Lời mở đầu
Trong bất kỳ giai đoạn nào, sức mạnh của mỗi quốc gia có đợc đều là sự
tổng hợp sức mạnh của nhiều nguồn lực trong quốc gia đó, mà yếu tố quan
trọng hàng đầu là sức mạnh con ngời. Đối với Việt Nam, thực tế lịch sử đã
chứng minh vai trò hết sức quan trọng của con ngời đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội. Chính sức mạnh đó đã giúp nhân dân giành thắng lợi trong
các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giúp con ngời vợt lên sự khắc
nghiệt của thiên tai, bệnh tật. Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới thì
sức mạnh con ngời là nhân tố hàng đầu của sự phát triển. Tự do hoá thơng mại
đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển nhng cũng đặt ra nhiều thử
thách buộc chúng ta phải có sự nỗ lực cố gắng nâng cao trình độ nhận thức và
trình độ kỹ thuật chuyên môn cho ngời lao động. Do đó phải thờng xuyên
chăm lo, nâng cao chất lợng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đợc nhu cầu phát
triển của đất nớc trong thời kỳ hội nhập.
Cùng với sự phát triển của kinh tế theo xu hớng hội nhập toàn cầu, Việt
Nam đang ra sức thực hiện để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá (CNH, HĐH). Song song với việc chăm lo cải thiện mức sống dân c, nâng
cao thể chất của ngời dân nói chung và của ngời lao động nói riêng, chúng ta
phải đầu t cho giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lợng nguồn nhân lực.
Chiến lợc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đã nêu các mục tiêu cơ bản
là: Nâng cao chất lợng toàn diện con ngời Việt Nam về chính trị, đạo đức, ý
chí, tri thức, tay nghề, sức khoẻ, thể lực. Sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động
hiện có, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo. Nâng cao tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo lên gấp 2 lần hiện nay. Hình thành đội ngũ lao động có chất lợng cao,
có cơ cấu trình độ đáp ứng yêu cầu trong từng bớc đi của kế hoạch phát triển
kinh tế- xã hội trong thời kỳ 2001-2010, chuẩn bị tiền đề về nhân lực cho giai
đoạn tiếp theo.
Để nghiên cứu về thực trang nguồn nhân lực, tình trạng đào tạo và phất
triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng nh đa ra một vài
giải pháp nâng cao chất lợng đào tạo nguồn nhân lực, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu đề tài : Cơ hội và thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam
2
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá
và quốc tế hóa một cách nhanh chóng toàn diện dới sự tác động mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Các quá trình đó dẫn đến xu thế hội
nhập kinh tế của các nớc trên thế giới.
Đối với các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam thì hội nhập kinh
tế quốc tế là con đờng tốt nhất để rút nhắn tụt hậu so với các nớc khác và có
điểu kiện phát huy tối u hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân công
lao động và hợp tác quốc tế. Hội nhập kinh tế sẽ giúp chúng ta thu nhận tri
thức, khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới, tạo sức ép để các doanh
nghiệp trong nớc nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, mở rộng thị trờng
ra nớc ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển thúc đẩy kinh tế phát triển,
nâng cao chất lợng cuộc sống.
Nớc ta đã đa vào và đang triển khai mạnh mẽ công cuộc hội nhập với
khu vực và quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của
ASEAN, tham gia ngày càng sâu rộng vào các định chế kinh tế, tài chính thơng mại của ASEAN: khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA), khu vực tự do
ASEAN (AIA), là thành viên của diễn đàn hợp tác á-Âu (ASEM), diễn đàn
hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dơng (APEC), có quan hệ chặt chẽ với quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB),...Sau 11 năm kiên trì đàm
phán, cuối cùng Việt Nam cũng đã đợc kết nạp làm thành viên thứ 150 của tổ
chức thơng mại thế giới WTO vào ngày 7-11-2006. Việc Việt Nam gia nhập
WTO là một sự kiện lớn, đánh dấu một bớc tiến mới về hội nhập quốc tế của
nền kinh tế nớc nhà. Thành tựu này sẽ mang đến cho nớc ta rất nhiều cơ hội
nhng cũng không ít khó khăn và thách thức trên nhiều lĩnh vực, trong đó có
lĩnh vực lao động và việc làm. Vấn đề lao động lúc này có ý nghĩa quyết định
trong sự đi lên của quốc gia.
