CÁC DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC – THI THPT QUỐC GIA 2016
Dạng đề so sánh văn học là dạng đề phổ biến trong các kì thi. Có thể nói đây là
dạng đề phức tạp, khó xử lý nhất đối với học sinh THPT vì nó đòi hỏi không chỉ kiến
thức mà còn yêu cầu rất cao về khả năng tư duy và óc tổng hợp. Ở dạng đề này, nếu
không thận trọng, rất dễ biến bài viết thành bài liệt kê một cách dễ dãi những kiến
thức đã học khiến bài trở nên loãng, nhạt và dàn trải.
Để tránh tình trạng này, học sinh trước hết cần ý thức rõ về bản chất của thao tác so
sánh (để xác định điểm giống – khác của các đối tượng, trên cơ sở đó nhìn nhận rõ
hơn về đặc điểm và giá trị của mỗi đối tượng ấy). Từ đó có thể xác định yêu cầu đối
với kiểu bài so sánh là phải sử dụng thao tác so sánh như một thao tác chính để triển
khai bài viết. Tất nhiên là để kết luận rút ra từ việc so sánh có chất lượng và sức
thuyết phục cao, không thể bỏ qua các thao tác hỗ trợ như phân tích, bình luận, chứng
minh…
– Trong mọi dạng bài, học sinh đều cần trình bày thành ba phần: giới thiệu - triển
khai - tổng kết, đánh giá.
+ Phần giới thiệu: thông tin cần cung cấp là thông tin về vấn đề: tác giả, tác phẩm,
điểm đặc biệt hay tính quan trọng của vấn đề. Ở phần này, học sinnh chỉ nêu ý khái
quát, tránh đưa thông tin cụ thể, chi tiết, tránh lan man, dài dòng.
+ Phần triển khai: cần cô gắng lập ý cho rõ ràng, mạch lạc, sắp xếp và phát triển ý
cần hợp lý, tránh lối viết tùy tiện, lộn xộn. Để ý sáng rõ cần có dẫn chứng, và chỉ phân
tích dẫn chứng ở khía cạnh cần cho sự phát riển ý, tránh viết chung chung, tránh lôi áp
đặt không có bằng cớ song cũng cần tránh phô kiến thức một cách không cần thiết.
+ Phần tổng kết, đánh giá: nên thể hiện một cái nhìn tổng hợp là toàn diện về vấn
đề bằng những nhận xét có tính khái quát, tránh việc tếp tục phân tích bình luận cụ thể
vê các chi tiết như ở thân bài.
1. Cảm nhận về hai hình tượng Sông Đà và Sông Hương
Đề bài: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm
“Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm
“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó, trình bày suy nghĩ
+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa
hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.
+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn
liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.
– Uyên bác: cả 2 tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức trên
nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng 2 dòng sông.
2. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:
a/ Sông Đà:
– Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đạm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà
giống như 1 kẻ thù hiểm độc và hung ác
-> Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng vi
thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người. – Sông Đà được cảm nhận ở chính
nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con
trâu mộng, đá trên sông đà mỗi viên đều mang 1 khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến…
– Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài
trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt
thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá…
b/ Sông Hương:
– Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn
mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm. Khi ở
thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại; khi ở cánh đồng Châu Hóa,
nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya,
hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà lại chung tình, là người con gái dịu dàng của đất
nước.
– Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù
sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.
– Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông
Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông
Và
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.”
(Sóng – Xuân Quỳnh)
Hướng dẫn :
I. MỞ BÀI
Giới thiệu về hai tác giả và hai bài thơ, hai đoạn thơ:
II. THÂN BÀI
2. Cảm nhận hai đoạn thơ
2.1. Đoạn thơ trong bài thơ Sóng
– Nỗi nhớ tràn ngập khắp không gian: dưới lòng sâu, trên mặt nước
– Nỗi nhớ tràn ngập khắp thời gian: ngày đêm không ngủ được
– Nỗi nhớ tràn cả vào ý thức, vô thức, tiềm thức “cả trong mơ còn thức”
* Nghệ thuật: thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu; phép ẩn dụ, nhân hóa, điệp cấu
trúc, tương phản..
