Thực trạng điều kiện sống của các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam: phương pháp tiếp cận kinh tế học và xã hội – nhân học - Pdf 37

1.2. Thực trạng điều kiện sống
của các nhóm dân tộc thiểu số
ở Việt Nam: phương pháp
tiếp cận kinh tế học và
xã hội – nhân học
Christian Culas – CNRS, Benoît Massuyeau – AFD, Mireille
Razafindrakoto và François Roubaud – IRD-DIAL

(Nội dung gỡ băng)
François Roubaud
Sau bài giới thiệu tổng quan về thực trạng
khu vực của Jean-Luc Maurer, chúng tôi sẽ
tập trung vào trường hợp cụ thể của Việt
Nam. Tham luận sau đây là sự cộng tác giữa
các nhà kinh tế học và một nhà xã hội-nhân
học. Chúng tôi sẽ trình bày về thực trạng điều
kiện sống của các nhóm dân tộc thiểu số ở
Việt Nam, để tiếp nối với những tranh luận đa
ngành mà chúng ta đã có tại Khóa học mùa
hè Tam Đảo năm 2010 [4].
Trong phần đầu tiên của bài tham luận này,
chúng tôi sẽ phân tích tình hình kinh tế của
các nhóm dân tộc của Việt Nam trước khi

nghiên cứu các chính sách đã được triển khai.
Cuối cùng, chúng tôi sẽ chuyển sang quan
điểm xã hội-nhân học của Christian Culas.
Trước hết, tại sao lại quan tâm tới các nhóm
dân tộc thiểu số? Trong nhiều trường hợp, đó
là các nhóm bị phân biệt. Nhưng không chỉ
có họ bị phân biệt: phụ nữ, người khuyết tật,

at Risk » (Gurr, 1996), để hiểu chính xác hơn
tình hình kinh tế, xã hội và chính trị của các
dân tộc thiểu số khác nhau.
Ngoài ra, cũng phải nhấn mạnh tác động
tiêu cực của việc « phân đoạn » hoặc « phân
định » nhóm dân tộc. Rất nhiều tài liệu, chủ
yếu mang tính phân tích kinh tế, nhưng
ngoài ra cũng có các nghiên cứu thuộc về
khoa học chính trị, đã nhắc đến tác động của
sự đa dạng về thành phần dân tộc đến các
kết quả kinh tế, xã hội và chính trị của thế giới:
tăng trưởng, thu nhập, mức đầu tư công, chất
lượng các cơ quan quản lý, lòng tin, vốn xã
hội, dân chủ, xung đột, nội chiến, v.v. (Mauro,
1995; Huntington, 1996; Easterly et Levine,
1997; Alesina, Baquir et Easterly, 1997; La Porta
et alii, 1999; Alesina et alii, 2003; Fearon et
Laitin, 2003). Kết quả của các nghiên cứu này
thường có nhiều ý nghĩa: một xã hội càng bị
phân đoạn về dân tộc thì các chỉ số càng kém.
Bài viết của Easterly và Levine công bố năm
1997, « The Africa’s Growth Tragedy: Policies and
Ethnic Divisions  », cho thấy những ranh giới
được đem ra áp đặt một cách máy móc từ
thời thuộc địa đã tạo điều kiện dẫn đến sự
thất bại của châu Phi. Sau đó, nhiều nghiên
cứu khác cũng đi theo hướng này.
Các nghiên cứu này đều đặt ra nhiều câu hỏi
và gợi lên nhiều vấn đề.
Bảy tiêu chí sau đây có thể là lý tưởng để đưa ra

với những người theo trường phái tư tưởng
« Primordialistes » (Geertz, 1973) cho rằng dân
tộc vốn đã có sẵn, đó là những thực thể « vĩnh
viễn  », tồn tại bất biến kể từ khi được hình
thành. Đa số, và đây cũng là ý kiến chung của
dư luận, đều đồng ý với những người theo
trường phái tư tưởng « Constructivistes » hay
«  Instrumentalistes  » coi dân tộc là các tập
hợp, mơ hồ và phụ thuộc vào nhiều hoàn
cảnh. Biên giới giữa các nhóm dân tộc luôn
dịch chuyển và có thể thay đổi tùy theo từng
thời kỳ lịch sử. Đó có thể là kết quả của quá
trình xây dựng mang tính xã hội - chính trị, áp

Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

[ 65 ]


đặt từ bên trong hoặc bên ngoài. Các dân tộc
có thể có nhiều nhánh chân rết, điều này đặt
ra vấn đề về xác định số lượng quy mô của
từng dân tộc khi chúng ta xem xét dưới góc
độ định lượng.
Các nhóm dân tộc mang tính « nội tại », tức
là gắn kết một cách nội tại với bối cảnh kinh
tế, xã hội và chính trị: chẳng hạn, những giai
đoạn suy thoái dẫn tới xung đột về phân phối
sẽ đẩy các cá nhân tới phản ứng co cụm lại
trong cộng đồng mình, ngược lại, thời kỳ

