1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NÔNG THỊ HÀ
NÔNG THỊ HÀ
Hình thành năng lực tự học
cho sinh viên cao đẳng sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật có xương sống"
Hình thành năng lực tự học
cho sinh viên cao đẳng sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật có xương sống"
Chuyên ngành : Phương pháp dạy học sinh học
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
: 60.14.10
5
6
danh mục những chữ viết tắt trong luận văn
MC LC
Trang
CĐSP
: Cao đẳng S- phạm
ĐHSP
: Đại học S- phạm
GV
: Giáo viên
HDTH
: H-ớng dẫn tự học
K22
: Khóa 22
6
1.2.
Khỏi nim v nng lc
17
1.3.
Khỏi nim v nng lc
17
1.4.
Vai trũ ca nng lc t hc
18
1.5.
Cỏc loi nng lc t hc
19
1.6.
Kh nng hỡnh thnh nng lc t hc trong dy hc phn
Tiờu chớ ỏnh giỏ nng lc t hc
51
2.4.
Cỏc bin phỏp hỡnh thnh nng lc t hc
71
Chng 3: THC NGHIM S PHM
85
3.1.
Mc ớch thc nghim s phm
85
3.2.
Ni dung thc nghim
85
3.3.
Phng phỏp thc nghim
* Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII tiếp tục khẳng định phải:
Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên Cao đẳng, Đại
học.
* Từ định hướng trên đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục tại
Điều 24.2:
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
* Đứng trước thực trạng của xã hội loài người ngày nay là xã hội tri
thức và thông tin. Sự đổi mới với tốc độ rất nhanh trong các lĩnh vực khoa
học và công nghệ tác động đến thông tin ở ba khía cạnh:
- Thông tin có giá trị không dài;
- Khối lượng thông tin tăng nhanh;
9
- Nội dung thông tin ngày càng chuyên môn hóa và phức tạp (S.T.
chong. 1998).
10
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành trong
việc dạy cho sinh viên biết cách học (ở đây cũng có nghĩa là hình thành cho
sinh viên năng lực tự học) là chủ yếu.
Do những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn như trên, nên tôi đã
chọn đề tài: "Hình thành năng lực tự học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm
trong dạy học phần: "Động vật học có xương sống"".
3. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được năng lực tự học cần có và biện pháp hình thành
phù hợp sẽ vừa hình thành được năng lực tự học, vừa nâng cao được chất
lượng học phần Động vật có xương sống.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu năng lực tự học cần có và biện pháp hình
thành năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm trong giảng dạy học
phần Động vật có xương sống.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất lớp Hóa - Sinh
K24 trường Cao đẳng Sư phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý thuyết của việc hình thành năng lực tự học ở
sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.2. Xác định thực trạng năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.3. Xác định năng lực tự học cần có ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.4. Xác định biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học trong
khi giảng dạy học phần Động vật học có xương sống.
5.5. Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp
trong việc hình thành năng lực tự học và nâng cao kết quả học tập qua học
phần Động vật học có xương sống.
6. Phương pháp nghiên cứu
11
8.2. Hệ thống hóa những năng lực tự học cần có ở sinh viên khi
nghiên cứu giáo trình về sinh học. Góp phần nâng cao phương pháp giảng dạy
theo hướng đổi mới ở các trường Cao đẳng Sư phạm.
8.3. Đề xuất biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học qua
giảng dạy học phần Động vật học có xương sống. Từ đó làm tài liệu để cải
tiến dạy học môn học.
8.4. Những kết quả thực nghiệm là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu
+ Hình thành năng lực tự học;
tiếp của hướng đề tài này. Đồng thời là những gợi ý để áp dụng cải tiến
+ Nắm vững kiến thức qua dạy chương 6,8 của học phần: Động vật
phương pháp trong dạy học bộ môn ở Cao đẳng Sư phạm
học có xương sống.
- Phương pháp tiến hành:
+ Đối tượng: Sinh viên năm thứ nhất lớp hóa sinh K24 trường Cao
đẳng Sư phạm Bắc Ninh.
