Tiểu luận Vấn đề giới trong lĩnh vực lao động, việc làm ở vùng nông nghiệp huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình - Pdf 37

đặt vấn đề
Trải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, phụ nữ Việt Nam có vai trò
to lớn trong lịch sử dân tộc. Họ đã đóng góp sức mình trong mọi lĩnh vực :
chiến đấu, lao động sản xuất, sáng tạo và phát triển văn hoá. Đặc biệt trong
lĩnh vực lao động sản xuất, lịch sử đã chứng minh phụ nữ Việt Nam không
những chiến đấu tài giỏi mà còn là lực lợng lao động to lớn của xã hội. Trong
điều kiện luôn có giặc ngoại xâm đe doạ và thiên tai khắc nghiệt đã hình
thành đức tính cần cù, chịu khó trong lao động, sản xuất của phụ nữ Việt
Nam. Khi đất nớc có chiến tranh, phụ nữ Việt Nam phải lao động để đảm bảo
cuộc sống cho toàn gia đình và đóng góp cho xã hội, phụ nữ giữ vai trò trụ cột
trong lao động một nắng hai sơng, trở thành ngời lao động chủ yếu trong gia
đình, đảm đang, tần tảo, chung thuỷ trong cuộc sống gia đình.
Phụ nữ Việt Nam còn tham gia công việc xã hội : tổ chức lao động các
ngành nghề thủ công, lo việc tiếp tế lơng thực, thực phẩm ra mặt trận. Lịch sử
thời kỳ phong kiến đã ghi nhận những tài năng tham gia quản lý xã hội tiêu
biểu nh Thái hậu Dơng Vân Nga (thời Đinh) ; Nhiếp chính ỷ Lan (thời Lý) ;
Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung (thời Trần)...
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài
suốt 30 năm của dân tộc đã ghi công hàng nghìn, hàng triệu các bà, các mẹ,
các chị. Họ đã vững tay súng, chắc tay cày, trở thành những anh hùng lao
động, những phụ nữ tiêu biểu trong phong trào ba đảm đang. Luôn đảm bảo
thóc không thiếu một cân cùng quân dân cả nớc chiến thắng kẻ thù.
Hoà bình lập lại, phụ nữ Việt Nam sôi nổi trong phong trào Hai giỏi
cùng cả nớc hàn gắn vết thơng chiến tranh và xây dựng, phát triển đất nớc.
Trong hơn mời năm đổi mới vừa qua, vai trò và những đóng góp to lớn
của phụ nữ trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế đất nớc càng đợc khẳng
định. Chiếm 51% dân số cả nớc, 48% lực lợng lao động xã hội, phụ nữ Việt
Nam chính là lực lợng lao động hùng hậu, góp phần vào sự tăng trởng của đất
nớc. Ngày nay phụ nữ Việt Nam đang phấn đấu khẳng định vị trí của mình,
tham gia đóng góp ngày càng nhiều trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên trong khu vực nông nghiệp, phụ nữ so với nam giới gặp rất

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngời, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lợng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nớc.
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc, phụ nữ Việt Nam có vai trò quan
trọng và có những cống hiến to lớn tạo nên truyền thống vẻ vang của dân tộc
đồng thời tạo nên truyền thống tốt đẹp của mình : anh hùng bất khuất trong
chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cần cù chịu khó trong lao động, sản xuất.
Những truyền thống tốt đẹp đó luôn đợc hun đúc qua các thế hệ, trong nhiều
thế kỷ vẫn tiếp tục đợc kế thừa, phát huy và thể hiện mạnh mẽ từ khi Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời. Trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin và t