vì mục đích chính trị hoặc tội ác, như trường
hợp của người Do Thái trong chiến tranh thế
giới thứ hai hoặc trường hợp của cuộc xung
đột giữa những người Hutus và người Tutsi ở
Rwanda, v.v. Bên phía các ý kiến « ủng hộ »:
để chống phân biệt, trước hết cần phải biết
phân biệt nằm ở đâu, có mức độ như thế nào
để từ đó hiểu được các hiện tượng đó và có
thể có biện pháp giải quyết.
Các biện pháp hiện có là gì? Các chỉ số nào
đã được sử dụng và giới hạn của chúng là gì?
Điều thú vị là chúng ta phải nhớ rằng những
chỉ số đầu tiên – và trong thời gian dài là
những chỉ số duy nhất – được đưa ra trong
cùng một thời kỳ bởi các nhà nhân học người
Nga – Atlas Narodov Mira và nhóm các nhà
nghiên cứu người Mỹ Human Relations Area
Files (HRAF) (Lebar et alii), cả hai công trình
này cùng được công bố vào năm 1964. Kể từ
đó, nhiều cơ sở dữ liệu khác cũng xuất hiện:
do các cơ quan quản lý đưa ra như CIA World
FactBooks, Encyclopedia Brittanica, Librairy of
Congress Country Studies, Ethnologue Project;
hay do các nhà nghiên cứu xây dựng như
Gurr (1996), Alesina (2002), Roeder (2002) hay
Fearon (2003). Liên quan đến các phương
pháp đo đếm, có nhiều chỉ số thống kê được
sử dụng. Chỉ số được biết đến nhiều nhất
chính là chỉ số về phân định dân tộc, chỉ số
này tính toán xác xuất của việc một cá nhân

(Fearon, 2003) và 0,1032 ở bộ thứ hai (Alesina
et alii, 2003). Như vậy, chênh lệch giữa hai chỉ
số rõ ràng là rất lớn.
Vấn đề dân tộc được xử lý như thế nào ở Việt
Nam? Xét theo quan điểm chung và chính
thức, Việt Nam lựa chọn chính sách không
phân biệt thành phần dân tộc.

1

“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân
tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có
nhau, sướng khổ có nhau, no đói giúp nhau”.
Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 1946

Ở Việt Nam, đây không phải là vấn đề phân
định mà là thực tế về việc áp dụng luật pháp.
Có 54 dân tộc được công nhận chính thức:
dân tộc Kinh hay Việt, dân tộc đa số chiếm
86% dân số; 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm 14%.
Nhóm dân tộc đông dân thứ hai, đứng sau
dân tộc Kinh, chỉ chiếm 2% dân số. Như vậy
có sự chênh lệch rất lớn về số lượng giữa dân
tộc đa số đông dân nhất và dân tộc thiểu số
đông dân nhất. Thực tế này không có ở các
khu vực khác như vùng châu Phi Nam Sahara
chẳng hạn. Cuối cùng, ở Việt Nam, các thống

kê về dân tộc được phép thực hiện. Đây cũng
là một trong số các biến của các đợt điều tra


Dân t c Kinh
Dân t c thi u s

23 885 666
1 551 230

49 708 761
10 701 340

73 594 427
12 252 570

32,5%
12,7%

T ng s

25 436 896

60 410 101

85 846 997

29,6%

Nguồn: Thống kê dân số (2009), TCTK, tính toán của các tác giả.

Một đặc điểm quan trọng của các nhóm dân
tộc ở Việt Nam chính là việc các dân tộc thiểu

0

Phân chia dân t c

Phân chia ngôn ng

Nguồn: Fearon (2003) – chỉ tính đến các nhóm chiếm 1% dân số cả nước (tại Việt Nam có 4 nhóm).

Chỉ số phân định dân tộc ở Việt Nam tương
đối thấp (0,233 theo Fearon, 2003; 0,238 theo
Alesina et alii, 2003), thấp hơn của Pháp và
nằm trong khoảng tương đương với các
nước phát triển. Nhìn chung các nước đang

phát triển có chỉ số phân định dân tộc cao
hơn, tăng nhiều hơn nên khiến người ta có
cảm giác là chỉ số cao như vậy đôi khi có thể
gây ra các vấn đề về phát triển.

[ 68 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD


1.2.1. Các nhóm dân tộc ở Việt Nam:
các con số nói lên điều gì?
Do trong các quy định ở Việt Nam không có
yếu tố về phân biệt, nên việc tìm hiểu các
hiện tượng phân biệt nếu có phải thông qua

Hình
100%

4 n biDiễn
giai đoạn 1996-2006

86%

75%

69%

54%
31%

1993

23%

1998

2002

Kinh/Hoa

61%

14%

2004

52%



[ 69 ]


Hình
Kho

5

Chênh lệch về tiêu dùng
tính theo đầu người giữa dân
i Kinh và các dân t c thi u s , 1998-2006
tộc Kinh và các dân tộc thiểu số, giai đoạn 1998-2006

ng cách tiêu dùng gi a ng

4

Nguồn: Baulch et alii (2010); điều tra VLSS và VHLSS.

Bất bình đẳng về tiêu dùng ngày càng tăng
theo thời gian. Năm 1998, mức tiêu dùng của
người Kinh cao hơn 51% so với các dân tộc
thiểu số khác, khoảng cách này tăng lên 74%

Khung

2

năm 2006. Khoảng cách còn lớn hơn nữa

cách
l cách
ch v chênh
tiêu dùng
dân tgiữa
c a s và
6 ng
Hình
đavsố cvànông
các dân
tộc giai
thiểu số
vực nông thôn,
u s tộc
khu
thôn,
o khu
n 1998-2006
các dân t c thi dân
giai đoạn 1998-2006
Tính theo %
90
80
70
60
50
40

31 %


6%
10 %
-4 %

12 %
-2 %

2004

2006
Education
Giáo d c

N i c trú (xã, huy n)

ng

Nguồn: dựa theo Baulch et alii (2010); VLSS và VHLSS, tính toán của các tác giả.