+ Công thức thực nghiệm: Thực nghiệm theo mục tiêu nghĩa là: Lấy
mục tiêu làm đối chứng còn thực nghiệm là các biện pháp hình thành năng lực
tự học.
12
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc hình thành năng lực tự học ở sinh viên.
giúp cho người học tự học, tích cực hoạt động để tự tìm ra tri thức đã được
nghiên cứu rộng khắp thế giới từ lâu như:
1.1.1.2. Trong nước
* Tự học - tự đào tạo là vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đề cập rất đậm nét: "Tập trung sức nâng
* Ở Mỹ từ những năm 1920 Helen Pankhutôts đã nghiên cứu, đề xuất
cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của sinh viên bảo
và triển khai kế hoạch Dalton tại trường Dalton ở tiểu bang Massa Chuse là:
đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển
Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho
mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn
người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện. Toàn bộ hoạt
dân…".
động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực
hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập.
* Theo G.D.Sharmo và Shatt.R.Ahmed đã nhận định: Hình thức
hướng dẫn sinh viên tự học là một hình thức tổ chức học có hiệu quả: "Cốt lõi
của hình thức này là quá trình điều khiển gián tiếp của giảng viên đối với quá
trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được
thiết kế thành dạng phù hợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
1.1.2. Về tài liệu hướng dẫn tự học
* Theo Nguyễn Bá Kim [24] tài liệu hướng dẫn phải có yếu tố phương
pháp học và có yếu tố mô phỏng sự tìm tòi, khám phá để định hướng và khêu
gợi động cơ, hỗ trợ, ôn tập, củng cố.
* Tác giả Hoàng Hữu Niềm [32] đã nghiên cứu chức năng, mục đích,
1.1.2.1. Trên thế giới
* GS.TSKH Hans Joachin Luabs [17] đã đưa ra những yêu cầu về nội
dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho các tác giả viết tài liệu dùng cho sinh viên.
Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho sinh viên là giáo trình, ngoài ra còn có
nội dung, yêu cầu, hình thức của phiếu tự học và tài liệu hướng dẫn tự học để
biên soạn và sử dụng chúng trong quá trình hướng dẫn cho sinh viên ở các
Trung tâm giáo dục thường xuyên.
các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như sách bài tập, tập lưu trữ tư liệu,
* Tác giả Phan Đức Duy, trong luận án tiến sĩ [13] đã nghiên cứu quy
sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo… Đồng thời tác giả đã chỉ rõ
trình thiết kế, các yêu cầu kỹ thuật của bài tập tình huống - Đây như một tài
chức năng của các tài liệu học dành cho sinh viên là:
liệu hướng dẫn sinh viên tự học và rèn luyện kỹ năng để hình thành năng lực
hướng hiệu quả truyền đạt.
dẫn tự học: Mô hình hướng dẫn học và học có hướng dẫn trong dạy học ở Đại
học nhằm rèn luyện năng lực tự học cho sinh viên khoa sinh Đại học sư phạm
trong dạy học môn "Phương pháp dạy học sinh học" nhằm nâng cao kết quả
Giờ học là sự phối hợp hoạt động
của người dạy và người học trong
việc lập kế hoạch thực hiện, đánh
giá. Dạy học theo hướng: Dạy
cách tự học, giải quyết vấn đề,
định hướng hành động chiếm ưu
thế
Mỗi hình thức tổ chức dạy sẽ ứng với một cách thức học tập nhất
định. Sự tương quan giữa dạy và học được thể hiện theo sơ đồ 1.1:
đào tạo.
1.1.3. Về hướng dẫn tự học theo hướng hình thành năng lực tự
Dạy
Học
Truyền
thụ
Lĩnh hội
Điều
Quan điểm dạy học theo
phương pháp tích cực
Tạo ra các chương trình đào tạo
phù hợp với chủ thể nhằm hình
thành năng lực chuyên môn, năng
lực xã hội và cá nhân, khả năng
hành động. Lý luận dạy học chú
trọng phát triển năng lực tự chủ
và khả năng giao tiếp
* Theo xu hướng hiện nay, việc giảng dạy ở các trường Đại học là giảm
tối đa kiểu dạy theo lối truyền thụ và sinh viên lĩnh hội tri thức một cách thụ
động. Mà tăng cường tổ chức, điều khiển để sinh viên tự lực tìm tòi, nghiên cứu
nhằm phát huy tính độc lập trong quá trình nhận thức, phát triển năng lực của
người học. Có rất nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu, đề xuất
các quy trình hướng dẫn sinh viên tự học như quy trình 8 bước học định hướng
giải quyết vấn đề, quy trình 5 bước học theo công đoạn. Vậy trong khuôn khổ
của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình hướng dẫn sinh viên tự
học trên cơ sở tài liệu hướng dẫn học.
