Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 37

Trang 1

MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài

Trang 2

Vì vậy, để đạt được mục tiêu của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
là “phát triển bền vững”, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra là nghiên cứu
và phân tích các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động thanh toán quốc tế và tìm ra

Trong xu hướng quốc tế hoá mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế

các giải pháp để quản trị, hạn chế tối đa các rủi ro trong hoạt động TTQT. Xuất phát

Việt Nam đang dần từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. Để quá

từ thực tế đó và với mong muốn tìm ra những hướng mới cho vấn đề quản trị rủi ro

trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thành công, Đảng và nhà nước ta đã

trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường quản

rất chú trọng phát triển hoạt động kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương. Chỉ có

trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát

thông qua các hoạt động kinh tế quốc tế, chúng ta mới có thể phát huy được tiềm

triển Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.


phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro nên hoạt động TTQT tại Ngân hàng Đầu Tư và
Phát Triển Việt Nam vẫn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề rủi ro trong
TTQT, một vấn đề gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ về tài sản vật chất mà cả uy
tín trên trường quốc tế của ngân hàng. Bên cạnh đó những lý luận về quản trị rủi ro

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Các rủi ro TTQT và hoạt động quản trị rủi ro TTQT tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam
- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng hoạt động TTQT và quản trị rủi ro TTQT
của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2010
4. Phương pháp thực hiện

trong lĩnh vực thanh toán quốc tế vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu

- Luận văn sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, diễn giải,

nghiên cứu, phòng ngừa và hạn chế rủi ro ngày càng cao của các ngân hàng cũng

quy nạp, so sánh trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

như doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.

Việt Nam để nghiên cứu


Trang 3

Trang 4

- Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình


nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi và có hiệu quả để hoạt động TTQT

chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan [2].

của Ngân hàng ngày càng phát triển bền vững.

1.1.1.2. Bản chất hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM

6. Kết cấu của luận văn:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh
toán quốc tế

Nghiệp vụ thanh toán quốc tế chỉ được tiến hành trong những điều kiện và
môi trường kinh doanh nhất định.
 Nghiệp vụ TTQT vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT.
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ giữa

- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2006-2010
- Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh toán
quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

các bên phải được giải quyết và quy định thành những điều kiện gọi là điều kiện
TTQT: điều kiện về tiền tệ, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện
về phương thức thanh toán. Các điều kiện trên khi được vận dụng một cách hợp lý
sẽ đạt được hiệu quả về kinh tế, tránh được những rủi ro, tổn thất cho các bên áp
dụng.
 Nghiệp vụ TTQT giữ mối quan hệ mật thiết với các nghiệp vụ Ngân hàng
quốc tế quan trọng khác.


ngoại hối của mỗi quốc gia. Đồng thời việc tổ chức, quản lý và thực hiện nghiệp vụ

lưỡng bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi ro. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn

TTQT phải dựa trên cơ sở các luật lệ, tập quán quốc gia, các quy ước quốc tế, hiệp

nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện

định thương mại giữa các nước. Do vậy ở mỗi giai đoạn lịch sử, sự phát triển kinh

thực hiện quản lý có hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính

tế thế giới nói chung, của mỗi quốc gia nói riêng, hoạt động TTQT cũng mang sắc

sách kinh tế đối ngoại mà nhà nước đề ra.
- TTQT làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo lãnh cho

thái và đặc trưng riêng.
1.1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế

khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương

1.1.2.1. Đối với nền kinh tế

mại sẽ có quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nước ngoài. Mối quan hệ này dựa

Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động

trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối


xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh ngoại tệ, bảo
lãnh và các dịch vụ khác.

ngoài.
- Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không đủ khả

- TTQT đem lại khoản thu phí dịch vụ quan trọng, giúp cho ngân hàng thu

năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để thanh toán

hút thêm khách hàng về giao dịch, từ đó tăng quy mô hoạt động và thị phần trên thị

hàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu, đáp ứng nhu

trường.

cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Qua việc thực hiện thanh toán quốc


Trang 7

tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xuất
nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng và những điều chỉnh về chiến lược
khách hàng.
1.1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế

Trang 8

1.1.3.2. Phương thức ứng trước

Từ khái niệm cho thấy phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán
đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán với
nhau thông qua dịch vụ ngân hàng, ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thực
hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm của người mua, chỉ có trách nhiệm chuyển đúng
số tiền cần chuyển một cách khẩn trương, an toàn đến đúng địa chỉ theo yêu cầu khi
nhận được lệnh chuyển tiền, ngoài ta không bị rằng buộc gì.
Trong phương thức chuyển tiền, việc có trả tiền hay không phụ thuộc vào
thiện chí của người nhập khẩu. Người nhập khẩu sau khi nhận hàng có thể không
tiến hành chuyển tiền, hoặc cố tình kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng
vốn của người xuất khẩu, do đó, làm cho quyền lợi của người xuất khẩu không

 Đặc điểm
Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ tiền
cho người xuất khẩu, ngân hàng không có bất cứ trách nhiệm nào đối với việc trả
tiền của người mua. Dựa trên cơ sở giấy ủy thác và bộ chứng từ của người bán,
ngân hàng tiến hành thu hộ tiền, ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra chứng
từ và không liên quan gì đến việc ủy thác đó có được người mua chấp nhận trả tiền
hay không.
 Phân loại: Có hai loại nhờ thu:
* Nhờ thu phiếu trơn: là nhờ thu theo chứng từ tài chính không kèm theo chứng
từ thương mại, trong đó nhà xuất khẩu nhờ ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn
cứ vào hối phiếu do mình lập ra mà không kèm theo điều kiện nào cả, còn chứng từ
gửi hàng sẽ được gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.

được bảo đảm. Chính vì nhược điểm này mà trong ngoại thương phương thức

* Nhờ thu kèm chứng từ: là loại nhờ thu có kèm chứng từ thương mại, trong đó

chuyển tiền thường chỉ được áp dụng trong các trường hợp hai bên mua bán có uy


 Khái niệm

đã nhận được hàng hóa hay chưa, hàng hóa có đúng quy cách hay không.