Vậy hiện trạng khoảng cách chênh lệch giữa
người Kinh và các dân tộc thiểu số khác là
như thế nào?
Năm 1998, thu nhập của người Kinh cao hơn
51% so với thu nhập của người thuộc dân
tộc thiểu số. Khoảng cách này được giải thích
một phần bởi các yếu tố đã biết như cấu trúc
hộ gia đình: số trẻ em sống phụ thuộc trong
các hộ gia đình thuộc dân tộc thiểu số nhiều
hơn trong các hộ gia đình người Kinh; trình
độ học vấn: các nhóm dân tộc thiểu số có

hình, tương tự như vậy với các đặc điểm về
dân số, v.v. Ngược lại, cũng có những điểm
xấu: khoảng cách chênh lệch trước đây có
liên quan đến tiếp cận đất đai và lợi thế thuộc
về các dân tộc thiểu số hiện đang bị giảm dần
đi. Ưu thế họ có được trong lĩnh vực này vào
năm 1998 đã trở nên gần như không đáng
kể vào năm 2006. Ngoài ra, ta có thể thấy các
dân tộc thiểu số ngày càng có xu hướng tập
trung trong các khu vực địa lý nhất định. Họ ít
cơ động và thường sống co cụm ở các vùng

Bảng

16

Dân t c

Kh me/Ch m
Thái/Tày/M

ng/Nùng

Cá t nh mi n núi phía B c
Cao nguyên trung b

Dân t c khác

T ng


i theo nhóm dân t c, 2006, khu v c nông thôn

Tiêu dùng trung v theo
4267

34,6%

2819

u ng

i

S

it

ng quan sát

5875
122

45,2%

2729

420

73,6%


đến cỡ mẫu: có 53 nhóm dân tộc thiểu số
và sẽ cần phải có các mẫu ngoài tầm mới có
thể phân biệt được từng nhóm dân tộc một

trong các điều tra thăm dò. Trong đợt điều
tra chuẩn về mức sống hộ gia đình Việt Nam
VHLSS – Việt Nam Household Living Standard
Survey, nếu tách nhỏ và sử dụng một ngưỡng
giá trị chấp nhận được, có thể thấy có 5 nhóm
dân tộc « thiểu số ». Trên cơ sở này, một mặt
chúng ta có thể quan sát thấy rằng tình hình
luôn bất lợi cho các dân tộc thiểu số, với mức
tiêu dùng thấp hơn mức trung bình, tỷ lệ
nghèo đói cao hơn – ngoại trừ cộng đồng
người gốc Hoa, được tính vào người Kinh và

[ 72 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD


nhìn chung tình hình của họ có tốt hơn. Mặt
khác, có thể nhận thấy là sự chênh lệch trong
nội bộ các nhóm dân tộc thiểu số đôi khi còn
lớn hơn mức độ chênh lệch giữa người Kinh
và người
thuộc dân
thiểu số.
Năm 2006,
Kho
ng cách
tiêutộcdùng


Cao nguyên
Khác

Nguồn: dựa theo Baulch et alii (2010); VLSS và VHLSS, tính toán của các tác giả.

Có thể thấy tình hình của các nhóm dân tộc
thiểu số không giống nhau, trừ trường hợp
ngoại lệ là dân tộc Khmer/Chăm, nhóm dân
tộc thiểu số này có mức tiêu dùng gần tiến

dần tới mức trung bình chung. Thu nhập trung
bình của các nhóm dân tộc thiểu số ngày càng
xa so với thu nhập trung bình chung và so với
mức thu nhập của người Kinh.

Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

[ 73 ]


Thù lao tBảng
công17
vi cThù
chính
theo
nhóm
dân xét
t ctheo
n m

3 352
Dao
2 218
Ê ê
79 1
G ia -rai
86 5
Ba na
74 9
Xơ-đăng
86 3
Ra-glai
57 1
C - ho
48 0
Ch m (Chàm)
47 7
G iá y
62 9
Mi n núi phía Bắc
1 110
Các dân tộc Tây Nguyên khác 1 484
Khác
28 2
T ng s
320 049

Thù lao theo tháng
% của
(1 000 VND) người Kinh

1 040
93. 8%
924 ***
83. 4%
481 ***
43. 4%
521 ***
47. 0%
564 ***
50. 9%
516 ***
46. 6%
1 060
95. 6%

Thù lao theo gi
% của
(1 000 V ND)
người Kinh
100%
5. 898
65 .8%
3,880 ***
8,566 ***
145. 2%
2,886 ***
48 .9%
3,357 ***
56 .9%
2,891 ***

46 ,9%
5, 658
95 ,9%

***, ** và *: quan sát được từ ngưỡng 1%, 5% và 10%. Không có sao có nghĩa là khác biệt về thu nhập giữa người Kinh và các nhóm khác
không quan sát được ở ngưỡng 10%.
Nguồn: Roubaud (2011); LFS 2007; TCTK.

Trong khuôn khổ những nghiên cứu chúng
tôi hợp tác thực hiện với Tổng cục Thống
kê, chúng tôi đã đưa được thêm một biến
nữa vào trong các điều tra quốc gia về việc
làm (LFS2007-2011), thực hiện với mẫu điều
tra quy mô rất lớn, đó là biến xác định các
nhóm dân tộc. Biến này trước đây chưa được
sử dụng. Vì cỡ mẫu của điều tra này rất lớn,
chúng tôi đã đạt tới mức độ chi tiết hơn rất
nhiều so với trước đây. Cụ thể, chúng tôi phân

biệt 19 nhóm dân tộc thiểu số: 16 nhóm độc
lập xếp theo danh sách phân loại chính thức
54 dân tộc và 3 nhóm ghép. Kết quả thu được
đã khẳng định phân tích ở trên. Liên quan
đến thu nhập từ lao động, tất cả các nhóm
dân tộc thiểu số, trừ người gốc Hoa, đều có
thu nhập theo tháng và theo giờ thấp hơn
thu nhập của người Kinh, người Hmong vẫn
luôn có thu nhập thấp nhất.