19
20
Hướng dẫn tự học chính là sự hỗ trợ của giáo viên trong việc định
Các mũi tên trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực "thầy";
hướng, tổ chức và chỉ đạo nhằm giúp cho người học tối ưu hóa quá trình tự
Tự kiểm tra
3
trình hướng dẫn gồm các bước sau:
thể hiện
Trọng tài
- Chỉ ra được các nội dung cần phải học.
- Chỉ ra được các nội dung cần làm rõ.
- Đối với những kiến thức khó cần chỉ rõ nguồn tài liệu để tham khảo
(cung cấp những thông tin cần thiết để làm rõ vấn đề này).
- Có tài liệu hướng dẫn.
+ Bước 3: Tổ chức thảo luận.
+ Bước 4: Tổng kết đánh giá.
Sơ đồ 1.2: Chu trình dạy - tự học
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng
* Từ quy trình trên tác giả đã đề xuất quy trình hướng dẫn học một
chủ đề, quy trình hướng dẫn một buổi học.
lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự
+ Quy trình hướng dẫn học một chủ đề:
điều chỉnh.
những cơ sở:
- Tổng kết
- Cơ sở tâm lý, sư phạm:
- Hướng dẫn chủ đề mới.
* Trong luận án tiến sĩ - khoa giáo dục sinh học, tác giả Hoàng Hữu
Niềm đã đưa ra quy trình hướng dẫn tự học như sau 32:
Kết quả tự học của
học viên
Tự thể hiện kết quả
tự học,
tự đánh giá
Tổ chức, chỉ đạo và
trọng tài
Tự học ở nhà theo
PTH
Hướng dẫn cách tự
học
theo PTH tổ chức
Nghe HDTH trên lớp
tự thể hiện qua thảo
luận
Định hướng tự học
cái gì
Có thể kể đến các phương pháp được sử dụng như: Phương pháp tổ
chức SV thảo luận theo nhóm, theo lớp, phương pháp dạy học theo tình huống
(các tình huống được xây dựng trong tài liệu, phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề...).
+ Động cơ học tập của sinh viên CĐSP là trở thành thầy giáo dạy ở
THCS. Để sinh viên tự học tốt thì động cơ cần được cụ thể hóa thành những
23
24
nhiệm vụ, mục tiêu, kiến thức, kỹ năng rõ ràng. Đây là nhiệm vụ của những
người hướng dẫn học hoặc tài liệu HDTH.
của môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được năng lực tự học
- Cơ sở triết học: Theo quan điểm triết học kết quả của hành động bị
chi phối bởi hai yếu tố đó là: nội lực và ngoại lực.
rời nội lực với ngoại lực, mà là kết hợp chặt chẽ, mật thiết giữa nội lực với ngoại
của người học. Vấn đề được đặt ra là không thể nhấn mạnh một chiều hoặc tách
lực, nhằm tiến tới đỉnh cao của chất lượng phát triển là cộng hưởng nội lực với
ngoại lực. Nói một cách khác, quá trình tự học, tự nghiên cứu (cá nhân hóa)
phải kết hợp với quá trình hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học và quá
Nội
lực
Ai cũng biết một xã hội tốt hay xấu, tiến nhanh hay trì trệ là do phẩm
chức, đạo diễn cho trò tự học. Người thầy giỏi là người thầy biết dạy cho trò
chất và năng lực của những con người trong xã hội. Phẩm chất và năng lực
biết tự học. Người học giỏi là người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự
tiềm ẩn trong mỗi con người, đó cũng chính là nội lực ẩn náu trong con người.