Tín dụng chứng từ hay còn gọi là thư tín dụng (L/C) là phương thức thanh

1.1.3.5. Phương thức bồi hoàn bằng điện:

toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức

Hình thức này cũng buộc người mua mở L/C như bình thường, khi người

thư, gọi là L/C (Letter of Credit –L/C), trong đó ngân hàng phát hành cam kết trả

bán xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo, ngân hàng sẽ kiểm tra, nếu

tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân

thấy bộ chứng từ phù hợp với L/C thì sẽ trả tiền ngay cho người bán. Người xuất

hàng phát hành bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản

khẩu sẽ nhận được tiền hàng sớm, chỉ độ vài ngày. Sau đó ngân hàng thông báo sẽ

quy định trong L/C [2].

chuyển chứng từ cho ngân hàng mở L/C và ngân hàng này sẽ hoàn tiền bằng điện

Các loại chứng từ chủ yếu thường được quy định trong L/C:Hóa đơn thương


đưa ra khái niệm tương tự như “ Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát hư hại” hay “
Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc
chắn”…
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tác giả Hồ Diệu cho rằng “ Rủi ro là sự
tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
hoặc “ Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp”….
Qua khái niệm về rủi ro, chúng ta thấy rủi ro có ba tính chất quan trọng:


Trang 11

Một là: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra. Đó là những sự kiện mà người ta
không lường trước một cách chắc chắn.
Hai là: Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất, một khi rủi ro đã xảy ra là để lại
hậu quả cho con người, mặc dù nó có thể nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng

Trang 12

phát từ sự tác động tương hỗ thuộc về kinh tế, chính trị, xã hội. Nó có thể bao gồm
nhiều loại rủi ro như: nạn thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, lạm phát, chiến
tranh, xung đột chính trị, động đất, núi lửa phun, bão, lụt..
* Rủi ro riêng biệt: Là những rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách

Ba là: Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi. Thông thường mọi người đều mong

quan của từng cá nhân, tổ chức. Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng

muốn những sự kiện may mắn, tốt đẹp sẽ đến với mình cho nên rủi ro là sự kiện

* Rủi ro suy đoán (còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ) là rủi ro mà
trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất. Đây
là loại rủi ro luôn gắn liền với khả năng thất bại trong hoạt động kinh doanh, đầu tư,
đầu cơ.
* Rủi ro thuần túy (còn được gọi là rủi ro thuần): Là những rủi ro chỉ có thể dẫn
đến những thiệt hại mất mát mà không có cơ hội kiếm lời. Rủi ro loại này có
nguyên nhân từ những đe dọa, nguy hiểm luôn rình rập như những hiện tượng tự
nhiên bất lợi hoặc những hành động sơ ý, bất cẩn của con người hoặc là những hành
động xấu của người khác gây ra…và nó làm phát sinh một khoản chi phí (để bù đắp
thiệt hại).
 Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro
* Rủi ro cơ bản: Là những rủi ro sinh ra từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm
soát của con người. Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường,
có ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn bộ xã hội. Hầu hết các rủi ro cơ bản đều xuất

các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian..) hoặc những nhân tố khách quan
khác gây nên [5].
1.2.2.2. Phân loại rủi ro thanh toán quốc tế theo nguyên nhân
Rủi ro trong TTQT của các NHTM có thể được phân loại theo nguyên nhân
phát sinh rủi ro:
 Rủi ro do tác nghiệp
- Khái niệm: Rủi ro trong hoạt động TTQT là những rủi ro xảy ra ngay trong
quá trình thao tác nghiệp vụ TTQT.
- Nguyên nhân: Rủi ro này mang tính chất chủ quan, nó do trình độ, năng lực xử
lý tình huống của cán bộ TTQT của NHTM.
+ Ngân hàng chuyển tiền: Do nhận chuyển tiền cho những hợp đồng thanh toán
vi phạm chế độ quản lý hạn ngạch nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại hối, những hợp
đồng thanh toán không có thật được lập để lợi dụng hoạt động phi pháp..



ngân hàng nước ngoài.

Ngân hàng xác nhận : Bằng việc gắn thêm các cam kết thanh toán theo thư tín

+ Sự phối hợp giữa thực hiện nghiệp vụ TTQT và những dịch vụ cung ứng tín

dụng khi ngân hàng phát hành không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán

dụng của cán bộ, đó là các vấn đề về điều kiện thanh toán, sửa đổi L/C, ký hậu và

cho ngân hàng thì có rủi ro xảy ra như rủi ro thương mại của ngân hàng phát hành,

bảo lãnh vận đơn nhận hàng…

họ không có khả năng thanh toán, rủi ro do kiểm tra bộ chứng từ

Nguyên nhân khách quan: Đối tác của nhà nhập khẩu không thực hiện hợp

Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo L/C sẽ không có bất cứ một cam

đồng đúng, đủ, kịp thời về hàng hóa và điều kiện thanh toán làm phá vỡ kế hoạch

kết nào khi thông báo thư tín dụng nhưng việc xác thực một thư tín dụng hay sửa

tiêu thụ, kế hoạch sản xuất – kinh doanh của nhà nhập khẩu, hàng hóa bị mất mát,

đổi thư tín dụng qua các khóa mật hoặc kiểm tra cẩn thận vể tính chân thật của nó sẽ

hàng kém phẩm chất phát sinh trong quá trình vận chuyển, đối tác không có khả


- Khái niệm: Rủi ro tín dụng xảy ra khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng để

của nhà xuất khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ

thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế theo những điều kiện thanh toán đã

tăng (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng

thỏa thuận với đối tác nước ngoài.

ngoại tệ sẽ được ít đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho

- Nguyên nhân: Rủi ro tín dụng gây ra cho các ngân hàng xuất phát từ các
nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.

kinh doanh xuất khẩu có thể bị thua lỗ. Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh
hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục vụ
sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.