[ 74 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

C -ho
Ch m ( Chà m)
Gi áy
Mi n núi phía B c khác
Tây Nguyên khác
Khác
Tác ng c
nh theo t nh
. SL quan sát
R2

0. 000
- .042** *
-. 024
- .066*
-. 026
-. 050
- .046*
- .060*
-. 137
0. 004
-. 1730*
- .205*
- .195*
-. 028
-. 403***
-. 229
- .199*
0. 076
-. 033

-. 080**
-.032*
-.0419
-.044*
-. 058**
-. 167**
0. 010
-. 202**
-. 243**
-. 224**
-. 115
-.405***
-. 228
-. 190**
0. 088
-. 014
-. 091
0. 180

.
0. 009
0.01 7
0.02 8
0.01 7
0.03 3
0.02 4
0.02 7
0.08 4
0.06 0
0.09 4

-. 049
- .127*
-. 002
-. 054
-. 006
-. 064
0. 080
0. 006
-. 013
0.23 5***

.

0. 006
0. 014
0. 017
0. 011
0. 021
0. 018
0. 019
0. 050
0. 041
0. 059
0. 067
0. 068
0. 084
0. 111
0. 132
0. 059
0. 058

sẽ thấy là gần như không có có sự chênh lệch
giữa người Kinh và các dân tộc khác. Chẳng
hạn, người dân tộc di cư ra thành phố không
bị phân biệt, vì họ có hiệu suất – tính về thu
nhập từ lao động – tương đương với người
Kinh. Cho đến nay, các nghiên cứu đều thiên

sang các dân tộc thiểu số sống ở khu vực
nông thôn do đa số họ sinh sống ở khu vực
này. Mẫu điều tra ở khu vực thành phố, đô thị
cũng quá nhỏ không phù hợp cho nghiên
cứu. Từ các kết quả trên ta rút ra hai câu hỏi:
tại sao các nhóm dân tộc thiểu số lại di cư ít
như vậy? Những người thuộc dân tộc thiểu
số di cư có phải là những cá nhân đặc biệt,
không mang tính đại diện vì họ đã « được lựa
chọn »?

Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

[ 75 ]


Ch s dinh d ng tr em d i 5 tu i theo nhóm dân t c
8 Chỉ số dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo nhóm
Hình
(khu v c nông
thôn),
giainông
o thôn),


s dinh
d trngem
tr dem
i Kh
s5i theo
tu
dinh
d nhóm
ngem
tr tdân
tu i the
-me/Ch
mng tr dân
Kh - me/Ch
Ch sChdinh
d m ng
Ch ids5Ch
tudinh
d i theo
nhóm
dem
c tid5ctui 5i theo
nh
thôn),
o(khu
thôn),
o n 1998-2006
v c nông
v c nông

ng ng
Chdinh
m t dng
tr
Suy
ng ng
0% 5% 10% 15% 20%

Cao nguyên
Cao nguyên
Cao nguyên
Cao nguyên
b 2006
TrungTrung
b
Trung
b
Trung b

1998

Ch m
Ch m t ng
Cao nguyên
Cao nguyên
Trung b
Trung b

1998


Nùng
Nùng

Mi n núi phía B c khác
Mi n núi phía B c khác
Thái/ Tày/M
Thái/ Tày/M ng/
Nùng
Nùng

ng/

- me/Chta
m sẽ không tiếp tục sử
-me/Ch
m m các chỉ số, bất kể chỉ số đó Kh -me/Ch m
Khrất
Kh- me/Ch
Ở phần
nàyKhchúng
lệch

trong
-me/Chm m
Kh - me/Ch m
KhKh- me/Ch
Kh -me/Ch m
dụng khung phân tích ở trên, gồm các yếu
liên quan đến khía cạnh nào trong chất lượng
Kinh/Hoa

của người-20%
dân, chúng
ta thấy40%
có sự60%
chênh
người
2006

2006
1998

1998

2006

2006
1998

1998

T l
n tr ng theo c p h c theo nhóm dân t c
Tỷ lệthôn),
đi học 1998-2006
xét theo cấp học ở các nhóm dân tộc
Hìnhv c9nông
(khu
(nông thôn), giai đoạn 1998-2006
En %



2006

2006

200
199


Trong lĩnh vực giáo dục, kết quả cũng tương
tự: giáo dục ở Việt Nam nói chung đã cải thiện
nhưng tốc độ cải thiện ở các dân tộc thiểu số
chậm hơn so với tốc độ chung. Càng lên các
cấp học cao, khoảng cách càng rõ rệt.
Cuối cùng, tất cả các chỉ số mà chúng tôi thu
được từ các điều tra đều dẫn đến chung một
nhận xét là kể cả tách rời các chỉ số theo dân
tộc, tình hình giữa các nhóm dân tộc thiểu
số có sự khác nhau, nhưng nhìn chung, các
nhóm dân tộc thiểu số vẫn luôn kém thế hơn
so với người Kinh.
Có khoảng cách chênh lệch giữa người Kinh
và các dân tộc khác là do những đặc điểm
mà ta đã xác định được (xem ở trên) hoặc có
thể hình dung được khi những đặc điểm đó
khó đo đếm, chẳng hạn như vấn đề liên quan
đến ngôn ngữ. Việc không nói được tiếng
Kinh có thể gây ra nhiều trở ngại trong các
hoạt động chuyển đổi kinh tế, làm việc với
chính quyền, đi học ở trường, v.v. Trong một

