Lời nói đầu
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
đã, đang và sẽ trải qua những biến đổi lớn: các xí nghiệp quốc doanh tiến
hành sắp xếp lại, chuyển sang hạch toán kinh tế toàn phần, xoá bỏ tình trạng
lãi giả lỗ thật, tính toán hiệu quả thực sự để bảo đảm sự tồn tại của xí
nghiệp mình...; các bộ, các cơ quan Nhà nớc... cũng tiến hành sắp xếp lại sao
cho có hiệu quả nhất. Những sắp xếp đó là cần thiết và đơng nhiên sẽ làm
cho một số lớn cán bộ công nhân viên dôi ra, thêm vào đó tốc độ phát triển
dân số trong những năm trớc cao nên nguồn lao động hiện nay vẫn tăng
nhanh làm cho số ngời bớc vào tuổi lao động hàng năm vẫn lớn; t tởng chỉ
muốn làm việc trong khu vực Nhà nớc vẫn còn nặng nề trong mỗi ngời lao
động. Trong khi đó giải quyết việc làm, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn
lao động lại là một trong những nhiệm vụ và nội dung quan trọng nhất của
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Vì vậy giải quyết việc làm là một vấn đề hết sức khó khăn, nhất là đối
với lực lợng lao động d thừa khi cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nớc. Việc định
hớng cho một giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho ngời lao động sau
khi rời khỏi doanh nghiệp nhà nớc có vai trò hết sức quan trọng, mang tính
chất chiến lợc. Hơn nữa việc thực hiện đề tài này cũng là nhằm bớc đầu tiếp
cận với một vấn đề có ý nghĩa thiết thực mà công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội của đất nớc đang đòi hỏi ngày một cao ở nớc ta hiện nay.
Mục đích nghiên cứu đề tài
1
Một số lý luận về vấn đề lao động, việc làm, d thừa lao động và nhu
cầu việc làm của ngời lao động sau khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc.
Phân tích đề xuất một số hớng nhằm góp phần giải quyết việc làm cho
Mục Lục
Trang
Lời nói đầu
1
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài
Chơng 1
Chuyển đổi kinh tế theo hớng thị trờng với vấn đề
6
Phân công lại lao động ở Việt Nam.
1 - Tình hình lao động và việc làm ở nớc ta trong quá khứ
6
2 - Đổi mới kinh tế với vấn đề lao động, việc làm theo hớng
thị trờng
7
3 - Hiện trạng việc làm thất nghiệp ở Việt Nam
11
Chơng 3
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại
29
DNNN nhìn từ kết quả hồi qui, ớc lợng mô hình.
1 - Lao động nghỉ chờ việc không sắp xếp đợc việc làm trong
các doanh nghiệp
29
2 - Lao động nghỉ chờ việc đợc gọi trở lại làm việc
32
3 - Khả năng tìm việc làm của lao động dôi d sau khi sắp xếp
lại DNNN nhìn từ kết quả hồi qui, ớc lợng mô hình
4 - Đề xuất hớng giải quyết
35
49
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
52
53
6
quan tâm đúng mức đến xây dựng chiến lợc kinh tế - xã hội hớng vào phát
triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút đợc nhiều lao
động, dẫn đến hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng hiện có để phát
triển việc làm và tạo điều kiện để ngời lao động tự tạo việc làm cho mình và
cho ngời khác; chức năng Nhà nớc trong việc tổ chức lao động, giải quyết
việc làm cho xã hội cha đợc phát huy đầy đủ.
Từ sai lầm trên, chúng ta đã thiết kế một hệ thống chính sách và cơ
chế không hớng vào sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc
làm, dẫn đến xu hớng Nhà nớc hoá, quốc doanh hoá việc làm, hạn chế tự
do tự tạo và tự kiếm việc làm.
Hệ thống đào tạo phục vụ chủ yếu cho cơ chế bao cấp, đào tạo theo kế
hoạch Nhà nớc và phân phối chủ yếu cho khu vực Nhà nớc, đào tạo cha gắn
chặt với sản xuất, với việc làm, số đông ngời đợc đào tạo không biết làm ăn,
sản xuất kinh doanh.