2


tởng Hồ Chí Minh, Đảng ta coi trọng vai trò và những đóng góp to lớn của
phụ nữ. Ngay từ Luận cơng chính trị đầu tiên của Đảng đã khẳng định "nam
nữ bình quyền".
Trải qua những giai đoạn phát triển của đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta vẫn
nhất quán quan điểm bình đẳng nam nữ, nhất là trong lĩnh vực lao động, việc
làm. Quan điểm này đã đợc khẳng định khi Việt Nam chính thức phê chuẩn
công ớc CEDAW của Liên Hiệp Quốc về "Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử đối với phụ nữ" vào ngày 27/11/1981. Công ớc gồm có 6 phần 30 điều
trong đó có những quy định cơ bản về chống phân biệt đối xử, chống mua bán
bóc lột phụ nữ, phụ nữ với vấn đề giáo dục, phúc lợi kinh tế, xã hội và văn hoá
. Đặc biệt trong phần III Công ớc có Điều 11 quy định về vấn đề việc làm.
Các nớc tham gia Công ớc phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá
bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việt làm nhằm đảm bảo
những quyền nh nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là :
Quyền đợc làm việc một quyền không thể chối bỏ của con ngời ;
Quyền hởng các cơ hội có việc làm nh nhau, kể cả việc áp dụng những

một thời kỳ nhất định.
Việc làm là cơ sở để ngời phụ nữ khẳng định vai trò và khả năng của
mình, giúp thúc đẩy nhanh sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giảm định kiến giới,
khoảng cách giới và tiến tới bình đẳng giới ; giúp thúc đẩy nhanh quá trình
giảm nghèo của ngời phụ nữ ; giúp mỗi cá nhân ngời phụ nữ nâng cao vai trò,
vị trí của mình trong gia đình và ngoài xã hội, là điều kiện để mỗi cá nhân ngời phụ nữ phát triển một cách toàn diện nhất.
Việc làm của phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong tổng thu nhập của
gia đình, góp phần thực hiện tốt chủ trơng của Đảng, Nhà nớc với mục tiêu
"Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
ý nghĩa của việc làm đối với phụ nữ đợc biểu hiện qua sơ đồ sau :

7


Phụ nữ có việc làm

Có thu nhập

Có điều kiện phát triển cá nhân

Trí tuệ

Thể chất

Phát triển phụ nữ

Phát triển kinh tế

Phát triển con ngời


93%, riêng nữ chỉ đạt 92%. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế ở nông thôn
cũng có sự khác nhau giữa các vùng. Vùng có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động
kinh tế cao là Trung du miền núi phía Bắc đạt 95,87% ; đồng bằng sông Hồng
94,2%, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ đạt 84,91%. Điều đó cho thấy phụ nữ
đã chủ động tham gia lao động tích cực không kém gì nam giới. Về mặt định
lợng, số liệu này thể hiện sự tơng đối bình đẳng về quyền lao động theo giới
tính.
Về mặt cơ cấu có 81,98% lao động động nữ ở nông thôn làm việc trong
ngành sản xuất nông - lâm - ng nghiệp, 30,67% lao động nữ tham gia làm
nghề phụ (tỷ lệ chung là 37%), 75% công việc nhà nông do phụ nữ đảm nhận.
Cùng với sự phát triển của KHKT, hoạt động sản xuất nông nghiệp dần đợc cơ khí hoá giảm bớt thời gian lao động cho ngời phụ nữ nông thôn. Tuy
nhiên do sự phát triển của các khu công nghiệp, khu dân c đất canh tác dần bị
thu hẹp nên thời gian nông nhàn còn nhiều. Thực tế 1/3 thời gian lao động cha
đợc sử dụng. Nạn thiếu việc làm của lao động nói chung và lao động nữ nói
riêng hiện nay đang là vấn đề bức xúc. Bên cạnh các khu công nghiệp, khu
khai thác nguyên liệu và các thành phố mới ra đời là làn sóng lao động nữ
nông thôn tràn ra các thành phố ồ ạt để kiếm sống. Họ làm đủ mọi nghề từ
giúp việc gia đình, chăm sóc trẻ nhỏ, phục vụ tại các hàng ăn, bán báo, mua ve