đề được nêu, có các vấn đề như người dân
tộc thiểu số « kém văn minh hơn », « lạc hậu »,
và « vẫn còn giữ những tín ngưỡng cổ hủ, mê
tín, kiêng kị, v.v. »

Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

[ 77 ]


Bảng

19

Giá
, tháitrị, thái
v s độ
“liêm
t” theo
nhóm
dân tkhiết
c
Cáctr giá
vàkhi
hành
vi về
« liêm
»

xét theo nhóm dân tộc năm 2010

78,7%

+9,8**

+**

19,0%

30,8%

-11,8**

-**

Giàu có là quan tr ng nh t, do ó vi c nói d i, l a g t, ph t l lu t
t
c m c ích này u ch p
pháp và l m d ng ch c v
nh n
c
B5. i u gì quan tr ng h n:

3,7%

13,5%

-13,8**

-***


gia ình và b n bè c a
mình trong m i hoàn c nh, ngay c khi i u ó là vi ph m pháp lu t
B4. i u gì quan tr ng h n: giàu có hay liêm khi t?

*** mang ý nghĩa đến 1%; ** mang ý nghĩa đến 5%; * mang ý nghĩa đến 10%; n.s.: không mang ý nghĩa 10%
(1): mô hình logistic; các biến xem xét: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nơi cư trú (đô thị, nông thôn), tôn giáo, lĩnh vực nghề nghiệp.
Nguồn: Dang Giang et alii (2011); Youth Integrity Survey YIS 2010; tính toán của các tác giả.

Đi xa hơn trong vấn đề văn hóa, chúng tôi đã
thử đề cập đến các giá trị theo cách nhìn định
lượng thông qua một điều tra những người
trẻ tuổi về sự liêm khiết và tham nhũng trên
quy mô cả nước, kể cả dân tộc thiểu số (Dang
Giang et alii, 2011). Quan sát cho thấy người
dân tộc thiểu số trong một số trường hợp có
vẻ « thoải mái » hơn với các nguyên tắc đạo
đức, chuẩn mực và hiện tượng tham nhũng
trong đời thường. Chúng tôi đã có một loạt
các câu hỏi giả định và đều có chung kết quả.
Chẳng hạn, một công chức vòi tiền để thực
hiện một công việc thuộc về nhiệm vụ của

anh ta: đó có phải là hành vi không chấp nhận
được? Kết quả chúng tôi có là số lượng người
thuộc dân tộc thiểu số cho rằng đó là hành
vi không thể chấp nhận được lại ít hơn số
lượng người Kinh có cùng ý kiến này. Vậy điều
nào quan trọng hơn, giàu có hay liêm khiết?
Mặc dù đó chỉ là một nhóm thiểu số, nhưng
nhìn chung nhiều người dân tộc thiểu số hơn


B7. Ban ã t ng ph i

i di n v i v n

tham nh ng trong 12 tháng tr l i ây không?
Không có ti p xúc
T l tham nh ng
(

a.
c.

a. Chính quy n a ph ng / trung
b. C nh sát, công an
c. Trung tâm y t nhà n c
d. Trung tâm y t t nhân
e. Doanh nghi p nhà n c
f. Doanh nghi p t nhân

i có ti p xúc)

M c
khác bi t
(1)

DT Kinh

DT khác



xin m t gi y t hay gi y phép?
l nh thu c ho c
c i u tr t i c s

yt
d.
tránh m t v n
v i c nh sát
B8. B n ánh giá th nào v m c

nhóm ng

ng

36,2
45,2
44,2
40,6
50,7
54,4

47,2
43,6
30,6
48,2
35,2
52,5

-11,0

quan chính quyền ở cấp địa phương và cấp
trung ương.

Điều này sẽ có hệ quả tới một số dự án phát
triển, vì yếu tố dân tộc thực sự là một vấn đề
nếu xét dưới góc độ kết quả của các chính
sách được thực hiện. Điều quan trọng là phải
phát triển các chương trình giúp cho chính
người dân tộc thiểu số tham gia nhiều hơn
vào quá trình xây dựng chính sách, theo dõi
quá trình thực hiện và đánh giá kết quả của
các chính sách đó.

Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD

[ 79 ]


Bảng

21
Qu n l

Giai o n l a ch n d
T ch c các cu c h p

Quản lý các dự án cơ sở hạ tầng các chương trình
P135-II: thực tế của quá trình có sự tham gia của
người dân?
các d án c s h t ng: th c t c a s tham gia c a ng i dân?

trình, trong khi đó chỉ có 50% người dân thụ
hưởng dự án nói rằng có đi họp và tham gia
vào các buổi lấy ý kiến (Herrera et alii, 2009).
Hơn nữa, phân tích sâu hơn, các nghiên cứu
của Christophe Gironde và nhóm nghiên cứu
của anh (2009) cho thấy thể thức tham gia,
chẳng hạn như giơ tay đồng ý, lần lượt phát
biểu ý kiến – lãnh đạo phát biểu trước, như
vậy sẽ là rủi ro nếu có các ý kiến khác với lãnh
đạo –, tạo ra áp lực xã hội, làm hạn chế tác
động tốt của phương pháp tham gia này. Và
tất nhiên điều đó làm thay đổi kết quả những
phân tích mà chúng ta đã thực hiện đối với
các dữ liệu thô. Vì vậy, cần thiết phải vượt qua

o xã)