III. Tính tất yếu khách quan cần phải: đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực ở nớc ta trong tiến trình hội
đáp ứng đợc yêu cầu của hội nhập ngày càng đợc các nớc quan tâm trong đó
có Việt Nam. Xác định đợc vị trí của con ngời, cần phải quan tâm hơn nữa
nguồn tài nguyên đang có trong việc tạo điều kiện để con ngời phát huy tài
năng, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, nâng cao sự hiểu biết về mọi
4
mặt của đời sống kinh tế xã hội, phải phát huy một cách tốt nhất những mặt
mạnh và khắc phục đợc những mặt hạn chế để nâng cao chất lợng nguồn nhân
lực.
Từ thực tế về nguồn nhân lực của nớc ta hiện nay cho thấy: Đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu cấp bách trong tiến
trình hội nhập hiện nay ở nớc ta, là tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, chúng ta thấy đợc mức độ cấp thiết của đề
tài trong giai đoạn hiện nay.
5
Phần II. Cơ hội và thách thức đối với nguồn
nhân lực việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Sau 11 năm tính từ 1/1995 có thể nói sự kiên VN trở thành thành viên
của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) là cú huých thúc đẩy phát triển kinh
tế- xã hội phát triển. Những mục tiêu cơ bản của WTO là: Thúc đẩy tự do hóa
thơng mại hóa hàng hóa dịch vụ, thúc đẩy phát triển bền vững nhằm nâng cao
sức sống, tạo công ăn việc làm cho ngời dân các quốc gia thành viên, đảm bảo
các quyền và tiêu chuẩn lao động.
Trớc khi vào WTO, bức tranh thơng mại của Việt Nam với các nớc nhìn
chung đã tạo đợc sự kết nối khá ổn định. Với việc là thành viên thứ 150 của
WTO, hiện nay nớc ta có quan hệ với 220 quốc gia và các vùng lãnh thổ.Tổng
đợc nhu cầu phát triển kinh tế của đất nớc trong giai đoạn CNH, HĐH.
I. Thực trạng về nguồn nhân lực
1. Đặc điểm về số lợng và cơ cấu nguồn nhân lực.
Năm 2006 lực lợng lao động của cả nớc là 45277 nghìn ngời. Trong đó
nam là 23345 ngời (chiếm 51.6%), nữ là 21932 ngời (chiếm 48.44%). Lực lợng lao động phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị. Nông thôn
chiếm khoảng 75,03% lao động, thành thị chiếm khoảng 24.97% tổng số lao
động.
Bảng 1: Phân bố lao động Việt Nam theo giới tính, nhóm tuổi, khu vực
năm 2004 và 2006 (đơn vị %).
Năm
2004
2006
Giới tính
Nam
Nữ
Khu vực
Nông
Thành
Nhóm tuổi
15 đến 35 đến Trên 55
51
51.56
thôn
75.6
học THPT, trung cấp, cao đẳng, đại học và đào tạo nghề.
Theo số liệu thống kê lao động theo nhóm tuổi năm 2006, số lao động
trong nhóm tuổi từ 15 đến 34 là 20.582 nghìn ngời (45,46%), nhóm tuổi từ 35
đến 54 là 20.991 nghìn ngời (46,36%), nhóm tuổi trên 55 là 3.704 nghìn ngời
( 8,18%). Trong đó số lao động đang có việc làm tính đến ngày 1/7/2006 là
43.843 nghìn ngời, tăng 386 nghìn ngời so với năm 2005. Dự báo đến năm
2010 tổng dân số nớc ta đạt khoảng 88,3 triệu ngời trong đó lực lợng lao động
là 49,5 triệu ngời, chiếm khoảng 56%, bình quân mỗi năm giai đoạn từ 2006
đến 2010 tăng 1,1 triệu lao động ( tăng 2,5 % ), trong đó khu vực thành thị
tăng gấp 2,5 lần so với nông thôn. Đây là một thuận lợi lớn đối với Việt Nam.