9


chai, bán hàng rong thậm chí cả các nghề mà pháp luật nghiêm cấm nh mại
dâm, buôn lậu Số lao động nữ còn lại ở nông thôn có việc làm thì năng suất
và hiệu quả thấp, thu nhập kém. Một bộ phận không nhỏ rơi vào tình trạng đói
nghèo mà trong đó 29% chủ hộ đói nghèo là nữ. Theo số liệu điều tra kinh tế xã hội của Viện kinh tế học năm 1996 trên 4.000 hộ của 25 xã của các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ thì mỗi xã trung bình có từ 170 - 200 lao động cha có việc
làm và khoảng 650 - 700 lao động cha có việc làm thờng xuyên.
Yêu cầu đặt ra, để có việc làm ổn định, có thu nhập để đảm bảo cuộc
sống, số đông phụ nữ nông thôn có nguyện vọng đợc đào tạo nghề, tạo thêm

thuỷ sản. Năm 2002 giá trị kinh tế biển đạt 203,3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng
19,18% giá trị sản xuất toàn huyện. Nhịp độ tăng trởng hàng năm là 16%.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản đạt tốc
độ tăng trởng cao, bình quân hàng năm 15 - 16% góp phần thúc đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của huyện. Năm 2002 giá
trị công nghiệp - TTCN và xây dựng cơ bản đạt 255,4 tỷ đồng.
Thơng mại và dịch vụ phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Tốc độ tăng trởng bình quân 15,4% năm.
Về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn có tiến bộ
nhanh về nhiều mặt. Các công trình điện, đờng, trờng, trạm, thông tin, nớc
sạch đợc triển khai đồng bộ. 100% số xã, 98% số hộ dân đều có điện sinh
hoạt. Toàn huyện đã có 300 km đờng đá láng nhựa, các tuyến đờng liên xã,
liên xóm đều đợc nhựa hoá, bê tông hoá.
. Tình hình văn hoá - xã hội :
100% xã có hệ thống truyền thanh, điện thoại về các thôn xóm. Toàn
huyện có 4 trờng PTTH, 2 Trung tâm giáo dục thờng xuyên, 1 Trung tâm hớng
nghiệp dạy nghề, 48 trờng THCS, 48 trờng tiểu học và hệ thống giáo dục mầm
non hoàn chỉnh. Công tác dân số, gia đình, trẻ em thờng xuyên đợc chăm lo.
Tỷ lệ sinh 2002 1,2%, tỷ lệ trẻ suy dinh dỡng 28,2%. Phong trào xây dựng đời
sống văn hoá ở cơ sở phát triển mạnh. Đến nay có 90 làng đăng ký xây dựng
làng văn hóa, 37 làng khai trơng, 24 làng đợc công nhận làng văn hoá, 73,3%
số hộ đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, có 73,3% số gia đình đăng ký đạt
tiêu chuẩn gia đình văn hoá.
Việc thực hiện chính sách xã hội đợc giải quyết kịp thời. Các đối tợng
chính sách đợc quan tâm, chăm sóc. Hoạt động nhân đạo, từ thiện, đền ơn đáp
nghĩa đợc các cấp, các ngành và nhân dân hởng ứng. Trong 3 năm qua đã xây
dựng đợc trên 100 nhà tình thơng cho hộ nghèo (kế hoạch năm 2004 xây dựng
96 nhà tình thơng). Đã lập đợc 8.316 sổ Bảo hiểm y tế cho ngời nghèo, 32 bà
mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đợc các cơ quan, đoàn thể phụng dỡng,
những đối tợng nghèo đói đợc khám chữa bệnh miễn phí.