Trong xã hội hình thành tâm lý phổ biến đổ xô vào biên chế Nhà nớc,
ỷ lại vào sự phân công sắp đặt của Nhà nớc, ngời lao động ít tự chịu trách
nhiệm về cuộc sống của mình, hạn chế tính sáng tạo trong tìm kiếm việc
làm. Vì vậy mà không khai thác đợc ở mức tối đa mọi tiềm năng kinh tế của
đất nớc cho sản xuất kinh doanh. Về thực chất là bóp chết thị trờng lao động,
kìm hãm sản xuất hàng hoá phát triển.
2. Đổi mới kinh tế với vấn đề lao động, việc làm theo hớng thị trờng
Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập vào Việt Nam đợc bắt đầu từ
năm 1986 với hàng loạt các chính sách nh phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, đổi mới doanh nghiệp nhà nớc, khuyến khích khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại và thu hút đầu t nớc
ngoài, các cải cách kinh tế vĩ mô nh giảm thiểu bao cấp, cải cách ngân hàng,
tách ngân hàng thơng mại khỏi ngân hàng nhà nớc vv...
trở nên bức xúc, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Do tốc độ chuyển dịch cơ
8
cấu chậm, và do đó sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch vụ còn rất chậm.
Thứ hai, đổi mới kinh tế không chỉ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và lao động giữa 3 khu vực kinh tế nh nêu trên mà đổi mới doanh
nghiệp nhà nớc (DNNN) luôn đợc đặt ở vị trí u tiên hàng đầu, liên tục diễn ra
việc cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nớc và giải quyết các vấn đề về lao động,
việc làm trong khu vực DNNN. Việc cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nớc một
mặt đòi hỏi cơ cấu lại lao động dôi d trong khu vực DNNN, mặt khác phải
chú trọng hơn đến phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới của
DNNN. Bằng việc cổ phần hoá các doanh nghiệp đã huy động đợc một
nguồn vốn lớn ngoài xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, đầu t chiều
sâu, đổi mới công nghệ, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Thứ ba, 15 năm đổi mới cũng là 15 năm thực hiện chính sách mở cửa
và hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế. Một mặt, việc mở cửa và hội
nhập đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp thu công nghệ mới,
kinh nghiệm quản lý, nâng cao trình độ tay nghề và đổi mới phong cách làm
việc cho đội ngũ lao động. Nhng đồng thời, mở cửa và hội nhập cũng là nhân
tố dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế. Hiện nay
đã có một bộ phận lao động không nhỏ khoảng 27 vạn ngời làm việc trực
tiếp trong khu vực doanh nghiệp mới và thu hút hàng chục vạn lao động khác
có liên quan tới khu vực này có công ăn việc làm. Mặt khác, hội nhập (với ý
nghĩa đầy đủ của nó là thực hiện các cam kết về cắt giảm bảo hộ thông qua
hàng rào thuế quan, tự do hoá đầu t, di chuyển lao động vv...) sẽ đặt ra những
thách thức rất lớn không chỉ với việc cơ cấu lại lao động giữa các khu vực
kinh tế và giữa các doanh nghiệp do điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và cơ cấu
xuống 20,5% năm 1997 và 18,7% năm 1999. Tỷ trọng thu từ DNNN (nếu
loại trừ thu thuế xuất nhập khẩu) so với tổng thu ngân sách giảm liên tục từ
41,5% năm 1996 xuống khoảng 39,3% năm 1999 và từ chỗ thu từ doanh
10
nghiệp nhà nớc chiếm 9,8% GDP năm 1995 xuống khoảng 7% GDP năm
1999. Nguyên nhân cơ bản của xu hớng giảm tỷ lệ thu ngân sách nhà nớc là
do tốc độ tăng trởng kinh tế nói chung và của khu vực doanh nghiệp nhà nớc
nói riêng bị sút giảm, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.
3. Hiện trạng việc làm - thất nghiệp ở Việt Nam
Số lao động có việc làm trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7 hàng năm
ngày càng tăng. Năm 1996 mới có 33.760 nghìn ngời có việc làm, đến năm
1998 đã tăng lên 35.232 nghìn ngời có việc làm và lên 36.710 nghìn ngời có
việc làm vào năm 2000, mỗi năm tăng từ 726 nghìn đến 739 nghìn ngời có
việc làm.