2.2. Đoạn thơ trong Việt Bắc
– Nỗi nhớ tràn ngập không gian thời gian, thấm vào cảnh vật thiên nhiên:
+ Thiên nhiên bình dị tươi đẹp: nắng chiều, trăng lên đầu núi, bản khói cùng
sương, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…
+ Con người Việt Bắc cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó: sớm khuya bếp
lửa người thương đi về
* Nghệ thuật:
– Thể thơ lục bát âm điệu ngọt ngào sâu lắng; sử dụng phép điệp từ, ngôn ngữ
bình dị
tiếp, vừa trực tiếp. “Sóng” là hóa thân mà cũng là phân thân của chủ thể trữ tình.
“Sóng” là ẩn dụ để diễn tả nỗi nhớ. Sắc thái của nỗi nhớ trong đoạn thơ (có nỗi nhớ
cồn cào, cháy bỏng, có nỗi nhớ triền miên, da diết, có nỗi thao thức, bồi hồi trăn trở,
nỗi nhớ còn lặn cả vào trong tiềm thức, trong giấc mơ).
Sóng – Đoạn thơ sử dụng thể thơ năm chữ và ẩn dụ nghệ thuật sóng. Thể thơ và
nhịp điệu thơ đã gợi hình hài và nhịp điệu bất tận vào ra của những con sóng nỗi nhớ
tình yêu. Nhờ nghệ thuật ẩn dụ, nỗi lòng của người phụ nữ khi yêu được thể hiện chân
thành, nữ tính, duyên dáng mà không kém phần mãnh liệt sâu sắc. Đoạn thơ có hình
ảnh sáng tạo diễn tả nỗi nhớ trong mơ (Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn
thức).
⇒Kết luận chung: Từ hai nỗi nhớ được thể hiện trong đoạn thơ, người đọc
không chỉ cảm nhận được nét đặc sắc của hai giọng điệu thơ mà còn thấy được vẻ đẹp
tâm hồn con người Việt Nam yêu thương đằm thắm, dịu dàng mà mãnh liệt, tình nghĩa
thủy chung.
III. KẾT BÀI
Đánh giá chung
3. So sánh đoạn kết hai tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao và Vợ nhặt- Kim Lân
Đề bài: Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh: “Đột nhiên thị
thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại
qua…” (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155);Truyện ngắn
Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người
đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…” (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam,
2011, tr.32)
Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.
Hướng dẫn cách làm
I. Mở bài :
- Giới thiệu Nam Cao , truyện Chí Phèo và đoạn kết truyện
quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền sống lương thiện của
người nông dân.
+ Kết thúc truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: đồng cảm với nỗi
thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ phong kiến,
trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ.
+ Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu cuối
tương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn của thân phận Chí Phèo, giúp tô đậm chủ đề tư
tưởng: cuộc đời Chí Phèo tuy kết thúc nhưng tấn bi kịch Chí Phèo sẽ vẫn còn tiếp
diễn.
+ Kết thúc truyện vừa khép vừa mở dành nhiều khoảng trống cho người đọc tưởng
tượng và suy ngẫm, tạo ra được dư âm sâu bền đối với sự tiếp nhận.
3. Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt
Khái quát nội dung tác phẩm “Vợ nhặt”( ngắn gọn )
Tóm tắt về cuộc đời nhân vật Tràng.( ngắn gọn )
Ý nghĩa đoạn kết với hình ảnh lá cờ bay phấp phới:
+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra cảnh
ngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai đều là
những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.
+ Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng niềm
khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm tin bất diệt
vào tương lai tươi sáng.
+ Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối, đó là
tương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng lạc quan
chung của câu chuyện.
+ Đây là kiểu kết thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc sống
được mô tả trong toàn bộ câu chuyện, dành khoảng trống cho người đọc suy tưởng,
phán đoán.
có thể vượt lên cái chết, cái thảm đạm để mà vui mà hi vọng.
III. Kết bài : Đánh giá chung về hai tác phẩm và tài năng nghệ thuật của các nhà văn
4. So sánh ''Rừng xà nu'' và''Những đứa con trong gia đình"
Đề bài:
So sánh sự giống nhau và khác nhau cơ bản của hai tác phẩm "Rừng xà nu" của
Nguyễn Trung Thành và "Những đứa con trong gia đình"của Nguyễn Thi.