học thuộc quá trình cá nhân hóa không có nghĩa là học một mình, đơn thân
Ta có thể hiểu: Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng
độc mã, mà học trong sự hợp tác với các bạn, trong môi trường xã hội, dưới
tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau, ta có thể
sự hướng dẫn của nhà giáo.
sơ đồ hóa khái niệm như sau:
Năng lực tự học - nội lực sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của
thầy và sự hợp tác của các bạn - ngoại lực. Ngược lại tác động của thầy, cô và
Năng lực = Cách học Kỹ năng Nội dung Tình huống Vấn đề
25
học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao
và mang đậm nét sắc thái cá nhân.
Như vậy, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập
cao của từng cá nhân.
Và khi nói đến học thì đương nhiên là phải tự học, không thể ai học
thay được. Song có hai cách học cơ bản:
- Một là, cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào như kiểu hình
thành phản xạ cổ điển của Paplốp.
- Hai là, cách học chủ động, tự bản thân mình tạo nên các phản xạ có
điều kiện, như kiểu hình thành phản xạ tác động. Và về "Cách tự học" thì mỗi
người một vẻ, tùy theo tư chất và hoàn cảnh, điều kiện sống của mình mà mỗi
người có cách học riêng. Vì vậy mà ta thấy được: Ngày xưa không có các
Từ đó, ta hiểu năng lực tự học là: Nội lực phát triển bản thân của
người học. Trong bất cứ con người Việt Nam nào, trừ những người bị khuyết
tật, tâm thần, đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá: đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự
đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày của mình.
1.4. VAI TRÒ CỦA NĂNG LỰC TỰ HỌC
Năng lực tự học sáng tạo đã làm nên biết bao nhiêu nhà quân sự, chính
trị, khoa học, văn hóa lỗi lạc của đất nước. Biết bao anh hùng dân tộc từ
những người nông dân, công nhân, chiến sĩ bình thường trong lịch sử dựng
nước và giữ nước.
Chính năng lực tự học sáng tạo đã làm nên vị lãnh tụ vĩ đại của dân
tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới - đó là Hồ Chí Minh.
Năng lực tự học có vai trò:
* Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận
thức trong tình huống học.
* Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu
kết quả học tập lại phụ thuộc vào sự cố gắng tự học của mỗi người bắt đầu
ngay từ khi nghe giảng, người này có thể nghe thầy giảng một cách chăm
chú, người kia nghe giảng lơ đãng, thế là phần tự học đã khác nhau rồi.
nhưng ít ai nghĩ đến "cách đạt tới mục tiêu" và "cách vận dụng mục tiêu
Tự học, hiểu như vậy có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không
mỗi khi đạt tới để đi đến những mục tiêu mới xa hơn, cao hơn". Không
có thầy, không có sách. Trong trường hợp này, người học có thể tích lũy thêm
những như vậy, thì nhận thức về sự học vẫn nông cạn, nhiều nội lực tiềm
được kinh nghiệm, thêm kiến thức, nhiều sự cọ xát với thực tiễn, và con
tàng vẫn nằm im không được khơi dậy. Nếu khơi dậy ta cần chú ý tới việc
người từ 2 tháng tuổi trở đi đã biết tự học như vậy.
khơi dậy những năng lực tự học cơ bản như: năng lực tư duy, năng lực
Cách học không thầy, không sách, thả nổi như vậy cũng có thể có
phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tự học. Trong đó cần khơi dậy
kết quả tích cực nhưng kết quả lâu đến vì không có hệ thống và chiều sâu
năng lực tự học của người học, mà năng lực tự học của người học, có
chức có hiệu quả cao như tổ chức tra cứu có mục đích, có phương hướng,
có phân công, hợp tác, có tài liệu, trang thiết bị hỗ trợ.
Tự học hoàn toàn là mức mà mọi người phải đạt đến nếu muốn học
suốt đời.