Năm 2001, số ngời đủ tuổi hoạt động kinh tế thờng xuyên đã lên tới
39.498 nghìn ngời, tăng nhiều so với các năm trớc đây.
Trong số những ngời có việc làm nói trên, số ngời có việc làm mới tạo
ra hàng năm tăng nhanh, từ 863 nghìn ngời mỗi năm trong giai đoạn 19911995 lên 1,2 triệu ngời mỗi năm trong giai đoạn 1996-2000; tăng trởng việc
làm bình quân là 2,9%/năm.
Cùng với tăng số ngời có việc làm, cơ cấu việc làm theo ngành cũng
thay đổi. Nếu tổng số việc làm là 100% thì các nhóm ngành nông - lâm - ng
nghiệp là 69%, xây dựng - công nghiệp là 10,9% và dịch vụ là 20,1% trong
năm 1996. Đến năm 2001 số lợng của các ngành trên là 60,5%; 14,4% và
25,1%. Nh vậy, tỉ trọng việc làm trong nông - lâm - ng nghiệp đã giảm đi
8,5% và việc làm trong công nghiệp - xây dựng - dịch vụ đã tăng lên tơng
ứng 8,5%.
Theo thành phần kinh tế, trong giai đoạn 1996-2001 mỗi năm tăng
thêm 159 nghìn ngời làm việc ở khu vực Nhà nớc, 510 nghìn ngời làm việc ở
6,85
9,09
1999
7,40
10,31
2000
6,44
7,95
2001
6,28
7,39
Nguồn: Niên giám thống kê 2001, tr47
ở nông thôn, tỉ lệ thời gian lao động đợc sử dụng của dân số hoạt động
kinh tế thờng xuyên mới đạt trên 70%. Năm cao nhất cả nớc đạt 74,37%
(2001), năm thấp nhất đạt 71,13% (1998) (Xem bảng 2). Trong số những ng-
12
Tây nguyên: 76,74
2001
74,36
Tây Nguyên: 77,16
Nguồn: Niên giám Thống kê 2001, tr48
Những tồn tại trên là do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sản xuất cha phát triển mạnh mẽ và toàn diện. ở nông thôn,
thời gian qua so với trớc đây tuy sản xuất nông nghiệp đã phát triển, tạo ra
nhiều nông sản phẩm cho sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu song nhìn chung
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chậm phát triển, cơ cấu kinh tế
chuyển đổi chậm... Vì vậy số lao động thu hút cha nhiều, cha vững chắc.
ở thành thị, tuy cơ chế, chính sách của Nhà nớc có nhiều đổi mới song
sản xuất công nghiệp thơng mại - dịch vụ cha phát triển mạnh mẽ, do khó
khăn về vốn, mặt bằng sản xuất - kinh doanh, khả năng cạnh tranh và tiêu
thụ sản phẩm còn hạn chế...Vì vậy, số lao động đợc thu hút cha nhiều.
Thứ hai, số ngời tham gia xuất khẩu cha nhiều. Số lao động xuất khẩu
hàng năm tuy đã tăng từ hơn 1 nghìn ngời năm 1991 lên 37 nghìn ngời năm
2001, song vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu của đất nớc nói chung, của ngời lao
13
động nói riêng. Nguyên nhân là do chất lợng lao động xuất khẩu cha đảm
bảo, công tác nghiên cứu, khai thác thị trờng, công tác tổ chức quản lý lao
động ở nớc ngoài còn lúng túng...
Thứ ba, về chất lợng lao động cha đáp ứng đợc nhu cầu công việc.
Chất lợng lao động tuy từng bớc đợc nâng cao, tỉ lệ lao động đợc đào tạo
sống, phục vụ cho nhu cầu trong nớc và nhu cầu xuất khẩu; tiến hành ở các
ngành công - nông nghiệp - thơng mại - dịch vụ, văn hoá - giáo dục, có thể
đòi hỏi vốn đầu t ít cũng có thể đòi hỏi vốn đầu t nhiều. Riêng trong nông
nghiệp, nông thôn phải quan tâm đến giải quyết việc làm tại chỗ.