I. Mở bài
Tham khảo 1:
"Rừng xà nu" của Nguyễn TrungThành và "Những đứa con trong gia đình"của
Nguyễn Thi đều là hai tác phẩm xuất sắc viết về đề tài chiến tranh cáchmạng ở miền
Nam vào những năm 60 thế kỷ trước. Cả hai tác phẩm đều xứng đáng làbản anh hùng
ca ca ngợi những con người miền Nam anh hùng, bất khuất, căm thùgiặc cháy bỏng,
yêu quê hương đất nước thiết tha, thủy chung tình nghĩa sắt sonvới cách mạng, kháng
chiến. Tuy nhiên hai tác phẩm đã có những vẻ đẹp riêngmang đậm hương vị của mỗi
miền đất và mang dấu ấn tài năng của mỗi tác giả.
Tham khảo 2:
"Rừng xà nu" của Nguyễn TrungThành và "Những đứa con trong gia đình"của
Nguyễn Thi xứng đáng được xem là hai bông hoa đẹp bừng nở trên mảnh đấtmiền
Namcháy đỏ lửa căm thù quân xâm lược và xanh ngời một niềm tin chiến thắng.
Cùngviết về đề tài chiến tranh cách mạng, ra đời vào những năm 60 của thế kỷ
trước,một tác phẩm là bông hoa rừng của Tây Nguyên hùng vĩ, một tác phẩm là bông
hoahồng của đồng bằng Nam bộ cho đến nay vẫn toả ngát hương thơm trong tâm
hồnhàng triệu độc giả chúng ta.
II. Thân bài:
A. Những điểm giống nhau
Thành) được xem là nhà văn đi tiên phong về đề tài Tây Nguyên. Đây là sở trường, là
niềmsay mê của nhà văn và ông đã có những đóng góp tích cực cho văn học Việt Nam
về một đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa xã hội học và thẩm mĩ sâu sắc. Từ những năm kháng
chiến chống Pháp, Nguyên Ngọc đã viết tác phẩm "Đất nước đứng lên" với nhân vật
chính là anh hùng Núplàm say mê hàng triệu trái tim độc giả. Vào cuộc kháng chiến
chống Mỹ, dogắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên, gần gũi hiểu biết sâu sắc
cuộcsống và tinh thần bất khuất, yêu tự do, gắn bó với cách mạng của nhân dân
cácdân tộc thiểu số trên mảnh đất này, ông đã sáng tác nên thiên truyện nổi tiếng
"Rừng
xà
nu".
Với hình tượng cây xà nu độc đáo được tạo dựng trong sự đối sánh với con người,giữa
cảnh huỷ diệt khủng khiếp của bom đạn kẻ thù, tác phẩm của Nguyễn TrungThành đã
khắc hoạ được không khí Tây Nguyên, chất sử thi hùng tráng, trang nghiêm từ những
dòng đầu cho đến những trang cuối của tác phẩm.
2. Không khí sử thi ấy đã chi phối nhà văntrong việc xây dựng cốt truyện và khắc hoạ
tính cách, phẩm chất nhân vật phùhợp với chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Các nhân vật
trong "Rừng xà nu" được cấu tạo theo nhiều lớp, nhiều thế hệ. Cácthế hệ này được
biểu hiện bằng những thế hệ xà nu khác nhau trong rừng xà nubạt ngàn tít tắp tận chân
trời. Thế hệ già làng (tiêu biểu là cụ Mết), thế hệthanh niên tiêu biểu là Tnú, Mai, Dít.
Truyện còn hé mở cho người đọc thấy thếhệ thứ ba, thế hệ của những bé Heng để
hoàn thành bức tranh nhân dân, già trẻ "lớp cha trước, lớp con sau" mangđậm chất sử
thi.
3. Các nhân vật của "Rừng xà nu" được khắc hoạ không phải trên phương diện đời tư,
mà chủ yếu trênphương diện cộng đồng, dân tộc. "Mối quan hệ của họ cơ bản đượcđặt
trong quan hệ xã hội, dân làng, đất nước, với kẻ thù: nhiệm vụ chủ yếu củahọ chủ yếu
là những trọng trách lịch sử giao phó". Tất cả cuộc đời và hànhđộng của họ nhằm viết
lên một chân lý lớn của thời đại: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo". Nghĩa
Nam Bộ. Ở "Những đứa con trong gia đình", không khí ấy không chỉ được thể hiện
trong hiện thựccuộc sống đời thường nhà văn phản ánh, mà còn in đậm trong tính
cách, hành động, đời sống nội tâm và ngôn ngữ của nhân vật.
