỏi ngành than đổi mới thiết bị, công nghệ, phương pháp
quản lý để tăng nhanh sản lượng đáp ứng nhu cầu thị trường và đảm bảo vệ sinh
môi trường. Ngành than đã và đang chủ động hợp tác với các đối tác nước ngoài
trong khai thác và chế biến than.
Quảng Ninh còn có nhu cầu lớn về các sản phẩm cơ khí phục vụ ngành
than, ngành kinh tế cảng biển, vận tải biển, máy móc, thiết bị cơ khí phục vụ các
ngành kinh tế khác như nông, lâm, ngư nghiệp, máy xây dựng, đồ cơ khí gia
dụng…Có thể phát triển công nghiệp khai thác, chế biến than và sử dụng nguyên
liệu than với sự ra đời của hàng loạt cơ sở công nghiệp lớn, các nhà máy xi
măng, nhiệt điện, phân bón, hoá chất, gạch chịu lửa…
Với lợi thế có bờ biển dài, nhiều khu vực kín gió, nước sâu, ít lắng đọng
Quảng Ninh có thế mạnh để phát triển cảng biển. Đặc biệt Cái Lân và Cửa Ông
là hai khu vực nằm trong Vịnh Hạ Long và Bái Tử long, được các dãy núi đá vôi
bao quanh chắn sóng, gió. Luồng tàu hiện tại đã có thể cho phép tiếp nhận các
8


tàu có trọng tải hàng vạn tấn ra vào, nhận trả hàng hoá. Cảng Cái Lân có luồng
tàu dài 18 hải lý (tương đương với 27 km), chiều rộng 110 m, độ sâu -8,2 m,
thủy triều ở mức trung bình là +3,6 m (mức cao nhất 4,46 m).
Cảng Cửa Ông có luồng tàu dài 37 km, chiều rộng 110 m; đoạn Cầu Cảng - Hòn
Con Ong dài 7,5 km, sâu -7,4 m; đoạn Hòn Con Ong - Hòn Nét dài 16,5 km, sâu
-13 m; đoạn Hòn Nét - Phao số 0 dài 13 km, sâu -9,2 m. Hiện nay, Tổng Công ty
Than Việt Nam đang có dự án hạ sâu luồng đoạn Cầu Cảng - Hòn Con Ong từ

0,3
11-12

(triệu tấn)
16-17
5-5,2
4-5
3,8
3-3,5
1,8-2
2
0,3-0,4
38-39

Tài nguyên biển phong phú, dồi dào đã giúp Quảng Ninh trở thành một
trong 4 ngư trường lớn nhất cả nước. Dọc chiều dài 250 km bờ biển Quảng Ninh
có trên 40.000 ha bãi biển, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục nghìn ha vũng nông
ven bờ là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu.
9


Ngoài điều kiện thuận lợi về tài nguyên biển, Quảng Ninh có tiềm năng về đất
canh tác nông nghiệp và đất rừng . Tỉnh khuyến khích các dự án trồng cây tạo
vùng nguyên liệu (chè, dứa, nhãn, vải,…và các loại cây công nghiệp, cây ăn quả
khác).
Cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch, Quảng Ninh có
nhiều bãi biển đẹp, cảnh quan nổi tiếng như: Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long,
bãi biển Trà Cổ, Vân Đồn,….,các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tạo sức hút
cho khách du lịch trong và ngoài nước . Việc phát triển du lịch ở khu vực Hạ
Long – Bãi Cháy kết hợp với tuyến ven biển đến Móng Cái, Hải Phòng - Đồ Sơn

sâm, bào ngư, rau câu, tôm, cua ... Quảng Ninh còn có tiềm năng to lớn về phát
triển dịch vụ nhà hàng ăn uống…..
Để từng bước phát huy lợi thế, tiềm năng của tỉnh trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế (WTO), nhằm chuyển dịch, phát triển cân đối các khu vực trong
cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng tỉnh
Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 theo Nghị quyết Đại
hội Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII đề ra cần tăng cường công tác quản
lý, chỉ đạo doanh nghiệp và địa phương của Cơ quan chuyên môn giúp UBND
Tỉnh thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh, thực hiện tốt Quy
hoạch, Kế hoạch, Chương trình phát triển hàng năm, 5 năm và 10 năm (2006 –
2010 – 2015). Đẩy nhanh nhịp độ thực hiện kế hoạch sản xuất với chất lượng,
năng xuất, hiệu quả cao của các doanh nghiệp hiện có. Đưa nhanh các dự án lớn
được đầu tư đang xây dựng hạ tầng, sớm đi vào sản xuất tham gia kế hoạch trong
5 năm 2006 – 2010. Các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành cần đi sâu
nghiên cứu hướng dẫn, chỉ đạo. Các doanh nghiệp cần tập trung rà soát củng cố,
đầu tư thêm trang thiết bị công nghệ, quy mô đủ tầm cho các cơ sở chế biến hiện
có để duy trì phát triển sản xuất, tích cực thay thế các thiết bị cũ rão lạc hậu.
11


12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status