Lao động dồi dào và trẻ, có trình độ văn hóa khá, lại ham học hỏi và lao
động, có khả năng tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học công nghệ mới và đặc biệt
giá nhân công thấp so với khu vực. Điều này sẽ tạo cơ hội để Việt Nam hội
nhập kinh tế thế giới.
Lao động nớc ta phân bố không đều theo ngành. Năm 2005, số lao động
trong ngành nông, lâm, ng nghịêp chiếm 57%, ngành công nghiệp và xây
dựng chiếm 18%, ngành thơng mại dịch vụ chiếm 25%.
8
Biểu 1: Phân bố lao động theo ngành năm 2005
Lao động nớc ta chủ yếu là hoạt động trong ngành nông nghiệp (lao
động chủ yếu là ở nông thôn): Tỉ lệ hộ thuần nông là 62,2%, hộ thuần nông
kiêm nghề là 26,05%, hộ phi nông nghiệp là 11,03%. Trong những năm qua,
mặc dù số lao động ở nông thôn trong ngành nông nghiệp có giảm song vẫn
còn cao 56,8% (nhng chất lợng lao động trong nông nghiệp thấp do tỉ lệ lao
động qua đào tạo thấp và chất lợng đào tạo cha đáp ứng đợc nhu cầu), tỉ lệ lao
động qua đào tạo đã tăng qua các năm (năm 2003 là 21%, năm 2004 là
22,5%, năm 2005 là 25%)nhng năng suất lao động còn thấp.
Biểu 2: Biểu đồ trình độ văn hóa của LLLĐ năm 2004 và 2005 (% )
Từ số liệu trên cho ta thấy trình độ văn hóa của lao động tốt nghiệp từ
THPT trở lên năm 2005 đã tăng từ 19.7% lên 21.23% (tăng 1.53%). Tỷ lệ lao
động mù chữ đã giảm xuống từ 5% năm 2004 xuống còn 4.04% năm 2005
(giảm 0.96%). Đây là tín hiệu đáng mừng đối với quá trình phát triển kinh tế,
xã hội Việt Nam hiện nay.
Giữa các vùng cũng có sự khác biệt về trình độ văn hóa của lao động.
Năm 2004 ở đồng bằng sông Hồng cơ cấu của LLLĐ nh sau: 27% tốt nghiệp
THPT, 51% tốt nghiệp THCS, 19% tốt nghiệp tiểu học, 3% cha tốt nghiệp tiểu
học và mù chữ; Trong khi ở đồng bằng Sông Cửu Long, các chỉ số tơng ứng là
11,16,40,33; ở Tây Bắc là: 12, 23, 30 và 35; Tây Nguyên là: 16,26,32 và 26.
Nhìn chung trình độ học vấn phổ thông của LLLĐ các vùng Tây Bắc, Tây
Nguyên và đồng bằng Sông Cửu Longcòn thấp hơn so với các vùng khác.
Nâng cao trình độ văn hóa là cơ sở để phát triển đào tạo lao động có trình độ
chuyên môn kĩ thuật cao, ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng và phát triển nguồn
nhân lực
2.2. Trình độ chuyên môn kĩ thuật (CMKT) của LLLĐ.
Trình độ chuyên môn kĩ thuật là sự hiểu biết, kiến thức và kĩ năng thực
hành về một nghề nghiệp nhất định. Để đánh giá tổng quan trình độ CMKT
của nguồn nhân lực ngời ta thờng dùng các chỉ tiêu nh:
- Tỉ lệ giữa số lao động qua đào tạo từ công nhân kĩ thuật, sơ cấp trở
lên trong nguồn nhân lực (NNL).
Cơ cấu lao động đã qua đào tạo theo cấp trình độ chuyên môn kĩ thuật
(công nhân kĩ thuật / sơ cấp, trung hoc chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở
lên) của NNL.