_ Tạo việc làm phải phù hợp với trình độ, chuyên môn của ngời lao
động, song cần lu ý tính sáng tạo, đột phá tuỳ từng địa phơng.
Các biện pháp giải quyết việc làm cần toàn diện, đồng bộ về chính trị kinh tế - xã hội, về y tế, giáo dục, dân số, kế hoạch hoá gia đình cũng nh về
tài chính, tín dụng và xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuỳ từng địa phơng cụ thể, cần
xác định rõ biện pháp đột phá, mũi nhọn phải lu tâm thực hiện tốt nhất.
4.2. Một số biện pháp giải quyết việc làm cho ngời lao động
_ Cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn, nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập khắc phục hiện
tợng nông nhàn do tính thời vụ của nông nghiệp, do diện tích canh tác thấp,
năng suất thấp. Nếu thực hiện tốt các biện pháp có liên quan trớc hết là vấn
đề tiêu thụ sản phẩm và giống cây, con, đào tạo nghề cho ngời lao động...ở
nông thôn sẽ có cơ cấu kinh tế thay đổi, tăng đáng kể giá trị sản lợng nông
nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thơng mại, dịch vụ, nâng cao đời
sống vật chất cho ngời lao động.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội nh y tế - văn hoá 15
giáo dục - vệ sinh môi trờng, sử dụng nguồn nớc sạch và sản xuất theo yêu
cầu vệ sinh an toàn thực phẩm...cũng sẽ thu hút nhiều lao động, góp phần
nâng cao chất lợng cuộc sống, ổn định xã hội, giảm gia tăng dân số và nguồn
lao động, giảm hiện tợng dân nông nghiệp, nông thôn ra thành phố, khu công
nghiệp tìm việc làm một cách tự phát.
_ Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế ở thành thị. Với u thế của
mình, các doanh nghiệp Nhà nớc sẽ phát triển theo chiều rộng và chiều sâu,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát huy lợi thế cạnh tranh sử dụng
nhiều lao động có khả năng chiếm lĩnh thị trờng trong nớc về xuất khẩu của
hội nhập, cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và giải quyết
việc làm cho ngời lao động.
Chơng 2
Phát triển kinh tế và đổi mới doanh nghiệp với vấn đề d thừa
lao động trong các doanh nghiệp nhà nớc.
1. Lao động và việc làm trong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc
17
Trong 15 năm qua đã có nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề lao động,
việc làm trong DNNN đi liền với các giải pháp nhằm cơ cấu lại và đổi mới
cơ chế quản lý khu vực DNNN. Vào những năm cuối của thập kỷ 80 Nhà nớc
u tiên sử dụng các biện pháp về đổi mới cơ chế quản lý DNNN, chuyển từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng, thực hiện chính sách cắt
giảm bao cấp, trong đó quan trọng là bao cấp về việc làm, chuyển từ cơ chế
biên chế sang cơ chế tự do tuyển dụng lao động của DNNN. Chính sự
chuyển đổi này đã đem lại luồng sinh khí mới cho DNNN nhng đồng thời
cũng dẫn đến d thừa một bộ phận lao động khoảng 70 vạn ngời vào cuối thập
kỷ 80 và đầu thập kỷ 90. Do sắp xếp lại nên số lợng DNNN trong thời kỳ
1990-1998 đã giảm đi khoảng 6.600 doanh nghiệp, nhng lao động trong các
DNNN nói chung giảm không đáng kể. Nguyên dân là do cha xử lý đợc vấn
đề lao động và do không đủ nguồn tài chính để hỗ trợ trong sắp xếp lại. Cũng
vì vậy có nhiều DNNN thuộc dạng giải thể, phá sản nhng đến nay vẫn cha
giải quyết đợc.
Bên cạnh sắp xếp lại, các biện pháp cổ phần hoá DNNN và giao, bán,
khoán, kinh doanh, cho thuê DNNN đã đợc triển khai nhằm khơi dậy động
lực và hạn chế tình trạng mất việc làm, giảm gánh nặng bao cấp của Nhà nớc
lại khu vực doanh nghiệp nhà nớc, Việt Nam đã tiến hành đổi mới cơ chế
quản lý lao động trong doanh nghiệp nhà nớc, chuyển các quan hệ lao động
theo hớng thị trờng nh mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc sử
dụng lao động, xoá bỏ chế độ biên chế suốt đời, xoá bỏ dần các chế độ bao
cấp, chuyển sang chế độ hợp đồng lao động...