2. Qua hệ thống hình tượng nhân vật của tác phẩm, Nguyễn Thi muốn nhằm giải thích
về những phẩm chất anh hùng của những đứa con trong gia đình. Chính cội nguồn
truyền thống gia đình với cuốn sổ mà mỗi trang đều được viết bằng máu và nước mắt
đã hình thành nên tính cách và phẩm chất tuyệt vời cho những đứa con: vừa hồn
nhiên, bộc trực,trung hậu, vừa căm thù ngùn ngụt, gan góc, kiên cường, thuỷ chung,
say mê chiến đấu và tự hào về truyền thống cách mạng gia đình, quyết cầm súng tiêu
diệt kẻ thù trả nợ cho những thế hệ cha, ông đã ngã xuống trên mảnh đất này. Cha mẹ
là dũng sĩ nên họ sinh ra như là để cầm súng đánh giặc và họ đều đã lập được nhiều
chiến công xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình. Đánh giặc
đối với họ đã trở thành mệnh lệnh của trái tim và họ đã lên đường ra trận như đi trẩy
hội mùa xuân. Nghĩa là họ "Mang đậm cái chất Út Tịch trong tâm hồn".
3. Các nhân vật trong "Những đứa con trong gia đình" được nhìn qua "Một điểm nhìn
trần thuật rất độc đáo". Đó là qua sự hồi tưởng và nhớ lại khi đứt, khi nối của Việt một nhân vật chính của tác phẩm, khi bị thương nằm ngất đi giữa rừng. Khác với
điểm nhìn trong "Rừng xà nu", qua lời kể của cụ Mết, một già làng, người của hai thế
hệ, trong "Những đứa con trong gia đình", lại qua điểm nhìn trần thuật của Việt, một
thành viên trong gia đình đã gợi nhắc được những kỷ niệm rất đỗi gần gũi thân quen
rất đời thường.Từ chuyện bắt ếch đến chuyện chú Năm, chuyện ba má quen nhau, đến
việc giỗ má, khiêng bàn thờ, đến chuyện đồng đội của Việt... Tất cả đều hiện lên rất
sinh động, còn mang dấu vết tươi nguyên của mùi đất quê hương và có cả vị mồ hôi
của má Việt, cả giọng hò tức như gà gáy của chú Năm mà các nhân vật được hiện lên,
điềuđó đã tạo nên một không khí gia đình với những mối quan hệ gia đình chằng chịt
với rất nhiều chuyện "thỏn mỏn" khác, nhưng rất thi vị mang ý nghĩa thẩm mĩ và nhân
sinh sâu sắc.
4. Là nhà văn có biệt tài phân tích tâm lý, Nguyễn Thi quan tâm nhiều đến việc miêu
tả thế giới nội tâm của nhân vật với cái nhìn của cuộc sống đời thường.Việt là một cậu
con trai đồng quê, mới lớn tính tình hiếu động và còn nhiều nét trẻ con: đánh giặc
không sợ chết, nhưng lại sợ ma, rất yêu quý chị, nhưng cứ giấu tiệt, vì chỉ sợ mất chị...
5. SO SÁNH HÌNH ẢNH CỦA ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN VÀ VIỆT BẮC
Đề bài:
Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận mỗi nhà thơ lại có cách khám phá
và thể hiện riêng:
Trong bài “Tây Tiến”, Quang Dũng viết:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
(“Tây Tiến” – Quang Dũng)
Trong thi phẩm “Việt Bắc”, Tố Hữu viết:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cũng mũ nan”.
(“Việt Bắc” – Tố Hữu).
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên ?
HƯỚNG DẪN:
1. Khái quát chung:
• Giới thiệu Quang Dũng, Tố Hữu và hai tác phẩm:
+ Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, với
hồn thơ hào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí. “Tây Tiến” là bài thơ
hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được tác giả viết vào năm 1948 ở
Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.
+ Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ của ông song hành cùng những chặng đường
của cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ
với thiên nhiên, ốm mà không yếu, ốm mà vẫn trẻ trung, vẫn tràn đầy sức sống.
Đặc biệt, kết hợp từ “dữ oai hùm” gợi cho người đọc thấy trên gương mặt xanh xao,
gầy ốm của người lính vẫn toát lên vẻ dữ dội, kiêu hùng của những con hổ nơi rừng
thiêng. Dường như, ở miền đất hoang sơ, bí ẩn có bóng hổ rình rập, đe dọa với “cọp
trêu người” thì người lính cũng có “oai hùm” dữ dội, uy nghi để chế ngự và chiến
thắng.