: chăm sóc lúa, hoa màu, chăn nuôi, chăm sóc gia đình, sơ chế, bảo quản nông
sản và đặc biệt là duy trì, phát triển các nghề thủ công truyền thống của
huyện.
. Những tồn tại :
Về cơ hội tìm kiếm việc làm :
Trong vòng 10 năm trở lại đây, trên địa bàn huyện cơ sở hạ tầng đợc cải
thiện rõ rệt. Hàng loạt đờng xá, cầu cống, kênh mơng, trờng học, trạm xá đợc
nâng cấp, xây mới đã giúp ngời dân tăng vụ, tăng diện tích cây trồng, làm dịch
vụ, mở các ngành nghề phi nông nghiệp và khai thác việc theo mùa vụ. Điều

12


này đã tạo ra rất nhiều việc làm mới cho cả nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên,
việc làm có thu nhập cao tại các công trờng xây dựng chủ yếu dành cho nam
giới. Đôi khi các công trình thi công vào giai đoạn nớc rút, cần nhiều lao
động. Các chủ thầu phải lấy ngời từ địa phơng khác nhng lao động nữ không
đợc lựa chọn. Các dịch vụ khác nh cày bừa, máy xay xát, chuyên chở vật liệu
chủ yếu do nam giới đảm nhận.
Phụ nữ không đợc tiếp cận với công việc này trớc hết do sức khoẻ không
đảm nhận nổi các công việc nặng nhọc. Mặt khác do định kin ngay từ nhỏ họ
đã không đợc gia đình hớng cho học các nghề thuộc về kỹ thuật nh xây dựng,
nghề mộc trong khi 80 % nam giới ở nông thôn đều biết làm các nghề này.
Một nguyên nhân không kém phần quan trọng do trình độ học vấn thấp họ
cũng rất khó khăn khi tiếp cận với các máy móc, kỹ thuật mới nh sử dụng máy
cày, bừa, máy tuốt lúa, máy xay xát
Về vấn đề di c và đi làm thuê :
ở nông thôn Thái Thụy hiện nay, bình quân ruộng đất thấp (550 m 2/1 ngời) thời gian nông nhàn nhiều, bình quân 1 năm ngời lao động nông thôn chỉ
sử dụng 5 - 6 tháng cho công việc sản xuất nông nghiệp. Nh vậy trong 1 năm
ngoài khoảng thời gian sản xuất nông nghiệp, ngời lao động nông thôn còn rất

Nguyên nhân dẫn đến điều đó là do công nghiệp địa phơng chậm phát
triển, các khu thơng mại, dịch vụ tập trung chủ yếu ở thành phố, thị trấn.
Ngoài ra do đất canh tác bị thu hẹp, ngày công lao động ở nông thôn quá thấp.
Về thời gian làm việc của phụ nữ lớn hơn nam giới :
ở khu vực nông thôn thời gian lao động tạo thu nhập của phụ nữ và nam
giới xấp xỉ nh nhau. Phụ nữ tham gia vào tất cả các phần việc của nhà nông
nh cày bừa, chăm sóc, thu hoạch hoa màu, kể cả công việc nặng nhọc, độc hại
nh bơm thuốc trừ sâu. Tuy nhiên phụ nữ dành thời gian nhiều gấp đôi nam giới
cho công việc gia đình : 14h/1 ngày (gồm các công việc sản xuất, nội trợ, nuôi
dạy con), trong khi đó nam giới chỉ làm 7h /ngày. Đó là cha kể vào những
ngày thời vụ chị em phải làm quần quật 16 - 17h/ngày. Nh vậy về thời gian lao
động nữ làm việc gấp đôi so với nam giới. Tuy nhiên thời gian làm việc nhiều
hơn của phụ nữ lại là loại công việc không tạo ra thu nhập hoặc thu nhập rất
thấp chỉ nhằm duy trì cuộc sống gia đình. Nói tới ngời phụ nữ l nói đến thiên
chức làm mẹ, làm vợ. Từ bao đời nay, định kiến của xã hội luôn gắn chặt họ
với chức năng làm các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình và cho rằng họ
làm công việc này là phù hợp và tốt nhất. Bản thân ngời phụ nữ tỏ ra hết sức
tài giỏi trong công việc này. Chính nhờ sự đảm đang đó mà nam giới có thêm
thời gian và điều kiện để lao động, sản xuất tốt hơn tạo ra của cải vật chất cho
xã hội. Nói cách khác, trong giá trị ngày công của nam giới có sự đóng góp
đáng kể của phụ nữ, tuy nhiên rất ít ngời muốn chia sẻ gánh nặng đó với họ.
Lao động chăm sóc gia đình, nội trợ của phụ nữ đợc nam giới gọi là việc vặt,
họ thờng không đợc trả công và cũng chẳng ai tính là sẽ trả công cho những
công việc này. Nhng chính thời gian lao động dài gấp đôi nam giới này đã làm