- Tơng quan sử dụng lao động các cấp trình độ CMKT (sơ cấp, công
nhân kĩ thuật-trung học chuyên nghiệp-cao đẳng đại học, trên đại học) trong
nền kinh tế.
chuyên nghiệp / công nhân kĩ thuật còn bất hợp lí, năm 1996 là: 1/1,7/2,4 ;
Năm 2004 là: 1/0,91/2,75. Cơ cấu này biểu hiện trên thị trờng lao động thiếu
nghiêm trọng công nhân kĩ thuật lành nghề và lành nghề cao. Điều này đòi hỏi
cần phảI có những chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kịp thời và
đúng đắn.
II. Cơ hội và thách thức đối với nguồn nhân lực của
Việt Nam trong tình hình hội nhập kinh tế.
1. Cơ hội.
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu kinh tế xã
hội to lớn. Chúng ta đã chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, duy trì tốc độ phát triển kinh
tế cao và ổn định 7- 8%/năm, kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân đợc
cải thiện và đã tạo điều kiện để con ngời học tập và phát huy đợc tài năng,
cống hiến bằng chính khả năng của mình. Thực tế cho thấy nguồn nhân lực
Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế.
Cụ thể:
- Việt Nam có một nguồn lao động trẻ dồi dào, cần cù trong lao động,
thông minh, ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh những kiến thức và
khoa học công nghệ mới để đáp ứng với những thay đổi của nền kinh tế hiện
đại. Lực lợng lao động tăng hàng năm đáng kể góp phần tạo nên cấu trúc dân
số vàng, nghĩa là số ngời trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng đông nhất
trong tổng dân số.
-Lực lợng lao động đang có xu hớng chuyển dịch theo hớng có lợi cho
quá trình CNH, HĐH. Số lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ đang
có xu hớng tăng lên, số lao động trong ngành nông, lâm, ng nghiệp đang giảm
dần. Điều này sẽ khuyến khích việc phát triển kinh tế mạnh mẽ, làm tăng sức
cạnh tranh cho ngành công nghiệp, dịch vụ trên thị trờng quốc tế.
13
chính sách xã hội tốt hơn. Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải đảm bảo sự bình
14
đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, các chủ thể trong nền kinh tế. Do vậy
tiền lơng của ngời lao động không thể áp đặt mà phải theo qui luật của thị trờng.
- Thứ ba ngời lao động Việt Nam sẽ có nhiều hơn các cơ hội để giao lu
học hỏi, đợc phân công lao động trên tầm quốc tế, đợc bình đẳng mức thu
nhập nh ngời nớc ngoài do nhu cầu của các tập doàn kinh tế.
- Thứ t, ngời lao động có cơ hội tiếp cận với máy móc, công nghệ và phơng pháp quản lý hiện đại.
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, các doanh nghiệp nớc
ngoài chắc chắn sẽ đa vào nứơc ta hàng loạt công nghệ sản xuất và phơng
pháp quản lý, cách thức điều hành tiên tiến hiện đại. Bên cạnh đó, để tiến hành
đổi mới công nghệ cùng phơng pháp quản lý và t duy quản lý. Đây là cơ hội
không nhỏ để ngời lao động có điều kiện để tiếp cận và học hỏi, làm chủ nền
khoa học hiện đại của thế giới, qua đó nâng cao kiến thức, kỹ năng và tay
nghề cho mình.
- Thứ năm, ngời lao động có cơ hội tìm đợc việc làm phù hợp thông qua
thị trờng lao động.
Nh vậy, xu thế hội nhập kinh tế thế giới có ý nghĩa rất lớn với ngời lao động Việt Nam. Đây là tín hiệu đáng mừng trong việc giải quyết công
ăn việc làm cho ngời lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp của nớc ta đẩy
nhanh sự phát triển kinh tế-xã hội.
2. Thách thức.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, nguồn nhân lực nớc ta cũng gặp
không ít những khó khăn: Lực lợng lao động của nớc ta tuy nhiều, cơ cấu lao
động tuy đã chuyển dịch theo hớng có lợi theo xu thế của thời đại nghĩa là
giảm tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, ng nghiệp, tăng số lao động trong
ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhng cho đến nay, về cơ bản, nớc ta vẫn là một
nớc nông nghiệp với 70% lao động nông thôn có trình độ sản xuất thấp kém.