CT 135-II

Ngoài
CT 135-II

87

80

88
49

87

Về phía hành động của chính quyền, có thể
nói; về tổng thể, có hai loại chính sách đối với
các nhóm dân tộc thiểu số:
- Các chính sách không chỉ dành riêng cho
các dân tộc thiểu số. Thực ra là bất kỳ một
chính sách nào cũng đều có tác động tiềm
tàng tới các dân tộc thiểu số: một chính
sách phát triển nông nghiệp nông thôn
chẳng hạn, sẽ có tác động tới các dân tộc
thiểu số nếu ở vùng đó người dân tộc thiểu
số có mức độ đại diện cao – đây là trường
hợp ở Việt Nam. Có nghĩa là người dân tộc
thiểu số sẽ là những người được ưu tiên thụ

[ 80 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD


hưởng. Đơn cử ví dụ trường hợp trồng cà
phê tại các tỉnh Tây Nguyên. Sự bùng nổ
cây cà phê tại các tỉnh này đã một phần
mang đến nhiều thuận lợi cho một số dân
tộc. Ngược lại, đây cũng là thực tế điển hình,
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
ở các khu vực đô thị thì lại không mang đến
nhiều thuận lợi cho các dân tộc thiểu số.
- Cũng có những chính sách được triển khai
dành riêng cho các dân tộc thiểu số, chẳng
hạn chuyển giao hoặc tạo ra các điều kiện
thuận lợi hơn cho họ, chẳng hạn các chính
sách miễn học phí hoặc bảo hiểm miễn phí

dưới con mắt của một nhà nhân học về thực
trạng điều kiện sống hiện nay của các nhóm
dân tộc này.

1.2.2. Các chính sách nào dành cho
các dân tộc thiểu số?
Các chính sách khác nhau được thực hiện ở
Việt Nam để dành cho các nhóm dân tộc từ
giữa thế kỷ 20 không thể giới thiệu một cách
ngắn gọn trong cuốn tài liệu này. Được sự
đồng ý của các tác giả, chúng tôi xin mời các
độc giả muốn tìm hiểu thêm về các vấn đề
đặc biệt phức tạp này trong các công trình
được giới thiệu ở phần danh mục tài liệu
tham khảo ở cuối chương.

Sau thống nhất đất nước năm 1975, một dự
án tổng thể cấp quốc gia đã ra đời để xây
dựng « con người mới » xã hội chủ nghĩa. Đây
là một dự án thống nhất cả về chính trị và văn
hóa. Hai vùng tự trị ở miền Bắc được thành
lập trong những năm 1950 đã bị giải thể.
Hiến pháp năm 1981 đã làm sáng tỏ sự
không rõ ràng của Nhà nước giữa việc bảo
vệ nền văn hóa Việt Nam và tính thống nhất
về văn hóa, với việc nhắc tới sự đa dạng về
thành phần dân tộc. Ta có thể đoán là có tồn
tại những căng thẳng giữa một bên là tính
đơn nhất của nền văn hóa Việt Nam và một
bên là tính đa dạng về thành phần dân tộc

Nhìn chung, mức độ phát triển của các tỉnh
tăng lên, nhưng lại gây bất lợi cho người dân
tộc bị lấy đất và không được bố trí việc làm ở
các đồn điền trồng cà phê hay cao su. Trong
khi đó, người Kinh di cư từ đồng bằng lên lại
trở thành những người được giao quyền sử
dụng đối với mảnh đất trước đó thuộc về
người dân tộc.

Một số biện pháp không dành riêng cho các
nhóm dân tộc
Luật đất đai năm 1993 đánh dấu một thay
đổi quan trọng trong quan hệ giữa người dân
nông thôn và Nhà nước: đất đai được phân
có thời hạn cho các hộ, đất ruộng được cấp
với thời hạn 20 năm, đất rừng 50 năm, đất ở
được cấp « lâu dài » và không nói rõ thời hạn.

Khung

Các chính sách và chương trình phát triển dành cho
các nhóm dân tộc

3
Nhi u ch
Ch

u ãi dành cho ng

i dân khó kh n nh :

-

Giai o n 2 : 2006-2010

u n m 1998 (kéo dài 7 n m)

Có s tham gia c a nhi u nhà tài tr qu c t (Ngân hàng Th gi i, LHQ, v.v.)
Chu n b t t : th c hi n nhi u ho t
c bi t t i t ng c

ng n ng l c

c n có s tham gia c a ng
Ch

ng trình

ng nghiên c u và tham v n; Nh n m nh
a ph

ng, s

d ng ph

ng pháp ti p

i dân và phân c p qu n l t i các xã

c th c hi n v i trách nhi m chung c a


quản lý được giao cho Ủy ban Dân tộc miền
núi, một cơ quan có thẩm quyền ngang Bộ.
Vậy chúng ta diễn giải như thế nào về khoảng
cách giữa mục tiêu dự tính của một chương
trình tham vọng và kết quả thực sự thu được
trên thực tế? Yếu tố thường được nhắc tới
nhiều nhất là do không hiểu đặc thù của
các nhóm dân tộc. Tuy nhiên, các cơ quan
quản lý chương trình ở các cấp của Việt Nam
cũng không thực sự nắm bắt được thì làm
sao những người tiếp nhận chương trình ở
cấp địa phương có thể hiểu được tốt hơn? Sự