Theo báo cáo của 3.639 doanh nghiệp trong năm 1998 thì số lao động
không bố trí đợc việc làm ở 1946 doanh nghiệp là 92.274 ngời, chiếm
khoảng 9,1% số lao động hiện có trong các doanh nghiệp báo cáo. Các
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (vốn dới 3 tỷ đồng) có tỷ lệ lao động dôi
d rất cao, chiếm tới khoảng 15% tổng số lao động, tức gấp khoảng 2,5 lần
các doanh nghiệp có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng. Lao động nữ, lao động trẻ,
19
lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và lao động đợc đào tạo ở
trình độ trung cấp và dạy nghề cũng chịu tác động mạnh của cải cách, có tỷ
lệ dôi d cao hơn.
Ngoài số lao động dôi d thực sự DNNN không bố trí đợc việc làm còn
có lao động vẫn có việc làm nhng không thật sự cần thiết mà có thể giảm bớt
mà không ảnh hởng đến các hoạt động của doanh nghiệp. Theo các kết quả
điều tra dựa trên đánh giá của các doanh nghiệp thì số lao động không thực
sự cần thiết này bằng 9,4% tổng số lao động trong các doanh nghiệp. Số lao
động này có thể đợc coi là số lao động dôi d tiềm tàng trong các DNNN. Nếu
tính cả số lao động dôi d tiềm tàng thì tỷ lệ lao động cần giải quyết việc làm
trong DNNN là khoảng 18,5%.
Giải quyết việc làm đối với lao động trong DNNN hiện nay không chỉ
đối với lao động dôi d mà cần giải quyết căn nguyên của vấn đề lao động dôi
d, không chỉ trong khu vực DNNN mà cần tìm đến sự hỗ trợ của khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh với các cơ chế chính sách thích hợp về bảo đảm xã
hội cho số lao động chuyển dịch khỏi khu vực nhà nớc.
Tình trạng d thừa lao động trong các DNNN đợc xem xét trên hai mức
độ: D thừa lao động thực tế trong các DNNN hiện nay có tỷ lệ là 7,12%. D
thừa tiềm năng, nghĩa là nếu có cắt giảm cũng không ảnh hởng đến kết quả
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, loại này có tỷ lệ là 9,44%. Nh vậy,
d thừa lao động ở các DNNN có thể lên tới 16,5%. Hiện tại cả nớc có khoảng
1,7 triệu lao động trong các DNNN, với tỷ lệ trên số lao động d thừa của khu
vực này lên tới 280.000 ngời và còn tiếp tục gia tăng trong những năm tới.
(Nguồn số liệu của Ban cải cách và Đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc năm
2002). Trên thực tế, vấn đề d thừa lao động là hiện tợng phổ biến đối với các
nớc có nền kinh tế chuyển đổi. Từ thực tế giải quyết việc làm ở các nớc,
Ngân hàng thế giới đã sắp xếp nguyên nhân d thừa lao động theo thứ tự sau:
1) Do lao động không có khả năng đáp ứng những yêu cầu của môi trờng sản
21
xuất hiện tại; 2) Do những tác động của quá trình tái cơ cấu gây ra; 3) Do tốc
độ tiêu thụ sản phẩm chậm, quy mô ứ đọng sản phẩm lớn gây ra; 4) Do lao
động không đáp ứng đợc với yêu cầu của công nghệ mới cũng nh việc
chuyển giao công nghệ; 5) Do tình trạng sức khoẻ kém, đặc biệt là lao động
hoạt động trong các ngành công nghiệp khai khoáng. ở Việt nam, theo kết
quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ơng, đã đa ra 7
nguyên nhân dẫn đến d thừa lao động trong các DNNN, đó là do:
1. Những khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
2. Lao động không có khả năng đáp ứng công nghệ mới hoặc khó đào tạo
lại.