Nhưng hiểu như vậy cũng vẫn là hẹp hòi vì ngay cả khi có thầy bên cạnh thì
Và không có thầy thì có thể hỏi sách. Hỏi sách này không được thì
thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy dù sao
hỏi sách khác. Nhưng sách khác đó là sách gì? Thì nhiều khi cũng phải động
29
30
não mới biết là nên tìm sách gì, tìm sách đó ở đâu làm sao mà tìm được. Tìm
+ Tự trình bày
được sách lại phải biết chọn những chương nào, trang nào để học. Trong lúc
+ Ứng dụng
đọc lại thấy cần đọc thêm sách khác, biết tìm sách mà đọc, biết độc lập làm
+ Tóm tắt nội dung
- Phải lo tạo động lực cho người học, giúp họ có sức chiến thắng các
khó khăn, nhất là ở giai đoạn đầu.
Hoạt động khám phá
Hoạt động học
- Không được làm gì để cho tư tưởng ỷ lại phát sinh ở họ, đặc biệt thi
Đối tượng
cử phải nghiêm túc để chặn đứng ở họ hy vọng được chiếu cố, châm chước.
- Thu thập thông tin
+ Qua đọc sách giáo khoa, tài liệu
- Tạo được những điều kiện tối thiểu (nhất là điều kiện giáo trình) cho
họ học.
+ Qua quan sát
Thật vậy, để tạo được động lực cho người học (gợi mở, khuyến khích
+ Qua tư liệu, mạng internet
để hình thành năng lực tự học cho SV), GV dạy cho SV một số phương pháp
+ Qua thí nghiệm
tự học (dựa trên mô hình học có hướng dẫn giáp mặt) trên đây đó là:
+ Trong nước
+ Phương pháp đọc
+ Sử dụng từ điển nước ngoài.
+ Đọc sách tham khảo
* Các phương pháp xử lý thông tin:
+ Cách ghi chép.
- Diễn đạt ý:
- Phương pháp hỏi: Cần:
+ Tự nêu ra những câu hỏi để tự trả lời
+ Hỏi bạn
+ Hỏi thầy
- Nghe bài giảng và ghi chép: Nên chú ý:
+ Ý nghĩa của bài giảng và ghi chép.
+ Chuẩn bị nghe giảng
+ Nghe giảng ở trên lớp
+ Cách ghi chép.
+ Xem lại và chỉnh lý bản in.
- Phương pháp ghi nhớ thông tin
+ Nhẩm lại.
+ Sắp xếp.
+ Tổ chức.
- Học "Tập trung tư tưởng cao độ":
34
Như chúng ta đã biết, quy trình cơ bản của quá trình dạy học là "Sự
thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp, được thể hiện:
Mục đích
+ Thời một
+ Thời hai
+ Thời ba
- Xêmina, một hình thức thảo luận ở Đại học:
Nội dung
Phương pháp
Mục đích ở Cao đẳng và Đại học là trang bị tri thức chuyên sâu và
phát triển năng lực chuyên ngành.
Cụ thể mục tiêu cách học, học phần Động vật học có xương sống cũng
giống như mục tiêu cách học chung, đó là: Cách nhận biết vấn đề, cách thu
+ Vị trí, tác dụng của Xêmina.
nhận thông tin, cách xử lý thông tin, cách hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều
+ Công tác chuẩn bị Xêmina.
chỉnh.... và các kỹ năng tương ứng.
+ Yêu cầu đối với hoạt động của người học trong quá trình Xêmina.
dạy học phần "Động vật học có xương sống"
- Chỉ ra những đặc điểm chung của lớp chim thích nghi cao độ với đời
sống bay lượn.
- Chỉ ra đặc điểm riêng của chim có tập tính tiến hóa cao.
* Cuối cùng đưa ra phương pháp dạy - học:
35
36
Có thể áp dụng phương pháp dạy - học theo cách giải quyết vấn đề. Ta
có quy tình gồm 6 bước liên tiếp như sơ đồ dưới đây:
hiện ra đã được giải quyết đến mức độ nào, thường là dựa trên những mặt
chất lượng, hiệu quả và triển vọng.