giao tiếp và và ngôn ngữ sử dụng trong quan
hệ giữa người dân tộc và những người trung
gian thực hiện dự án thường hay được coi là
các khó khăn. Nhưng ta cũng cần phải nhìn
một cách tương đối vì thực tế toàn bộ các tác
nhân tham gia vào chương trình là người dân
tộc thì đều có thể hiểu và giao tiếp được bằng
tiếng Kinh. Ở đây, cần phải đưa thêm vào một
khó khăn nữa đó là khó khăn về quan hệ: tùy
theo cách mà những người làm quản lý của
Nhà nước tự giới thiệu bản thân với người
dân tộc mà sự dè dặt trong giao tiếp sẽ được
thể hiện ở mức độ nào. Và từ đó dẫn tới việc
họ có dè dặt hay không trong việc tham gia
vào các chương trình có liên quan. Như vậy
đây không chỉ là vấn đề về nói hay không nói
được ngôn ngữ mà là vấn đề về lòng tin trong

độ phát triển giữa các nhóm dân tộc và dân
tộc Kinh khác biệt ở mọi cấp độ. Phần lớn các
dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, do
cộng đồng quốc tế tài trợ, nhìn chung đều
tương đối ít hiệu quả. Chúng ta sẽ thấy trong
phần 3 của bài tham luận các lý do dẫn tới
những thất bại như vậy và tại sao quan hệ
giữa Nhà nước và các nhóm dân tộc vẫn cứ
phức tạp đến thế.
Thứ nhất là có vấn đề về không hiểu biết
và không thích ứng. Nhà nước Việt Nam áp
dụng các chuẩn mực được đề ra trên quy mô
cả nước, dựa trên những chuẩn mực áp đặt
trên phạm vi quốc tế. Ở cấp độ các nhóm
dân tộc và cấp độ địa phương, ta có thể đặt
dấu hỏi về hiệu quả, ích lợi, hay sự chấp nhận
đối với những chuẩn mực đó. Tương tự, trong
nhiều dự án, người dân tộc thường cưỡng lại
và phản đối cách thức mà sự phát triển được
đem áp đặt cho họ. Những thách thức và câu
hỏi như vậy thực sự gần như không bao giờ
có thể tìm thấy trong các báo cáo đánh giá
dự án phát triển. Tuy nhiên, nhìn thấy và tìm
hiểu thái độ cưỡng lại và phản đối đó sẽ là
cần thiết để hiểu hơn tình hình thực tế tại địa
bàn dự án.

Như các bạn có thể thấy, tôi tránh sử
dụng cách gọi «  dân tộc thiểu số/minorité
ethnique » vì gọi như vậy có một ý nghĩa tư


[ 84 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD


Hình

10

« Các dân tộc thiểu số » được mô tả trên quy mô nào?

« Dân t c thi u s »

c mô t trên c p

nào?

Dân t c Kinh

Nguồn: Tác giả.

Chúng ta hãy thử mô tả các dân tộc thiểu
số trên ba cấp độ khác nhau. Theo kết quả
điều tra năm 2009, ở cấp địa phương (tỉnh
và huyện), các nhóm dân tộc lại chiếm đa
số đông hơn hẳn ở tất cả các tỉnh miền núi
và biên giới phía Bắc. Nếu lấy tình hình năm
1995, tỷ lệ người dân tộc còn cao hơn nữa, vì
đó là thời điểm trước khi có các đợt di dân lớn
của người Kinh lên các tỉnh miền núi. Như vậy,
mặc dù đã có khoảng 5 triệu người Kinh lên

[ 85 ]


Chuẩn phát triển quốc gia, chuẩn phát triển
dân tộc
Bây giờ chúng ta sẽ nói về cách đánh giá trình
độ phát triển ở các nhóm dân tộc. Các câu
hỏi đặt ra cho việc xây dựng và lựa chọn các
tiêu chí thường trong trường hợp tệ nhất là
dựa vào các tiêu chí đến từ phương Tây, tốt
hơn thì là các tiêu chí có giá trị quốc gia. Có
nghĩa là mỗi Nhà nước sẽ xây dựng các tiêu
chí riêng cho mình, trong sự thỏa thuận với
nhóm dân tộc đa số giữ vị trí thống trị và các
tiêu chí đó sẽ được áp dụng cho các nhóm
dân tộc khác. Liệu các tiêu chí đó có thực sự
áp dụng được cho các nhóm dân tộc thiểu
số, và nếu được thì hiệu quả sẽ đến đâu? Liên
quan đến vấn đề nhu cầu của bản thân người
dân tộc, một điều thú vị đáng lưu ý là Chương
trình 135 được triển khai ở các xã có trình độ
phát triển nói chung là cao: khả năng tự đảm
bảo lương thực cao, các hộ gia đình đều có xe
máy, ti vi, tủ lạnh, v.v. Các dự án thường được
thực hiện ở các vùng mà người dân đã tự lo
được cho nhu cầu tối thiểu. Vậy nhu cầu của
các nhóm dân tộc thiểu số đã được đánh giá
như thế nào và đâu là các tiêu chí đánh giá?
Các câu hỏi này vẫn còn thiếu sáng tỏ, rất mù
mờ, giống như định nghĩa về các nhóm dân