Trang 15

Trang 16

+ Đối với nhà nhập khẩu: khi tỷ giá hối đoái biến động tăng (giá cả đồng nội tệ

- Nguyên nhân chủ quan: Ngân hàng tiếp nhận và xử lý thông tin sai lệch với

so với đồng ngoại tệ giảm) sẽ bất lợi cho nhà nhập khẩu vì họ mua ngoại tệ thanh


quốc gia khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu

+ Bên bán: Thực hiện các hoạt động mua bán lòng vòng thông qua môi giới để

không nhận được hàng hóa. Vì vậy loại rủi ro này là do những nguyên nhân khách

lừa đảo người mua thanh toán nhưng không có hàng hoặc để tiêu thụ những hàng

quan gây nên:

hóa rởm, kém phẩm chất.

+ Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước
+ Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản do

+ Cả hai bên mua và bán cấu kết lập bộ chứng từ giả mạo để được thanh toán
theo phương thức L/C. Các hợp đồng ma được thiết lập để thanh toán qua ngân

những món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hai

hàng từ nước này sang nước khác của bọn tội phạm thực hiện rửa tiền. Ngoài ra các

nước có quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định

hành vi lừa đảo trong thanh toán séc du lịch, thẻ tín dụng cũng gia tăng.

thương mại bị hủy bỏ giữa chừng.
+ Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính –
tiền tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán.
+ Xảy ra những thiên tai lớn, nghiêm trọng như động đất, núi lửa, bão lụt…


toán để người mua nhập hàng, khi hàng về không đúng phẩm chất, quy cách,

qua Ngân hàng giữ hộ hồ sơ hàng hóa mới chỉ đảm bảo được quyền sở hữu hàng

thương vụ thua lỗ, người mua mất khả năng thanh toán, gây tổn thất cho ngân hàng

hóa của mình, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có

không thu được nợ.

thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hàng hóa (không cần nhận

 Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán: Khi ngân hàng cho vay thu
mua, sản xuất hàng xuất khẩu, người bán không thu hồi được tiền, ảnh hưởng đến
việc thu hồi nợ của Ngân hàng.

hàng), không thanh toán khi giá cả trên thị trường biến động dẫn đến bất lợi cho
người bán trong việc giải tỏa hàng hóa và gặp rủi ro trong tiêu thụ hàng hóa.
 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu

Rủi ro xảy đến với Ngân hàng trong phương thức thanh toán bằng chuyển

Trong phương thức nhờ thu, người mua do quy định họ phải có trách nhiệm

tiền cũng có thể do công nghệ thanh toán lạc hậu, chất lượng đường truyền kém dẫn

trả tiền ngay hoặc chấp nhận hối phiếu trước khi nhận hàng vì vậy không có điều

đến việc chuyển sai hoặc chuyển nhầm số tiền cần thanh toán. Bên cạnh đó, rủi ro

Người bán có thể phải chịu chi phí quản lý, chi phí lưu kho…..
1.2.3.3. Rủi ro trong phương thức nhờ thu
 Rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu

thụ hưởng khi người thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với
các điều kiện và điều khản của L/C, do đó khi người mua không thanh toán hay
không muốn thanh toán L/C thì lúc này Ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro. Rủi ro này
không thuộc về mối quan hệ tín dụng, vậy nên khi Ngân hàng nhận được thư yêu
cầu mở L/C, Ngân hàng cần xem xét kỹ tình hình tài chính của khách hàng để có
thể có các phán quyết chính xác trước khi mở L/C.
 Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

- Đối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu trơn không đảm bảo quyền lợi

Đối với ngân hàng thông báo L/C cần thiết phải xác định tình trạng mã khóa

cho bên bán (thanh toán không bình đẳng) giữa sự trả tiền và nhận hàng tách rời,

của Ngân hàng phát hành L/C, nếu không xác định được điều này phải nêu rõ trong

không có sự ràng buộc lẫn nhau. Người mua có thể nhận hàng mà không chịu trả

thông báo L/C cho người xuất khẩu và nói rõ không chịu trách nhiệm về tính xác

tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền.

thực của L/C này, nếu trong việc này Ngân hàng thông báo không cẩn trọng sẽ dẫn
đến rủi ro cho Ngân hàng thông báo và người xuất khẩu.



thành những cơ hội thành công [11] .

 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu
Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ nên nhà nhập khẩu buộc phải
thanh toán bất kể hàng hóa tốt hay xấu, rủi ro thuộc về phía người mua nếu người
bán cố ý lập các chứng từ hàng hóa giả mạo, người mua sẽ phải gánh chịu những
thiệt hại do lừa đảo từ phía người bán.
 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu: Chi phí cao, đôi khi không đáp ứng được
những quy định của L/C nên việc thanh toán có thể bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối
thanh toán.

Quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là:
- Dự kiến trước với chi phí nhỏ nhất các nguồn lực tài chính cần thiết trong
trường hợp có rủi ro xảy ra.
- Kiểm soát các rủi ro bằng cách loại bỏ, giảm nguy cơ hoặc di chuyển một cách
hợp lý rủi ro cho các đối tác kinh tế.
- Đo lường những hậu quả của rủi ro gây ra và dự kiến các biện pháp tổ chức
nhằm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại về người và của đối với ngân hàng.
Như vậy, quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT thực chất là những biện pháp

1.2.3.5. Rủi ro trong phương thức bồi hoàn bằng điện

mang tính chủ động nhằm phát hiện, phòng ngừa, loại bớt, khoanh lại rủi ro để giảm

 Rủi ro lớn đến ngân hàng

nhẹ tổn thất trên cơ sở tính toán và so sánh với chi phí quản trị rủi ro.