1.6.2. Khả năng hình thành năng lực tự học trong dạy học phần
Xác định vấn
đề
"Động vật học có xương sống"
Theo khuyến cáo của UNESCO (1996) thì mục đích đào tạo ở tiểu học
Thu thập và
phân tích tổng
hợp thông tin
Đánh giá
sự can thiệp
Thật vậy, nếu để hình thành và phát triển năng lực tự học cho SV ta có
thể dựa vào:
* Yếu tố thứ nhất: Là yếu tố tăng cường hướng dẫn học trong giờ lên
- Dựa vào giáo trình
lớp giáp mặt người học thì ta càng thấy rõ được cách bố trí trình bày nội dung
- Tài liệu tham khảo
của giáo trình hợp lý với mục đích môn học và từ đó ta có thể hình thành cho
Bước 3: Tìm giải pháp. Xây dựng cấu trúc nội dung chương
sinh viên năng lực tự học như:
Bước 4: Xây dựng một kế hoạch hành động: Dựa vào sự phân phối
chương trình giáo trình- Chương này học bao tiết để phân bổ hợp lý.
Bước 5: áp dụng kế hoạch hành động: Từng tiết tương ứng với từng
nội dung cần đạt.
Bước 6: Đánh giá sự can thiệp: Nhằm mục đích xác định giá trị của
nội dung so với những chỉ tiêu đề ra, tập trung vào xem xét những vấn đề phát
Mục đích
Nội dung
Phương pháp tự học
Mục đích của học phần: "Động vật học có xương sống" là:
+ Hoặc lập bảng
động vật.
+ Hoặc sơ đồ hóa
Chính xuất phát từ mục đích chung của giáo trình "Động vật học có
+ Hoặc hình vẽ...
xương sống" như vậy mà việc trình bày nội dung cho mỗi lớp đều phân bố
- Về chất: Càng về cuối giáo trình càng hướng về việc xây dựng câu
theo các mục như sau:
I- Đặc điểm chung
hỏi, bãi tập, giúp cho người học tự mình nêu ra được nhiệm vụ học tập,
phương pháp học, câu hỏi để kiểm tra, đánh giá kết quả học. Như vậy, thay
II- Cấu tạo và hoạt động sống
việc giáo viên nêu mục tiêu bài học là nêu các câu hỏi để hướng dẫn học, nêu
III- Phân loại
câu hỏi để người học tự kiểm tra, bằng việc người học nêu ra được mục tiêu
IV- Sinh thái học
V- Nguồn gốc
sống.
- Về lượng: Càng về cuối giáo trình, tỉ lệ thời gian dành cho thuyết
giảng so với hướng dẫn học càng giảm.
Sau khi nêu vấn đề (đó là tên cho một chủ đề), GV có thể nêu câu hỏi
thay cho phần nêu mục tiêu của chủ đề này như sau:
39
+ Câu hỏi 1: Vị trí chương VIII đặt sau cả thảy 7 chương cùng với tên
chủ đề như vậy em có nhận xét gì về việc bố trí thứ tự các chương của giáo
trình không?
+ Câu hỏi 2: Vậy thì chương VIII nhằm mục đích gì?
+ Câu hỏi 3: Với mục đích của chương như vậy em hãy nêu cách học
các nội dung của chương?
* Như vậy là từ yếu tố "Hướng dẫn học" như trên mà ta có thể thực
hiện tiếp được yếu tố thứ hai là: Tạo điều kiện thuận lợi để người học tự thể
hiện mình ở chỗ: Sau khi GV nêu ra một loạt câu hỏi như trên thì ở mỗi SV
(hoặc nhóm nhỏ) sẽ có suy nghĩ riêng để xác định mục tiêu của chủ đề này,
cũng như xây dựng cấu trúc nội dung của chủ đề với những cách khác nhau.
* Xuất phát từ hai yếu tố trên, ta cần yếu tố thứ ba là: tạo điều kiện để
người học được tự kiểm tra, tự đánh giá.
Thật vậy, sau yếu tố thứ hai, thì rõ ràng rằng mỗi sinh viên (hoặc
nhóm) có những sản phẩm (hay kết quả nghiên cứu riêng) khi được góp ý, bổ
sung, hoặc tranh luận với nhau. Sau đấy, dưới sự cố vấn, trọng tài của GV với
những tổng kết tối ưu mà SV có thể tự kiểm tra, tự đánh giá được mình. Cũng
có thể, GV đưa ra câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận,
+ Anh (chị) đã sử dụng phương pháp dạy học nào để hình thành năng
lực tự học cho SV?