thức mà người của Nhà nước giới thiệu bản
thân mình đến dân bản. Các nhóm dân tộc
hay có liên hệ với chính quyền thì thường
có thái độ nghi ngờ, dè chừng. Như vậy, có
vấn đề trong việc lắng nghe và đàm phán
với dân bản, v.v.;
- Khoảng cách về bản sắc còn lớn hơn và khó
đánh giá hơn. Mỗi cá nhân thuộc về một
nhóm dân tộc khác nhau: ý thức về gốc
gác thuộc về gia đình mình, bản mình, xã
mình, tỉnh mình, Nhà nước mình hoặc dân
tộc mình là khác nhau. Ý thức đó được điều
chỉnh theo mối quan hệ về lòng tin và định
vị bản thân. Một điều cần lưu ý là các tiêu
chí này chưa bao giờ được nghiên cứu;
- Mức độ lòng tin cũng đặt ra vấn đề. Thông
thường, các nhóm dân tộc thường hay rất
dè chừng với những dự án phát triển và
những người thực hiện dự án. Các yếu tố
này chưa bao giờ được nhắc đến trong các
báo cáo đánh giá. Ký ức của người dân địa
phương là rất quan trọng, nếu một thôn
bản đã từng nhận một dự án có tác động
tương đối tiêu cực, chắc chắn họ sẽ rất nghi
ngờ đối với bất kỳ dự án mới nào được đưa
đến sau đó.

[ 86 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD



dân tộc không phải bị tách rời đến thế khỏi
các mạng lưới: năm 2011, sau khi giá sắn
tăng cao, nhiều thôn bản ở các tỉnh miền
núi phía Bắc đã tăng diện tích trồng sắn lên
40% so với diện tích năm 2009. Thu nhập
tăng nhiều có mối liên hệ trực tiếp với việc
người trồng biết các mạng lưới thu mua
ổn định và lâu dài của người Việt và người
Trung Quốc.

Vậy các nhóm dân tộc ứng xử như thế nào
với các dự án phát triển?
Người dân địa phương thường điều chỉnh
các dự án sao cho phù hợp với nhu cầu
của họ. Hiện nay, chúng tôi đang thực hiện
một nghiên cứu trường hợp. Đó là một xã
có 16  thôn trong đó có 7 thôn thuộc diện
nghèo, được nhận hỗ trợ từ chương trình
135. Trên thực tế, chúng tôi tìm hiểu thấy có
tới 10-12 thôn được nhận tiền hỗ trợ. Ở cấp
xã, chính quyền đã quyết định bỏ qua các
tiêu chí đưa ra trong chương trình quốc gia:
- Điều này không xuất hiện trong bất cứ một
báo cáo dự án nào: như vậy không có bằng
chứng chính thức, nhưng chúng tôi lại tìm
hiểu được qua điều tra thực địa;
- Điều đó chứng tỏ sự linh hoạt của dự án
ở cấp địa phương, nhưng sự linh hoạt này
đã không được dự trù từ trước. Ta cũng có
thể nhận thấy ở khả năng tiếp nhận dự án

trường hợp mà chúng tôi thực hiện, chúng tôi
đã đến các bản người Hmong cùng với một
điều tra viên nói tiếng Kinh và một điều tra
viên nói tiếng Hmong. Chúng tôi nhận thấy
là, hay xảy ra trường hợp những người nói
tiếng Hmong vờ không biết nói tiếng Kinh và
không nói chuyện với điều tra viên nói tiếng
Kinh. Ngược lại, họ cởi mở hơn rất nhiều với
điều tra viên nói cùng ngôn ngữ với họ. Thực
tế, những người Hmong mà chúng tôi phỏng
vấn đều nói được tiếng Kinh nhưng trong
một số trường hợp họ không chịu nói tiếng
Kinh. Tức là họ lựa chọn thái độ không giao
tiếp, không hợp tác, ở đây không phải là vấn
đề rào cản ngôn ngữ.
Ngoài ra, ở các bản, những người được thụ
hưởng không bao giờ nói « không » với một
dự án mặc dù họ biết là dự án không mang
lại ích lợi gì nhiều. Họ chấp nhận dự án rồi sau
đó điều chỉnh thay đổi nó hoặc là chấp nhận
rồi bỏ đó, không hợp tác.
Nhà nước can thiệp rất nhiều vào các nhóm
dân tộc kể cả trong lĩnh vực văn hóa như
quyền tự do bày tỏ hay ngay cả thời gian tổ
chức đám cưới, đám tang. Lấy một ví dụ điển
hình: nhiều dân tộc ở miền Bắc theo đạo Lão.
Trước đây, khi có phong trào bài trừ tôn giáo
và mê tín dị đoan, người của chính quyền
đến các thôn bản để đốt sách về các tục lệ
của thôn bản. Sau 30 năm, cũng chính những

mặt trận tổ quốc hoặc chủ tịch xã, những
người này có cái nhìn mang tính hành
chính của người có quyền nên thường
hay đưa ra các câu trả lời mang tính đồng
thuận, được chấp nhận hơn là các câu trả
lời có ý nghĩa mô tả thực tiễn địa phương.
Ngược lại, trong các báo cáo phát triển, rất
hiếm khi có ý kiến của những « nông dân
bình thường »;
- Cũng cần phải bỏ qua những diễn giải dài
dòng về « phương pháp tiếp cận tham gia»
vốn chỉ quan tâm đến các tác nhân địa
phương một khi dự án đã được hoàn tất
trên giấy tờ và được nhận tiền từ các nhà tài
trợ, tức là khi mà dự án không thể thay đổi
được nữa;

[ 88 ] Tháng 07 năm 2012 / Khóa học Tam Đảo 2011 / © AFD



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status