14


ảnh hởng rất lớn đến sức khoẻ và gia đình của họ. Họ thiếu thời gian nghỉ ngơi
(phụ nữ nông thôn có thời gian nghỉ ngơi là 4% trong khi nam giới là 23%)

trên thực tế phụ nữ tiếp thu và ứng dụng trong sản xuất, chăn nuôi tốt hơn nam
giới vì họ là ngời trực tiếp làm nhiều hơn. Tuy nhiên, kinh phí cho hoạt động

15


của hội Phụ nữ còn hạn chế nên không thể tổ chức đợc nhiều lớp tập huấn cho
phụ nữ.
Đối với các lớp tập huấn do ban ngành chuyên môn hay chính quyền tổ
chức, thì ngời tổ chức chỉ chú ý đến số lợng ngời tham dự, ít chú ý đến đối tợng tham dự. Thông thờng các lớp do HTX tổ chức thì ngời nghe chủ yếu là
nam giới vì thành phần lớp học là cán bộ thôn, xóm, ban ngành ở xã, ngoài ra
mỗi xóm chọn một số nông dân còn phụ nữ rất ít. Theo thống kê các lớp tập
huấn về chăn nuôi có khoảng 20 % phụ nữ tham gia, lớp tập huấn về trồng trọt
có khoảng 10% phụ nữ tham gia. Mặt khác, đa số cán bộ cung cấp dịch vụ
khuyến nông ở cơ sở là nam giới và họ cũng thờng coi các nông dân nam (chủ
hộ gia đình) là đối tợng, mục tiêu của các hoạt động khuyến nông.
Nh vậy, nếu nhìn dới góc độ giới, phụ nữ Thái Thụy chiếm 52% dân số,
phụ nữ làm nông nghiệp chiếm trên 60%. Phụ nữ tham gia hầu hết các khâu
của quá trình sản xuất, đồng thời với bản tính tự nhiên cần cù, cởi mở thì tác
dụng truyền thông sẽ mạnh hơn nam giới. Nếu lao động nữ đợc tham gia đông
đảo trong công tác khuyến nông thì chắc chắn hiệu quả mang lại sẽ cao hơn.
Vấn đề tiếp cận vốn vay và tín dụng để phát triển đối với nông nghiệp.
Số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy, phụ nữ đã có mặt
hầu nh trong tất cả các ngành nghề sản xuất nông nghiệp hiện có ở nông thôn.
Tỷ lệ trong chăn nuôi 82%, trồng trọt 75%. Việc ngời nông dân vay vốn của
ngân hàng, tổ chức tín dụng, đặc biệt là thông qua tổ chức hội Phụ nữ giúp
phụ nữ vay vốn đầu t cho sản xuất, chăn nuôi, giảm tình trạng cho vay nặng
lãi, bán lúa non ở nông thôn, góp phần nâng cao vị thế của ngời phụ nữ trong
gia đình. Theo báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ của hội Phụ nữ huyện, trong
những năm qua Hội phụ nữ các cấp đã bằng nhiều hình thức để huy động vốn