Tỷ lệ lao động đợc qua đào tạo còn thấp. Cơ cấu đào tạo giữa các bậc học còn
nghèo hơn và yêu cầu tuân thủ pháp luật cũng cao hơn.
Nh vậy hội nhập kinh tế là cơ hội để lao động Việt Nam nâng cao trình
độ hiểu biết, trình độ tay nghề nhng cũng đặt ra cho ngời lao động không ít
những thách thức. Do đó cần phải có những biện pháp kịp thời để nâng cao
16
chất lợng nguồn nhân lực, đáp ứng kịp thời với tiến trình phát triển kinh tế của
đất nớc.
3. Kết luận chung.
Trong quá trình CNH, HĐH đất nớc và thực hiện chủ trơng hội nhập với
thế giới thì một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải có chiến lợc phát triển nguồn nhân lực. Về vấn đề này, ngoài việc làm giàu tài nguyên
thiên nhiên (một thành tố để phát triển kinh tế) chúng ta có một nguồn nhân
lực khá dồi dào. Tuy là một nớc đang phát triển nhng Việt Nam đợc Liên hợp
quốc đánh giá cao về chỉ số phát triển con ngời (chỉ số HDI của nớc ta đạt
0,704; xếp thứ 109 trên 177 nớc vào năm 2006, cao hơn nhiều nớc trong khu
vực, trong khi thu nhập bình quân đầu ngời chúng ta lại thấp hơn họ rất
nhiều).
Với hơn 80 triệu dân, trong đó có hơn 43 triệu lao động, Việt Nam đợc
đánh giá là một nớc có LLLĐ dồi dào và trẻ, đang trên đà phát triển với một
tinh thần ham học hỏi, cần cù, thông minh và nhiều cơ hội tiếp thu nhanh
những kiến thức mới, những khoa học công nghệ hiện đại, tận dụng đợc thời
cơ trong thời kì hội nhập. Tuy nhiên trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật
của ngời lao động còn đang trong tình trạng khó khăn. Để vững bớc trên con
đờng hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề đặt ra ở đay là làm sao để nâng cao
trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật của ngời lao động, nâng cao kĩ năng
tay nghề, tác phong làm việc cho ngời lao động. Đây đang trở thành vấn đề đợc quan tâm hàng đầu trong chiến lợc phát triển và sử dụng có hiệu quả NNL,
phát triển kinh tế đất nớc.
Phần IiI. Định hớng cho công tác đào tạo
1999
734,9
195,9
2000
795,6
250,9
2001
873
262,8
2002
908,8
371,1
2005
1078,6
551,4
Nếu năm 1995 cả nớc mới chỉ có 165,6 nghìn học sinh trung học
chuyên nghiệp thì đến năm 2002 tăng lên 317,1 nghìn (tăng 2,24 lần ), bình
quân hàng năm tăng 17,7 %. Đào tạo cao đẳng đại học cũng có xu hớng tăng,
năm 1990 mới chỉ có 129,6 nghìn sinh viên thì đến năm 1995 con số này là
297,9 nghìn ngời (tăng 2,3 lần) trung bình hằng năm trong giai đoạn 19901995 tăng 25,97%. Năm 2002 là 908,8 nghìn ngời (tăng 3,05 lần) trung bình
hằng năm tăng 29,3 %. Nh vậy, quy mô đào tạo THCN, cao đẳng, đại học và
18
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi của việc đào tạo NNL có trình độ
từ THCN trở lên thì cũng gặp không ít những khó khăn trong vấn đề này.