Liên hệ: Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại
dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Thơ ca thời kỳ
kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
(“Đồng chí” – Chính Hữu)
“Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế”.
(“Cá nước” – Tố Hữu).
Sau này một nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ cũng viết về căn bệnh sốt rét
rừng của những người lính bằng những vần thơ tê tái:
“Nơi thuốc súng trộn vào áo trận
Cơn sốt rừng đi dọc tuổi thanh xuân”.
*Cái hào hoa:
+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm
nên khí chất mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàn rất lính,
hóm hỉnh đùa vui với khó khăn gian khổ của mình.
+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh”. Chữ “đoàn binh” chứ không phải
“đoàn quân” đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng. Ba từ “dữ oai
hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người
*Vẻ đẹp lãng mạn:
“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.
Đây có thể là hình ảnh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm
hành quân, cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính,
ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi. Họ là những con người
có lí tưởng cao cả, đẹp đẽ, sẵn sàng cống hiến vì sự nghiệp chung. Ý thơ khiến người
đọc liên tưởng đến hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong thơ Chính Hữu.
C. So sánh hai đoạn thơ:
• Giống nhau: Đều khắc họa người lính với vẻ đẹp vừa hào hùng, vừa lãng mạn, bay
bổng.
• Khác nhau:
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Tây Tiến”, vẻ đẹp hào hùng của người lính phảng
phất sự bi thương.
+ Trong đoạn thơ thuộc bài thơ “Việt Bắc”, vẻ đẹp lãng mạn của người lính còn được
Tố Hữu gắn liền với hiện thực.
• Cả hai tác giả đều có trải nghiệm từ thực tế chiến đấu nên thơ đều có chất hiện thực.
Bên cạnh đó, Quang Dũng là một chàng trai rất hào hoa nên thơ ông có cái lãng mạn
rất riêng; còn ở Tố Hữu, thơ ông là thơ trữ tình chính trị, luôn có cái nhìn lạc quan, tin
tưởng vào cách mạng.
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG:
• Hai đoạn thơ bên cạnh những điểm tương đồng còn có những nét riêng độc đáo, thể
hiện tài năng của hai nhà thơ.
• Khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học cũng như trong lòng độc giả.
6. Cảm nhận về chi tiết “dòng nước mắt” trong “Vợ nhặt” và “Chiếc thuyền
ngoài xa”
Đề bài:
“Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi,
những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm
sắc:
+ Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm trước cách mạng, trong nạn đói
1945
+ Nhân đạo: cảm thông thương xót; tố cáo xã hội; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn
người mẹ
– Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội
tâm nhân vật đặc sắc.
b) Cảm nhận chi tiết “dòng nước mắt” trong Chiếc thuyền ngoài xa
* Giới thiệu diễn biến dẫn đến chi tiết:
– Nêu hoàn cảnh xuất hiện dòng nước mắt của NĐBHC: câu chuyện gia đình hàng
chài, diễn biến tâm trạng NĐBHC.
* Cảm nhận, phân tích chi tiết “dòng nước mắt”:
– Là biểu hiện của nỗi đau đớn: gia cảnh nghèo khó bế tắc -> tình trạng bạo lực trong
gia đình không có lối thoát -> câu chuyện thằng con phạm vào tội ác trái luân thường
đạo lí không thể giải quyết, nỗi lo lắng về sự phát triển nhân cách lệch lạc của con đã
không tìm được giải pháp…
– Là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng: thương con thắt lòng, khi chồng đánh
không hề có bất kì phản ứng nào, nhưng hành động của thằng con khiến chị như sực
tỉnh, như bị một viên đạn xuyên qua tâm hồn để thức dậy nỗi đau tận cùng.
* Đánh giá:
– Giá trị nội dung: Dòng nước mắt đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu
sắc:
+ Hiện thực: phơi bày tình cảnh xã hội những năm sau chiến tranh và đêm trước thời
kì Đổi mới 1986.
+ Nhân đạo: cảm thông thương xót; trân trọng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người mẹ.
– Đặc sắc nghệ thuật: chi tiết nhỏ nhưng nội dung ý nghĩa truyền tải lớn; diễn tả nội
tâm nhân vật đặc sắc.
c) So sánh