sau khi thực hiện chủ trơng dồn điền đổi thửa của UBND tỉnh mới chấm dứt đợc tình trạng đất canh tác phân tán, manh mún. Việc giao đất ổn định lâu dài
20 năm nên những ngời mới sinh ra sau năm 1993 không có ruộng cũng gây
ra thắc mắc trong nhân dân. Mặt khác việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho nông dân theo hộ gia đình đã nảy sinh vấn đề thực hiện một số
quyền giữa chủ hộ (nam giới) và các thành viên trong hộ gia đình.
Cụ thể là :
Việc xác định chủ hộ nông dân là sự ngẫu nhiên nhng hầu nh những gia
đình có cả vợ và chồng có trên 80% chủ hộ là nam giới, chủ hộ là nữ khoảng
16%. Giấy chứng nhận cấp quyền sử dụng đất ghi tên chủ hộ là văn bản pháp
lý duy nhất có giá trị đối với đất đai. Văn bản này không chỉ đợc các cơ quan
Nhà nớc công nhận và bảo hộ mà còn đợc sử dụng trong chuyển nhợng, thế
chấp, đi vay vốn theo điều 728 Bộ luật dân sự (Quốc hội thông qua ngày
28/10/1995) quy định : "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền cấp theo quy định của
pháp luật về đất đai thì có quyền thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định

17


của Bộ luật này và pháp luật về đất đai" [8 ; tr 320]; còn Điều 729 quy định :
"Hộ gia đình cá nhân sử đụng dất nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng
đợc thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng Việt Nam, tại các tổ chức tín
dụng Việt Nam do Nhà nớc cho phép thành lập để vay vốn sản xuất" [8 ; tr
321].
Với quy định pháp lý nh trên, cha nói tới bình đẳng giới mà ở đây giữa
việc phân chia ruộng đất trên cơ sở lao động và nhân khẩu với việc giấy tờ hợp
pháp về ruộng đất chỉ đứng tên 1 ngời rõ ràng là cha hợp pháp.
Thực ra đối với các gia đình hoà thuận vấn đề này không có gì đáng bàn
nhng khi gia đình có bất hoà thì sẽ là điều bất lợi cho các thành viên trong gia
đình, thờng thì quyền sử dụng ruộng đất của phụ nữ bị vi phạm. Giấy chứng

9.082 chị tham gia mua loại hình bảo hiểm này.
2.3 Vai trò của hội Phụ nữ trong việc giải quyết việc làm cho lao
động nữ.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, Đại
hội Phụ nữ toàn tỉnh lần thứ XII và Đại hội Phụ nữ toàn huyện lần thứ XI Hội
LHPN huyện Thái Thụy đã phát huy tốt vai trò của mình, xứng đáng là ngời
đại diện cho quyền lợi hợp pháp và chính đáng của phụ nữ.

20


Trong những năm qua, BCH hội Phụ nữ Thái Thụy đã bám sát 3 mục tiêu
của chơng trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là : Đẩy mạnh và nâng cao
hiệu quả hoạt động hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo ; Hỗ trợ phụ nữ phát
triển kinh tế gia đình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ phụ nữ phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần tạo thêm việc làm cho phụ nữ ; đồng thời
phát triển mạng lới, nâng cao chất lợng đào tạo nghề, dịch vụ việc làm cho
phụ nữ.
Trên cơ sở những mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ các cấp đề ra, hội Phụ nữ đã phối hợp với ngành Nông nghiệp, Trung tâm
khuyến nông tỉnh mở các lớp tập huấn về chuyển giao KHKT, IPM cho cán
bộ, hội viên. Kết quả trong 2 năm (2002 - 2003) đã thu hút 383.000 lợt cán bộ,
hội viên về học. Qua tập huấn giúp chị em có kiến thức khoa học áp dụng
trong sản xuất, chăn nuôi, nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ sức lao
động cho phụ nữ, góp phần tích cực thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện
về xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/năm.
Hội Phụ nữ các cấp đã tích cực vận động chị em hởng ứng phong trào
"Phụ nữ làm kinh tế giỏi". Trong phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gơng điển
hình, nhiều chị đã vơn lên trở thành những chủ doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả. Toàn huyện đến nay có 58 chị là chủ doanh nghiệp, thu hút từ 1 - 300 lao

Góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo của huyện, xoá hẳn
hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 9,2% ; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho ngời dân lao động trong toàn huyện.
iii. một số đề xuất, kiến nghị về giải pháp
1. Đối với Đảng bộ, chính quyền địa phơng.
Cần lồng ghép vấn đề giới trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xây dựng quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của huyện. Trong các báo cáo thống kê hàng năm về kinh
tế - xã hội cần có số liệu về sự tham gia đóng góp của mỗi giới.
Có chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong kế hoạch đào tạo
nghề hàng năm. Tăng cờng sự tiếp cận của phụ nữ với các công nghệ phù hợp
với hộ gia đình kể cả công nghiệp nhẹ chế biến sau thu hoạch nhằm giúp họ
có cơ hội có việc làm, tăng thu nhập cải thiện cuộc sống.
Có biện pháp cụ thể hỗ trợ ngời nghèo đặc biệt là phụ nữ nghèo tạo cho
họ tiếp cận các cơ hội việc làm bằng cách đợc hỗ trợ, tạo điều kiện để họ đợc
học hành, trang bị kiến thức, tập huấn KHKT. Chính quyền địa phơng cần phát
triển hệ thống dịch vụ đào tạo nghề, t vấn, giới thiệu việc làm tới các xã, thôn
nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, cập nhật cùng với việc t vấn cho ngời lao
động nữ có nhu cầu tìm việc làm.
Cần thiết có chính sách u đãi đặc biệt với đối tợng phụ nữ nghèo để họ đợc tiếp cận vốn vay nh cải tiến thủ tục vay vốn, tạo cơ hội cho họ vơn lên thoát

22


nghèo. Đối với các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, chính quyền địa phơng
tạo điều kiện trong các khâu kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, vay vốn vì các doanh
nghiệp này là nơi thu hút rất lớn nguồn lao động nữ ở địa phơng.
Để phụ nữ đợc tham gia bình đẳng nh nam giới trong sử dụng đất đai
chính quyền địa phơng đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ghi tên cả vợ và chồng.

tích cực hỗ trợ giúp các doanh nghiệp do nữ làm chủ đợc vay thêm vốn phát
triển sản xuất, trang bị kiến thức quản lý doanh nghiệp.

24


Tiếp tục phối hợp với phòng Công thơng mở các lớp dạy nghề, tạo việc
làm cho phụ nữ ở các xã, thị trấn. Thực hiện đa dạng hoá các loại hình dạy
nghề truyền thống, nghề mới ở từng địa phơng. Quan tâm đẩy mạnh 3 nghề
đang có u thế là mây tre đan xuất khẩu, ơm tơ và xe tơ tằm ; khai thác và chế
biến hải sản nhằm thu hút tối đa lao động nữ học nghề, có việc làm ổn định.
Tích cực vận động nông dân đi khai hoang các vùng kinh tế mới, đi xuất
khẩu lao động.
Quan tâm đến công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Phối
hợp với Bảo Việt tổ chức vận động chị em mua Bảo hiểm thân thể.
kết luận
Ngày nay, nói đến phát triển ngời ta đề cập đến 2 yếu tố : đó là tăng trởng
kinh tế và phát triển con ngời. Phát triển con ngời phụ thuộc trớc tiên vào tình
hình sức khoẻ và giáo dục của ngời dân. Một lực lợng lao động có giáo dục,
khoẻ mạnh sẽ có khả năng đóng góp nhiều hơn cho phát triển kinh tế của đất
nớc. Đầu t cho cả phụ nữ và nam giới sẽ đạt hiệu quả cao cho gia đình và xã
hội, là yếu tố đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Phụ nữ có đóng góp to lớn vào sự phát triển của mỗi quốc gia và toàn
cầu. Phụ nữ chiếm 70% lực lợng lao động nông nghiệp và làm ra 1/2 sản lợng
nông nghiệp của thế giới. ở Việt Nam phụ nữ đang đóng góp 48% lực lợng lao
động trực tiếp của nền kinh tế quốc dân, 75% lực lợng lao động nông nghiệp.
Đầu t phát triển cho phụ nữ là đầu t một cách hiệu quả.
Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nớc trong nhiu năm
qua đã tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trởng thành của
các tầng lớp phụ nữ, tạo ra những chuyển biến tiến bộ trong họ. Đa số phụ nữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status