1.2. Khó khăn.
Những năm đổi mới, chất lợng giáo dục đại học cơ bản cũng có những
cải biến theo hớng gắn chặt với thực tế Việt Nam, phù hợp với xu thế hội nhập
của thế giới. Số sinh viên đủ năng lực tìm đợc việc làm hay tự tạo việc làm sau
khi tốt nghiệp tăng lên, trong đó có nhiều sinh viên thi lấy bằng đại học thứ 2,
học cao học, thi thêm các chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, tìm đợc những công
việc và vị trí phù hợp. Số lợng học sinh, sinh viên tuy tăng mạnh nhng chất lợng trong đào tạo nguồn lao động trình độ cao ở nớc ta còn nhiều bất cập. Số
lợng sinh viên tốt nghiệp ra trờng nhận đợc việc làm tuy có tăng nhng vẫn còn
một lợng lớn số sinh viên ra trờng không xin đợc việc. Điều này chịu ảnh hởng bởi nhiều lí do có cả khách quan và chủ quan. Một trong số những lí do
đó có liên quan đến vấn đề đào tạo trong các trờng.
Đầu tiên có thể nói đến là vấn đề hớng nghiệp cho những ngời chuẩn bị
bớc vào các trờng THCN, cao đẳng và đại học. Hiện nay có thể nói trên thị trờng Việt Nam luôn xảy ra tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực cao mặc dù số
lợng học sinh, sinh viên đợc đào tạo nghề vẫn đang tăng lên. Thị trờng đang
rất cần các chuyên gia về quản trị kinh doanh, lập trình viên, kĩ thuật viên, các
nhà quản lí trung gian hiểu biết về tài chính và tiếp thị với yêu cầu cơ bản về
20
tiếng Anh, công nhân có tay nghề cao, ham học hỏi. Trong khi đó một lợng
đông đảo các cử nhân hổng kiến thức và thiếu kinh nghiệm thực tế. Phần lớn
đội ngũ các nhà quản lý ở các doanh nghiệp Việt Nam cha đợc đào tạo chuyên
sâu về kinh tế và kinh doanh trong thị trờng. Họ có khả năng tiếp thu nhanh
nhng thiếu kiến thức đồng bộ. Điều đó giải thích vì sao doanh nghiệp của ta
thờng yếu và lúng túng khi đàm phán làm ăn với các doanh nghiệp nớc
ngoài.Tuy nhiên việc gắn đào tạo với việc sử dụng lao động và tạo việc làm hớng dẫn về ngành nghề trong những kì thi tuyển sinh hầu nh còn bị thả nổi.
Hầu hết các học sinh đều không xác định đợc ngành nghề mình định học trớc
khi chọn trờng để thi. Điều này càng phổ biến ở những gia đình nông thôn.
Bởi vì hầu hết cuộc sống ở quê của những ngời dân còn phụ thuộc nhiều vào
viên liên tục tăng nhanh thì tốc độ tăng của đội ngũ giáo viên lại chậm hơn
nhiều. Điều này cũng phần nào ảnh hởng đến vấn đề giáo dục và đào tạo NNL
chất lợng cao.
2. Đào tạo nghề.
2.1 Quy mô đào tạo nghề.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã chú trọng đến chính sách phát triển
nguồn nhân lực, đặc biệt là chính sách giáo dục đào tạo đợc đánh giá là thành
công so với một số nớc trong khu vực. Đã hình thành và phát triển hệ thống
đào tạo nguồn nhân lực từ các trờng đại học và sau đại học với các quy mô
đào tạo khác nhau. Bên cạnh đó không thể không kể đến một lợng lớn lao
động đợc đào tạo trong các cơ sở dạy nghề và đào tạo trong doanh nghiệp.