Tuy phương thức này có bắt buộc mở L/C tức là đã có sự đứng ra bắt đầu
của ngân hàng tuy nhiên một rủi ro không thể tránh khỏi đó là việc ngân hàng thông

* Nghiên cứu nguồn rủi ro từ hoạt động thanh toán quốc tế
Trong quá trình tiến hành các hoạt động thanh toán thông thường các ngân
hàng phải đối mặt với các nguồn rủi ro sau đây:
- Rủi ro phát sinh từ phía khách hàng


Trang 21

Trang 22

- Rủi ro phát sinh từ phía ngân hàng

cách chủ động và hiệu quả. Đo lường và phân tích rủi ro trong hoạt động thanh toán

* Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

quốc tế phải đạt được hai yếu tố cơ bản:

Đối tượng gặp rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế chính là tài sản, tiền
bạc, con người, mất đi cơ hội của các bên ngân hàng tham gia vào hoạt động thanh

+ Tính mức độ hay xác suất gặp phải rủi ro
+ Dự đoán mức độ tổn thất nếu rủi ro xảy ra

toán và của những cá nhân tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu tiến hành thanh
toán qua ngân hàng.
* Lập bảng danh mục rủi ro

Mục đích của việc đo lường rủi ro để giúp cho các cấp điều hành chỉ đạo,
khắc phục kịp thời các tồn tại, đối phó với các rủi ro tiềm ẩn, từ đó giảm thiểu rủi

Nhận biết và xác định rủi ro đòi hỏi cán bộ không những phải có trình độ
chuyên môn, tinh thần trách nhiệm mà còn cần có kinh nghiệm và sự thận trọng cần
thiết để tập hợp được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng theo các
tiêu thức khác nhau.
1.3.2.2. Đo lường rủi ro, tổn thất trong hoạt động thanh toán quốc tế
Đo lường rủi ro là tính toán, dự đoán mức độ rủi ro mà ngân hàng đang đối
mặt và mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra.
Phân tích và đo lường rủi ro là điều mà tất cả các nhà quản trị ngân hàng đều
rất quan tâm, vì đo lường chính xác chính là cơ sở cho các quyết định lựa chọn danh
mục tài sản cũng như các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và chấp nhận rủi ro một

Giám sát rủi ro trong thanh toán quốc tế là thực hiện:
+ Giám sát hàng ngày các hoạt động thanh toán có rủi ro và giá trị cao để kiểm
tra tính tuân thủ với các chính sách và chỉ thị của ngân hàng.
+ Trao đổi thông tin giữa các bộ phận quản lý rủi ro và ban lãnh đạo để thu thập
ý kiến phản hồi về các chiến lược quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh quốc tế.
+ Đảm bảo các hạn mức rủi ro không bị vượt quá.
+ Đánh giá các tổn thất tín dụng tiềm tàng và lập đủ dự phòng ngay từ giai đoạn
đầu
1.3.2.4. Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế
Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là
các biện pháp kỹ thuật, công cụ cố gắng né tránh, đề phòng, hạn chế hay nói cách
khác là kiểm soát tần suất, độ lớn của những tổn thất và những ảnh hưởng không
mong đợi khác của rủi ro.
Để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế có thể lựa chọn một
số phương pháp sau đây:


Trang 23


đến bất cứ khi nào.
 Năng lực của các nhà quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế
Năng lực của các nhà quản trị được coi là nhân tố quan trọng nhất quyết định

+ Chuyển giao rủi ro bằng mua bảo hiểm

đến năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại. Năng lực của nhà quản

+ Áp dụng điều khoản chia sẻ rủi ro

trị bao gồm từ nhận thức và quan điểm cho đến khả năng chuyên môn của ban lãnh

+ Đa dạng các đồng tiền

đạo, của đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro. Một số nhà lãnh đạo lại luôn “chạy trốn rủi

+ Ứng dụng công nghệ tin học trong các giao dịch của ngân hàng

ro” bởi cho rằng như thế mới là an toàn cho hoạt động của ngân hàng và không bị

1.3.2.5. Báo cáo và đánh giá về hoạt động quản trị rủi ro

cơ quan cấp trên “trách phạt”. Nhận thức và quan điểm đúng đắn của ban lãnh đạo

Đây là bước mang tính chất tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm sau

ngân hàng là yếu tố tiên quyết để nâng cao năng lực quản trị rủi ro.

mỗi giai đoạn hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng. Trên cơ sở xác định tổn


thiết bị cần thiết và các phần mềm tương ứng, việc áp dụng các mô hình định lượng
để ra quyết định sẽ không thể thực hiện. Ngoài ra, công nghệ hiện đại còn góp phần
làm tăng tính thông suốt của hệ thống thông tin trong nội bộ ngân hàng và kết nối
ngân hàng với thị trường tài chính trong nước và quốc tế, cho phép thực hiện các
nghiệp vụ giao dịch kinh doanh và phòng chống rủi ro một cách hiệu quả nhất.


Trang 25

1.3.3.2. Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong hoạt
động thanh toán quốc tế ở các NHTM.
Nhận thức của khách hàng
Nhận thức của khách hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế. Bởi lẽ những suy tính và hành vi
giao dịch của khách hàng góp phần nhất định vào rủi ro, chia sẻ rủi ro và đặc biệt là

Trang 26

1.3.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động
thanh toán quốc tế ở các NHTM
1.3.4.1. Xuất phát từ hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại
Uy tín của ngân hàng suy giảm đáng kể
Khi phát sinh rủi ro thì uy tín của Ngân hàng bị suy giảm đáng kể. Cụ thể:

hành vi phản ứng của khách hàng khi rủi ro xảy đến. Ở những nước có trình độ

- Uy tín giữa Ngân hàng với các ngân hàng khác: Khi phát sinh rủi ro uy tín của

nhận thức cao, thị trường tài chính phát triển các hoạt động quản trị rủi ro không chỉ


- Uy tín của ngân hàng với khách hàng trong nước: Khi phát sinh rủi ro thì các

các điều kiện về chất lượng hàng hóa, các tiêu chuẩn về kỹ thuật an toàn vệ sinh

khách hàng trong nước sẽ chuyển thanh toán và mở L/C sang một Ngân hàng có uy

thực phẩm…hoặc đơn giản là do môi trường pháp lý, nền kinh tế của một quốc gia

tín hơn, bên cạnh đó các khách hàng không chỉ hạn chế giao dịch các nghiệp vụ

chưa ổn định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên đối tác không dự đoán

quốc tế với Ngân hàng mà còn có xu hướng giảm sút và có thể rút tất cả các giao

trước được, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.

dịch với Ngân hàng để phòng tránh rủi ro cho chính mình.