3. Mất cân đối giữa tuyển dụng và cho nghỉ hu hoặc sa thải.
4. Thiếu hệ thống quản lý nguồn nhân lực hiện đại.
5. Hệ thống đào tạo không đầy đủ.
6. Thiếu nhất quán giữa khuyến khích lao động và việc quy định trách
nhiệm của giám đốc.
cao nhất, sau đó là loại lao động hợp đồng dài hạn, loại lao động tuyển dụng
theo mùa vụ (dới một năm) có tỷ lệ d thừa thấp nhất. Các tỉnh phía Bắc có tỷ
lệ d thừa lao động trong loại hợp đồng vô thời hạn và dài hạn cao hơn so với
các tỉnh phía Nam.
_ Lao động nữ có tỷ lệ d thừa cao hơn lao động nam. Độ tuổi càng cao
thì tỷ lệ d thừa càng cao. Lao động không có kỹ năng hoặc cha qua đào tạo
có tỷ lệ d thừa cao hơn nhiều so với lao động có kỹ năng, đã qua đào tạo...
Với những đặc điểm trên số lao động d thừa trong quá trình sắp xếp lại
và cổ phần hoá DNNN rất khó kiếm đợc việc làm mới, làm gia tăng lực lợng
lao động không có việc làm trong xã hội. Cũng vì vậy, cùng với tình trạng d
thừa lao động, hàng loạt vấn đề xã hội sẽ nảy sinh, tạo ra những bức xúc mới
đòi hỏi phải đợc giải quyết. Nhận thức đợc vấn đề d thừa lao động là một
thực tế khách quan trong quá trình đổi mới và cải cách DNNN, Đảng và Nhà
nớc ta đã chủ động ban hành một số chính sách để giải quyết lao động d
23
thừa. Những chính sách này đợc xây dựng trên nguyên tắc: Nhà nớc, các
DNNN và ngời lao động cùng nhau giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc
d thừa lao động. Nội dung chính của những chính sách đó bao gồm:
_ Chính sách khuyến khích ngời lao động dôi d thôi việc tự nguyện,
bao gồm các quy định cụ thể: trả tiền thôi việc cho trờng hợp về hu sớm ; hạ
độ tuổi về hu cho một số ngành cùng với trả tiền thôi việc.
_ Chính sách đào tạo lại lao động khi điều chỉnh cơ cấu công việc
nhằm giúp họ tìm việc làm mới.
_ Quy định về việc tuyển dụng lao động sau khi có sáp nhập, chia
tách, cổ phần hoá hoặc đa dạng hoá các hình thức sở hữu DNNN.
Cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp nhằm giúp những ngời lao
động không có việc làm tìm việc làm mới hoặc tự tạo công việc cho mình...
Những chính sách trên đã góp phần tích cực vào việc giải quyết lao
Để giải quyết tốt cả 2 việc thừa và thiếu lao động tốt nhất là nên cử
số lao động trẻ, khoẻ có trình độ văn hoá - khoa học - kỹ thuật ở mức cần
thiết, đi đào tạo, học nghề theo từng lớp, khoá riêng biệt tuỳ theo mục tiêu
(về doanh nghiệp hay xuất khẩu lao động). Chi phí để đào tạo, học nghề tiến
hành theo nguyên tắc Nhà nớc, doanh nghiệp và ngời lao động cùng chia sẻ
kinh phí. Sau khi đào tạo, học nghề, ngời lao động sẽ trở lại DNNN đã sắp
xếp hoặc đi xuất khẩu lao động theo kết quả học tập của từng ngời.
Hai là, hỗ trợ ngời lao động dôi d tìm việc làm mới ở ngoài doanh
nghiệp cũ thuộc các thành phần kinh tế. Ngoài một bộ phận lao động trẻ,
khoẻ có trình độ văn hoá - khoá học - kỹ thuật, có khả năng tiếp thu nhanh
công việc mới thông qua việc đào tạo, bồi dỡng ở các trờng lớp, sau đó quay
trở lại doanh nghiệp hoặc xuất khẩu lao động, vẫn còn một số không nhỏ lao
động dôi d sẽ phải làm việc ở ngoài doanh nghiệp cũ, bằng những công việc
mới phù hợp hoặc không phù hợp với khả năng lao động. Để giúp đỡ ngời
25