+ Phương pháp dạy học mà anh (chị) dùng để giảng dạy học phần "Động
vật học có xương sống" theo hướng hình thành năng lực tự học cho SV có
được sử dụng thường xuyên hay không?
1.7.1.2. Phương pháp trò chuyện
41
42
Chúng tôi tiến hành trò chuyện trực tiếp với SV trong khoa Tự nhiên
và các GV giảng dạy bộ môn của khoa tự nhiên một cách khách quan, để thu
thập tài liệu cho việc nghiên cứu với các nội dung như sau:
học học phần "Động vật học có xương sống" qua dự giờ và phỏng vấn. Kết
* Đối với SV: Chúng tôi trao đổi với sinh viên về các nội dung như:
- Trao đổi để hiểu SV đã xây dựng phương pháp tự học của mình như
thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến phương pháp tự học của SV?
* Đối với GV: Trao đổi, trò chuyện để thu thập tài liệu cho việc
nghiên cứu đề tài với nội dung:
- GV đã sử dụng những phương pháp dạy học nào để hình thành năng
lực tự học cho SV?
- Trong khi giảng dạy giáo viên đã khích lệ năng lực tự học cho SV
bằng biện pháp nào?
1.7.1.3. Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát cách học của SV ở trên lớp, trên thư viện
chúng có đặc điểm gì về cấu tạo và hoạt
động sống như thế nào?
Sau đó GV dùng phương pháp thuyết
trình để nêu
Hoạt động của trò
I- Đặc điểm chung
II- Cấu tạo và hoạt động sống
1) Cấu tạo ngoài bò sát
- Hình dạng cơ thể
- Vỏ da
Tiếp tục vẫn là phương pháp thuyết 2) Cấu tạo trong: Gồm các hệ cơ quan
trình nêu
- Bộ xương
- Hệ cơ
- Hệ tiêu hóa
- Hệ hô hấp
- Hệ tuần hoàn
43
- Hệ thần kinh
- Giác quan
- Hệ bài tiết
- Hệ sinh dục
- Sự phát triển của phôi
Cũng vẫn với phương pháp thuyết trình III. Phân loại bò sát hiện nay
hình thành năng lực tự học cho sinh viên các trường CĐSP
vấn đề nhưng chưa thường xuyên.
- Hai là: Trong giờ lên lớp, GV chỉ chú trọng đến việc trang bị kiến
thức mà chưa chú ý yếu tố hình thành năng lực tự học cho SV. Như ở ví dụ
trên, GV chưa tổ chức cho SV năng lực tự xác định mục tiêu bài học, trên cơ
sở đó mà xây dựng cấu trúc nội dung bài học.
Tuy ở cuối bài giảng, GV có ra bài tập về nhà là xác định mục tiêu của
chương sau và nêu nội dung cần đạt của chương.
Chính vì cách giảng dạy như trên, nên khi điều tra về thực trạng học
của SV ở các trường CĐSP, chúng tôi thu được kết quả như sau:
1.7.2.2. Đối với sinh viên
* Thực trạng nhận thức (ý thức) về vấn đề hình thành năng lực tự học
ở SV CĐSP.
Trường CĐSP Bắc Ninh
Số bài đạt Tổng số Tỉ lệ %
Tốt
2
27
7.4
Khá
10
27
37.0
Trung bình
13
27
48.2
Yếu
45
46
- Đối tượng điều tra:
Qua bảng 1.2 chúng tôi có một số nhận xét:
+ Sinh viên năm thứ nhất - lớp Hóa - Sinh K24 - khoa tự nhiên -
- Một là: Kết quả về thực trạng năng lực tự học vốn có ở SV của cả
trường CĐSP Bắc Ninh
hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang là tương đương nhau.