Sự biến động của thị trường tài chính trong nước và quốc tế
Sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và tiền tệ liên ngân hàng nói
riêng là yếu tố quan trọng thứ hai đối với việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro của
ngân hàng thương mại. Những hoạt động của thị trường tiền tệ ngày nay trở thành
điều kiện sống còn của các ngân hàng thương mại bởi lẽ thị trường này không chỉ là
cơ sở hình thành lãi suất, tỷ giá mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu về khả năng thanh
toán và thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ phái sinh để phòng chống rủi ro. Giống như
điều kiện về môi trường pháp lý, nếu thị trường tiền tệ liên ngân hàng không phát
triển, năng lực quản trị rủi ro sẽ không hoàn toàn có ý nghĩa.

Thiệt hại về kinh tế:


bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính mỗi quốc gia, mỗi khu vực và trên toàn cầu.

Do vậy, quản trị rủi ro tốt là điều kiện bảo đảm cho hiệu quả kinh doanh của ngân

Kết luận chương I: Qua phần trình bày ở chương I phần nào đã hệ thống hóa

hàng và nhờ vào hiệu quả kinh doanh cao, ngân hàng có điều kiện chú trọng và

được một số vấn đề lý luận về hoạt động thanh toán quốc tế và các rủi ro trong hoạt

củng cố năng lực quản trị rủi ro. Ngày nay, người ta coi quản trị rủi ro là một nội

động thanh toán quốc tế, quản trị rủi ro và những nội dung của quản trị rủi ro

dung của quản trị kinh doanh ngân hàng thương mại và là một yêu cầu đối với các

trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại. Để hiểu sâu sắc

cấp lãnh đạo, những người chịu trách nhiệm quản trị và điều hành ngân hàng. Vì

hơn về công tác quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, sau đây

vậy, nâng cao năng lực quản trị rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất

Chương II sẽ phân tích và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động

lượng quản trị kinh doanh của các ngân hàng thương mại.

thanh toán quốc tế ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 177/Ttg thành
lập “Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” tại Bộ Tài chính, thay thế cho “Vụ cấp phát
vốn kiến thiết cơ bản”. Hoạt động của ngân hàng trong thời kỳ này chủ yếu là kiểm
soát, theo dõi và thanh toán theo tiến độ hoặc theo kế hoạch của các công trình xây
dựng cơ bản.
Ngày 24/06/1981, Chính phủ đã có Quyết định số 259/CP về việc chuyển
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính thành Ngân hàng Đầu tư và
Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, có nhiệm vụ thu hút và quản
lý các nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản các công trình không do ngân
sách cấp hoặc không đủ vốn tự có, đại lý thanh toán và kiểm soát các công trình
thuộc diện ngân sách đầu tư.
Ngày 14/10/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 401/CP
thành lập Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thay thế Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Ngày 26/11/1990, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
đã có Quyết định số 104NH/QD phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của BIDV.
Đến năm 1994, BIDV được thành lập lại theo Quyết định số 90/Ttg ngày
07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 23/01/1995, Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước ban hành Quyết định số 79 QĐ/NH5 quy định BIDV là ngân hàng thương
mại nhà nước, ngoài chức năng huy động trung, dài hạn trong và ngoài nước để đầu
tư các dự án phát triển kinh tế kỹ thuật, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng, chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, phát triển, còn thực hiện các hoạt động của

phần kinh tế, các tầng lớp dân cư.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước hạng
đặc biệt, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế tổng hợp, hoạt

Mô hình hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV được tổ chức theo ngành
dọc. Đầu mối thanh toán với nước ngoài của cả hệ thống là Hội sở chính. Chỉ có
Hội sở chính mới được phép đặt quan hệ đại lý và mở tài khoản Nostro tại các ngân
hàng nước ngoài.
Trong hoạt động thanh toán quốc tế, các chi nhánh trong hệ thống BIDV
được chia thành 2 loại:
 Loại 1: Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp: là các chi
nhánh có đủ điều kiện cần thiết để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Tùy theo trình độ nghiệp vụ và chất lượng giao dịch thanh toán quốc tế của
các chi nhánh, Hội sở chính xây dựng hạn mức điện tự động cho từng loại giao dịch
của từng chi nhánh. Dưới hạn mức đã được xác định, các giao dịch của chi nhánh sẽ
tự động chuyển tới các ngân hàng đại lý qua hệ thống SWIFT. Các giao dịch vượt
hạn mức sẽ được kiểm soát và duyệt lại tại Hội sở chính. Bên cạnh đó cũng tùy theo
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng Đầu Tư

trình độ nghiệp vụ, doanh số giao dịch phát sinh...Hội sở chính sẽ xây dựng hạn

và Phát Triển Việt Nam

mức thanh toán quốc tế cho từng chi nhánh. Đối với những giao dịch trong hạn mức

2.1.3. Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam giai đoạn 2006-2010
2.1.3.1. Mô hình tổ chức:
Từ tháng 3 năm 1993, phòng Kinh tế đối ngoại tại Hội sở chính bắt đầu thực
hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thanh toán
quốc tế của các khách hàng có quan hệ tín dụng với BIDV. Ngoài việc thực hiện
hoạt động thanh toán quốc tế, phòng Kinh tế đối ngoại còn đảm nhiệm các nghiệp
vụ tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, quan hệ quốc tế…Sau này, để đáp ứng
được nhu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng, các nghiệp vụ dần

đúng thông lệ, khá hoàn thiện và đầy đủ, dịch vụ BIDV cung cấp đạt chất lượng

nhánh là đầu mối trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tư vấn và hướng dẫn khách

cao, tuân thủ đúng thông lệ quốc tế, giao dịch nhanh chóng và chính xác. Về giá,

hàng thực hiện các thủ tục và các chứng từ cần thiết cho giao dịch thanh toán quốc

phí dịch vụ của BIDV được đánh giá là tương đương với các Ngân hàng khác như

tế, có trách nhiệm quản lý khách hàng, kiểm tra tính xác thực của các chứng từ do

ngân hàng Ngoại Thương, ngân hàng Công thương, cao hơn mức trung bình khối

khách hàng xuất trình. Hội sở chính có trách nhiệm kiểm tra nội dung của các loại

các NHTMCP nhưng thấp hơn nhiều so với các ngân hàng nước ngoài. Biểu phí

giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật, các thông lệ quốc tế, thực hiện giao

quy định mức tối đa tối thiểu và cho phép các chi nhánh tự quyết định việc giảm,

dịch theo đúng quy trình đảm bảo an toàn về vốn và uy tín cho Ngân hàng và khách

miễn phí cho các đối tượng khách hàng đặc biệt tùy theo chính sách khách hàng của

hàng.