Trong năm 2006, tổng chi ngân sách nhà nớc đạt 108,4% dự toán cả năm
trong đó chi cho giáo dục, đào tạo, dạy nghề đạt 102,6%. Năm 2005 cả nớc có
gần 9 triệu ngời lao động qua đào tạo trong đó qua đào tạo nghề là gần 5,6
triệu (chiếm 62,22% ). Riêng trong năm 2005 đào tạo nghề đã tuyển mới đợc
1.207.000 học sinh tăng 52,4% so với năm 2000, trong đó đào tạo dài hạn là
230.000 ngời, tăng 76,65%. Mạnh lới các cơ sở dạy nghề đã đợc phủ khắp
toàn quóc. Tính đến tháng 12 năm 2005, cả nớc có 236 trờng dạy nghề, 404
trung tâm dạy nghề, 212 trờng THCN, cao đẳng, đại học có tổ chức dạy nghề;
trên 800 trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm giáo dục thờng xuyên, trung
tâm kĩ thuật- tổng hợp hớng nghiệp và các lớp dạy nghề. Chỉ tính riêng các trờng dạy nghề, năm 2005 đã tăng gấp 1,82 lần so với năm 1998. Đến năm
22
2006, cả nớc có 240 trờng dạy nghề, trong đó có 160 trờng công lập, 45 trờng
thuộc doanh nghiệp, 16 trờng dạy nghề ngoài công lập, 2 trờng dạy nghề vốn
đầu t nớc ngoài, 17 trờng do Bộ Quốc Phòng quản lý. Ngoài ra trên phạm vi cả
nớc còn 221 trung tâm dạy nghề, 150 trung tâm dịch vụ việc làm và nhièu
trung tâm hớng nghiệp, trung tâm giáo dục thờng xuyên có dạy nghề, 137 trờng trung học chuyên nghiệp và cao đẳng có dạy nghề. Năm 2006 đã tạo việc
làm cho 1,65 triệu ngời. Hệ thống đào tạo nghề của nớc ta có đặc điểm chính
số nghề đào tạo. Một số nghề của ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghệ
cao cha đợc các trờng quan tâm mở rộng đào tạo nh: Chế biến lơng thực, sản
xuất vật liệu mới, cơ khí chính xác.
+ Năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề: Công suất đào tạo
nghề thiết kế của trờng công lập chủ yếu là 400-1000 học sinh, trong khi đó
các trờng ngoài công lập công suất đào tạo dới 200 học sinh chiếm tỷ lệ trên
50%. Hiện nay các trờng đào tạo nghề công lập đang đào tạo quá năng lực
thiết kế, ảnh hởng tới chất lợng đào tạo; còn các trờng ngoài công lập đào tạo
cha hết năng lực có sẵn, chỉ khoảng 85% công suất thiết kế. Trong đó các trờng công lập chủ yếu là đào tạo dài hạn, chiếm tới 75% số học sinh học nghề
dài hạn hàng năm. Còn các trờng ngoài công lập lại chủ yếu tập trung đào tạo
ngắn hạn.
+ Trang thiết bị phục vụ cho đào tạo nghề: Đa số các trờng đào tạo
nghề trang thiết bị còn thiếu thốn và lạc hậu. Trong quá trình đào tạo chủ yếu
ngời học nghề chỉ đợc học về lý thuyết, số buổi đợc thực hành thực tế còn ít.
Do đó sau quá trình học nghề ra làm còn lúng túng, kỹ năng hạn chế, kiến
thức lại có hạn, cha có kinh nghiệm làm việc do đó khó khăn trong việc tìm
đợc việc làm phù hợp hoặc công việc phù hợp nhng tiền công thấp, mức sống
không đợc đảm bảo. Qua khảo sát của bộ lao động-thơng binh xã hội cho thấy
50% số trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề đợc sản xuất trớc năm 1995;
6% sản xuất trớc năm 1975; số trang thiết bị hiện đại đáp ứng tốt cho công tác
đào tạo nghề chỉ đạt 20%. Đặc biệt trang thiết bị đào tạo nghề trong các ngành
nh: hoá chất, luyện kim, sửa chữa thiết bị chính xác, in ấn lạc hậu rất nhiều so
với công nghệ ứng dụng hiện nay trên thế giới. Một bộ phận cơ sở đào tạo
nghề có trang thiết bị đào tạo, rèn luyện kỹ năng nghề lạc hậu hơn cả công
nghệ đang áp dụng trong nền kinh tế, do đó hiệu quả đào tạo và sử dụng lao
24
động sau khi đào tạo nghề rất thấp.
+ Chơng trình đào tạo nghề: Chơng trình đào tạo nghề có vai trò đặc