+ Sinh viên năm thứ ba - lớp Hóa - Sinh K22 - Khoa tự nhiên trường
CĐSP Bắc Giang
- Hai là: Kết quả về năng lực tự học có được ở cả hai trường CĐSP là
còn thấp (tương đương tỉ lệ 14/27 và 15/32)
- Địa bàn điều tra: Trường CĐSP Bắc Ninh và Trường CĐSP Bắc
- Ba là: Cả hai trường CĐSP Bắc Ninh và Bắc Giang đều tồn tại SV
đạt điển kém tức là đạt điểm 3 và cả hai trường đều không có SV đạt điểm
Giang.
- Nội dung điều tra: Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi đã tiến
27
44,4
13
32
41
7 Đ < 8
2
27
7,4
2
32
6,2
8 Đ 10
0
27
Bảng 1.3: Tổng hợp kết quả điều tra kỹ năng xác định mục tiêu bài học.
Kết quả
Các tiêu chí
CĐSP Bắc Ninh
(tổng số 27 bài)
4. Lựa chọn được cấu trúc bài
hợp lý
5
18,5
7
21,9
Qua số liệu của bảng 1.3, bảng 1.4 ta nhận thấy:
* Về mặt định lượng:
- Thứ nhất: Kết quả đánh giá các kỹ năng trong mỗi nhóm của SV ở
hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang là tương đương nhau.
- Thứ hai: Mức độ đạt yêu cầu của các kỹ năng trong mỗi nhóm SV
CĐSP Bắc Giang
(tổng số 32 bài)
của cả hai trường CĐSP Bắc Ninh và CĐSP Bắc Giang là còn thấp.
Thể hiện:
18
56,3
thấp (tỷ lệ này tương ứng ở hai trường lần lượt là 18,5% và 18,7%).
3. Nêu đúng, đủ về mục tiêu
và nội dung
6
22,2
7
2,8
hơn song cũng chưa đáng kể (tỷ lệ này tương ứng ở hai trường lần lượt là
4. Diễn đạt mục tiêu đúng, rõ
ràng, mạch lạc
5
18,5
6
18,7
1. Xác định được nội dung cơ
bản của bài học.
16
59,3
18
56,7
2. Xây dựng được mô hình
cấu trúc nội dung bài học
9
33,3
11
34,4
3. Phát hiện được kiến thức
cần mở rộng, làm rõ
5
18,4
- Chưa biết phân tích kiến thức cơ bản trong bài học như: SV thường
dựa vào những hàng chữ in nhỏ, in nghiêng trong bài học.
- Hoặc dựa vào phần kết luận (tóm lại) ở cuối bài học để tìm ra những
ý chính.
- Đa số SV còn rất hạn chế về khả năng phát hiện ra những chỗ cần bổ
sung, chỉnh sửa, cần giải thích.
+ Nêu đặc điểm chung của lớp bò sát.
- Đặc biệt, SV chưa biết cách phân tích cấu trúc logic nội dung bài học.
+ Nắm được cấu tạo và hoạt động sống bò sát.
Ví dụ: Khi tiến hành kiểm tra một SV lớp hóa sinh K22 - khoa Tự
+ Phân loại được bò sát hiện nay.
+ Nắm được đặc điểm sinh thái học, nguồn gốc và sự tiến hóa của bò sát.
+ Hiểu được giá trị kinh tế của bò sát.
nhiên ở trường CĐSP Bắc Giang, đã phân tích nội dung bài học: lớp bò sát
(Reptilia) - giáo trình Động vật học có xương sống - dùng cho CĐSP như sau:
Bài gồm các nội dung chính như sau:
- Kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng quan sát, so sánh.
I: Đặc điểm chung của lớp bò sát.
- Thái độ: Giáo dục lòng yêu quý thiên nhiên.
II: Cấu tạo và hoạt động sống.
việc xây dựng cấu trúc nội dung cơ bản của bài học mới được thiết kế chuẩn
tại sao giáo trình lại trình bày theo cấu trúc như vậy. Vì vậy, SV chưa lựa chọn
xác.
được cấu trúc bài hợp lý.
Về kỹ năng phân tích nội dung bài học: Nhìn chung SV mắc phải:
1.7.3. Nguyên nhân của thực trạng