chi nhánh và cạnh tranh trên địa bàn là rất linh hoạt và chủ động cho các chi nhánh.
Chất lượng giao dịch của các chi nhánh được đánh giá định kỳ 1 lần/năm

Doanh số Nhập khẩu (Triệu USD)

2.154

3.468

5.244

5.091

4.391

Qua các năm từ 2006 đến 2010 doanh số thanh toán quốc tế tại Ngân hàng

Doanh số TTQT (Triệu USD)

2.752

4.431

6.822

6.313

5.575

Phí dịch vụ (Tỷ VNĐ)

90.56



việc sử dụng trọn gói các dịch vụ thanh toán quốc tế tương ứng với tỷ trọng cho vay

NHTMCP Đại Dương và Ngân hàng Phát triển VDB. Bên cạnh đó, các thỏa thuận

của các ngân hàng trong dư nợ của khách hàng. Hiện nay, trong điều kiện thắt chặt

khác tiếp tục được thực hiện: Thỏa thuận hợp tác thanh toán quốc tế với các ngân

tăng trưởng tín dụng theo yêu cầu của Ngân hàng nhà nước và các khó khăn về tính

hàng Tiên Phong, Sài Gòn, SHB, Petrolimex, Đông Nam Á. Giao dịch của các Định

thanh khoản trên thị trường ngoại tệ, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang gặp rất

chế tài chính qua BIDV tương đối ổn định, góp phần vào tăng trưởng hoạt động

nhiều khó khăn và việc tìm đến các ngân hàng khác có thể đáp ứng nhu cầu của họ

thanh toán quốc tế nói chung. BIDV đang tích cực hướng tới các doanh nghiệp

là điều không thể tránh khỏi. Tỷ lệ mua bán ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất


Trang 35

Trang 36

khẩu thấp do tỷ giá không cạnh tranh cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm


trên thị trường, đồng thời mang tính hệ thống hóa và linh hoạt hóa trong xử lý

giao dịch có giá trị lớn tăng (doanh số nhập khẩu xăng dầu trung bình 10 triệu

nghiệp vụ sản phẩm tại chi nhánh.

USD/L/C), các mức thu phí đều đạt ngưỡng tối đa. Thêm vào đó là chính sách giảm

Cơ cấu hàng xuất thanh toán qua BIDV ngày một đa dạng. Trước đây, các

phí dịch vụ áp dụng cho một số đối tượng khách hàng đặc biệt (phí áp dụng cho các

mặt hàng xuất khẩu qua BIDV chủ yếu là hàng gia công giầy dép, sản phẩm may

Tập đoàn lớn, Tổng công ty) làm cho mức thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế toàn

mặc, là kết quả của việc đầu tư nhập khẩu dây truyền thiết bị của Ngân hàng thì

hệ thống tăng trưởng không tương ứng với mức tăng trưởng doanh số hoạt động.

hiện nay mặt hàng đã thay đổi theo cơ cấu đầu tư của Ngân hàng như thuỷ sản, gạo,

Hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
a. L/C nhập khẩu: Phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng nhiều nhất

cao su, cà phê, than, lâm sản, gốm sứ…
Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu

trong hoạt động thanh toán quốc tế của các khách hàng sử đụng dịch vụ thanh toán


thanh toán xuất khẩu nói chung và thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng

phương thức nhờ thu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh số thanh toán quốc tế

chứng từ nói riêng đã tăng mạnh qua các năm từ 2006-2010 (Bảng 2.4)

của BIDV nhưng có xu hướng tăng đều qua các năm, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu

Trong phương thức thanh toán này, vấn đề quan trọng nhất là phải xem xét

(Bảng 2.2). Bên cạnh chiết khấu bộ chứng từ theo hình thức L/C BIDV còn cung

kỹ các điều khoản, điều kiện của thư tín dụng, về khả năng đòi tiền từ ngân hàng

cấp sản phẩm chiết khấu bộ chứng từ có truy đòi theo hình thức nhờ thu với tỷ lệ

phát hành thư tín dụng và mức độ hoàn hảo của bộ chứng từ đòi tiền. Vì vậy ngay

chiết khấu lên tới 95%.


Trang 37

Trang 38

Bảng 2.2: Doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu
Đơn vị: Triệu USD
Nhờ thu hàng xuất khẩu
Năm


60.2%

2008

100,12

31.6%

400,78

38.7%

2009

96,32

(3.8%)

315

(2.1%)

2010

89

(7.6%)

201,90


_

302,35

_

2007

1.407,02

66.5%

553,70

83.1%

2008

2.154,15

53.1%

762,88

37.8%

2009

1.804.97


vào mục đích chuyển tiền, gồm: Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu, chuyển
tiền phi mậu dịch, Chuyển tiền uỷ thác đầu tư.

Nguồn: Báo cáo TTQT các năm của BIDV
Hoạt động thanh toán séc du lịch, phát hành hối phiếu ngân hàng:
BIDV đã ký hợp đồng làm đại lý bán và thanh toán séc du lịch do American
Express Company phát hành từ năm 1999, theo đó các chi nhánh của BIDV thực
hiện nghiệp vụ chấp nhận thanh toán séc du lịch do American Express Company
phát hành cũng như làm đại lý bán các séc du lịch Amex trắng. Nghiệp vụ này hiện
đang được triển khai tại một số chi nhánh của BIDV như Huế, SGD 1, chi nhánh Hà
Thành, tuy nhiên chưa thực sự phát triển, ít giao dịch phát sinh.


Trang 39

Trang 40

Bảng 2.4: Doanh số thanh toán các nghiệp vụ TTQT chủ yếu của BIDV
Đơn vị tính: Triệu USD

Doanh số hoạt động và phí dịch vụ thanh toán quốc tế tăng mạnh qua các
năm thể hiện sự tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng. Từ năm 2006 đến nay,

Chỉ tiêu

2006

2007

2008


760

và đầy đủ, dịch vụ BIDV cung cấp đạt chất lượng cao, tuân thủ đúng thông lệ quốc

Nhờ thu nhập

180,42

289

400,78

315

201,90

tế, giao dịch nhanh chóng và chính xác. BIDV cũng không ngừng nghiên cứu mở

Nhờ thu xuất

70,65

76,07

100,12

96,32

89


Doanh số TTQT

2.752

4.431

6.822

6.313

5.575

Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT của BIDV qua các năm
2.1.3.3. Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam trong thời gian qua.
 Hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng,
các nghiệp vụ thanh toán quốc tế ngày càng được mở rộng

khép kín, nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV trên thị trường
 Trình độ công nghệ ngân hàng và trình độ cán bộ được nâng cao.
BIDV đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ thanh toán quốc tế có trình độ
chuyên môn cao, ngoại ngữ tốt, có kinh nghiệm và độ nhạy bén tốt trong việc tiếp
cận cái mới. Do đó BIDV đã đảm nhiệm tốt vai trò tư vấn cho khách hàng trong
việc lựa chọn và sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế phù hợp, quy định các
điều khoản thanh toán đảm bảo an toàn cho khách hàng và ngân hàng. Hàng năm

4000.00

BIDV đều mở các lớp đào tạo về nghiệp vụ thanh toán quốc tế từ cơ bản đến


chương trình tài trợ thương mại nằm trong dự án Hiện đại hoá ngân hàng theo tiêu
chuẩn của ngân hàng thương mại hiện đại. BIDV luôn chú trọng công tác phát triển

0.00
2006

2007

2008

2009

2010

và nâng cấp sản phẩm đi kèm với công nghệ thông tin: thường xuyên có khảo sát và

Biểu 2.1: Kết quả thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế

đánh giá các chương trình phần mềm đi kèm với sản phẩm để có định hướng bổ

tại BIDV từ 2006-2010

sung tiện ích cho sản phẩm. Tuy hệ thống công nghệ của BIDV còn nhiều tồn tại


Trang 41

Trang 42



đều được thông qua sự giám sát của ít nhất một kiểm soát viên và phải được sự phê

tại Việt Nam như LaovietBank, MetropolitantBank của Đài Loan, Citibank Hà Nội,

duyệt của trưởng hoặc phó phòng, đối với những giao dịch có giá trị lớn, phức tạp

Standard Chartered Bank Hà Nội….

và có rủi ro tiềm ẩn thì phải có ý kiến chỉ đạo của Ban Gíam đốc trung tâm. Cũng

- Ký kết nhiều hiệp định khung với các ngân hàng nước ngoài phục vụ cho

như ở Hội sở chính, dù là chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp hay gián

hoạt động tài trợ thương mại, ký kết nhiều thỏa thuận đại lý thông báo, xác nhận,

tiếp thì mỗi quyết định thanh toán hay không thanh toán đều dưới sự giám sát của

chiết khấu L/C với các ngân hàng Citibank, Bank of New york, Hypovereinsbank,

trưởng phòng hoặc phó phòng phụ trách nghiệp vụ. Do đó các giao dịch thanh toán

Nova Scotia bank…

quốc tế trước khi phê duyệt đều được kiểm tra chặt chẽ, hạn chế tối đa các sai xót

- Ký kết các hợp đồng dịch vụ chi trả kiều hối với Metropolitant bank,

và rủi ro có thể xảy ra.


thông lệ quốc tế, góp phần đảm bảo hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV được

thông lệ quốc tế đảm bảo an toàn trong giao dịch đã góp phần tạo niềm tin cho các

an toàn và hiệu quả.

ngân hàng đối tác nước ngoài cũng như các khách hàng trong và ngoài nước. BIDV

Tuy công tác quản trị rủi ro tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam

đã được các khách hàng và ngân hàng tin tưởng chọn làm đối tác và đầu mối trong

được tiến hành một cách tương đối có hệ thống và quy cách nhưng do thanh toán

một số dự án đồng tài trợ trị giá lớn, được chỉ định làm ngân hàng phát hành thư tín

quốc tế là một hoạt động tương đối phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên và chịu


Trang 43

Trang 44

ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế luôn luôn

Do vậy, ngân hàng cần phải nghiên cứu kỹ khách hàng của mình xem họ có

tồn tại song song với quá trình hoạt động của các nhân viên không thể nào loại bỏ


chỉ biết sơ qua hoặc không am hiểu gì về đặc điểm cũng như các quy định của các
phương thức thanh toán quốc tế, đặc biệt là khó khăn trong việc lập ra bộ chứng từ
phù hợp với những điều khoản và điều kiện của thư tín dụng khi mà bản thân lại
chưa biết gì về nó.

công việc khó khăn này. Cán bộ thanh toán còn thiếu những hiểu biết về luật pháp
và những thông lệ quốc tế cũng như trình độ ngoại ngữ còn hạn chế. Cán bộ ngân
hàng tự thực hiện hành vi gian lận, cấu kết với bên ngoài để thực hiện các hoạt động

Đôi khi chính khách hàng là người gây ra các rủi ro, họ đã cố tình thông

phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, hủy hoại uy tín của BIDV. Các rủi

đồng với nhau để lừa ngân hàng, gây cho ngân hàng các rủi ro tín dụng, giảm uy tín

ro do lỗi tác nghiệp khi thực hiện các giao dịch của cán bộ như công tác kiểm tra

của ngân hàng. Người xuất khẩu và người nhập khẩu có thể thông đồng với nhau

chứng từ, chiết khấu cho khách hàng, nhập nhầm các thông tin dữ liệu vào hệ thống,

lập bộ chứng từ giả mạo để lừa đảo ngân hàng. Hoặc trường hợp khách hàng là nhà

nhầm lẫn trong thanh toán hay áp dụng sai các thông lệ quốc tế trong quá trình thực

nhập khẩu được BIDV phát hành thư tín dụng bằng nguồn vốn vay 100%. Nhưng
sau khi đã nhận hàng hóa khách hàng mất khả năng thanh toán, trốn nợ hay khi

hiện các giao dịch thanh toán quốc tế …
 Các rủi ro xuất phát từ môi trường trong nước và quốc tế


Do liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề và đối tượng kinh tế của nhiều
quốc gia khác nhau, hoạt động thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tác
động của môi trường kinh tế, chính trị xã hội của các quốc gia. Một sự biến động về
chế độ chính trị của nước bạn hàng như thay đổi về quy định dự trữ ngoại hối, các
quy định về thuế, phí xuất nhập cảnh, sự thay đổi lãnh đạo hay quan điểm của các

Trang 46

2.2.2.2. Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc
tế
Trong giai đoạn 2006-2010, đối tượng mà BIDV tập trung phòng ngừa rủi ro
nhất là tài sản, tiền bạc và uy tín ở trong nước cũng như trên thế giới của BIDV.
Những rủi ro này phát sinh thường do hai lý do chính, cho vay tín dụng phục vụ
xuất nhập khẩu và xử lý rủi ro gây ra do lừa đảo và lỗi tác nghiệp. Việc cho vay tín

Đảng phái sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết đã thỏa

dụng gây ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của BIDV nên khi tiến hành cho vay,

thuận giữa các bên. Có thế lấy ví dụ về ảnh hưởng của yếu tố môi trường quốc tế

BIDV tiến hành kiểm soát kỹ lưỡng dòng tiền lưu thông từ qua các phòng ban bằng

đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thông qua việc xuất khẩu hàng dệt may

cơ chế quản lý vốn tập trung, tránh hiện tượng một khách hàng lại được vay vốn

Việt Nam trong năm 2009 như sau:



Trần Sinh Duyên, Giám đốc công ty cổ phần May Hai (Hải Phòng) cho biết, Mỹ,

Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam đã thiết kế một bảng danh mục

EU là những thị trường xuất khẩu lớn của May Hai, nhưng từ đầu năm tới nay, giá

rủi ro nhằm liệt kê một cách có hệ thống những rủi ro có thể gặp phải trong hoạt

trị xuất khẩu của công ty vào các thị trường này giảm 30- 40%, đặc biệt giảm mạnh

động thanh toán quốc tế từ đó có kế hoạch theo dõi giám sát và có biện pháp phòng

tại thị trường Mỹ. Theo thống kê của BIDV, trong giai đoạn 2005-2008, lợi nhuận

ngừa cũng như hạn chế rủi ro nếu xảy ra.

từ hoạt động thanh toán xuất khẩu đối với hàng dệt may Việt Nam giảm 10% vào
năm 2008 so với năm 2007.


Trang 47

Trang 48

phương thức thanh toán, xem phương thức nào gây ra rủi ro nhiều nhất để tập trung

Bảng 2.5: Bảng danh mục rủi ro BIDV 2006-2010
Chỉ tiêu


1.2. Rủi ro khi khách hàng

nhân viên thanh toán

Rủi ro trong

phương thức nhờ

phương thức tín

chuyển tiền (%)

thu (%)

dụng chứng từ (%)

Năm

1

2006

27

6

67

thông đồng để lừa ngân hàng.
2. Các rủi ro xuất phát từ


2008

19

8

73

2.2. Nhầm lẫn địa chỉ nhận

45 bộ

57 bộ

36 bộ

10 bộ

15 bộ

4

2009

15

9

76


3.2. Rào cản thương mại

Tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay xảy ra rủi ro nhiều

Mỹ giảm tỷ

nhất khi thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Năm 2006 tỷ lệ rủi ro

lệ hàng NK

trong phương thức tín dụng chứng từ mới chỉ chiếm 67% nhưng đến hết năm 2010,

3.3. Rủi ro chiến tranh
3.4. Rủi ro pháp lý
Nguồn: Báo cáo cuối năm Trung tâm tác nghiệp tài trợ thương mại BIDV
2.2.3. Đo lường rủi ro, tổn thất trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
2.2.3.1. Phương pháp tính định lượng mức độ rủi ro mà BIDV có thể gặp
phải khi tiến hành thanh toán
Vào hàng quý và 31/12 hàng năm, BIDV tổng kết các rủi ro đã xảy ra trong
từng phương thức thanh toán, so sánh tổn thất gây ra khi thực hiện các phương thức
thanh toán quốc tế bằng việc xác định xem tổng số tiền đã bị mất đi và có khả năng
đạt được nhưng đã không đạt được, từ đó tính ra tỷ lệ phần trăm (%) rủi ro giữa các

tỷ lệ rủi ro là 75%, tăng gần 10%. Sự gia tăng này xuất phát từ chính đặc điểm phức
tạp, rắc rối của phương thức thanh toán này, bên cạnh đó phương thức tín dụng
chứng từ được khách hàng lựa chọn nhiều, doanh số thanh toán lơn nên rủi ro cũng
nhiều hơn so với các phương thực khác. Do vậy BIDV cần quan tâm đặc biệt đến
việc quản lý rủi ro khi thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
2.2.3.2. Phương pháp định tính xác định mức độ rủi ro mà BIDV có thể

chuyên gia trong các lĩnh vực thanh toán quốc tế, quản trị rủi ro, bảo hiểm, kinh

đối với cho vay sau khi giao hàng. Mức vốn cho vay đối với từng trường hợp theo

doanh ngoại tệ... để đánh giá nguy cơ rủi ro. Sau khi nghiên cứu những tài liệu về

quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

thị trường, nhân tố tác động, nguyên nhân rủi ro trong quá khứ và hiện tại, mỗi

Việt Nam. Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc

chuyên gia sẽ cho đánh giá về mức độ nghiêm trọng và tần suất xảy ra rủi ro. Tổng

điểm của từng hợp đồng xuất nhập khẩu và khả năng trả nợ của nhà xuất nhập khẩu

hợp ý kiến đánh giá của các chuyên gia BIDV sẽ dự đoán về nguy cơ rủi ro trong

nhưng không quá 12 tháng.

hoạt động thanh toán quốc tế.

Sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng và nhận thấy doanh nghiệp đủ điều kiện vay

BIDV thường xuyên có những buổi họp định kỳ tập hợp các chuyên gia để

vốn, ngân hàng mới tiến hành cho vay vốn để phục vụ doanh nghiệp thực hiện hoạt

thu thập ý kiến, nhận định và đề ra các giải pháp nhằm phòng ngừa các rủi ro có thể





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status