Sản khoa
16
BS. H. Trent Mackay, BS. Arthur T. Evans - GS. Nguyễn Khắc Liêu
CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT THAI NGHÉN
Chẩn đoán thai nghén càng sớm càng cố lợi, khi một phụ nữ đang ở độ tuổi
hoạt động tình dục mất kỉnh hay cố những triệu chứng gợi ý thai nghén. Trong
trường hợp thai nghén mong muốn, cố thể bắt đầu sớm chăm sốc trước đẻ về việc
sử dụng thuốc và những hoạt động cố hại như thuốc ngủ, rượu, thuốc lá, biểu hiện
liên quan đến hoá chất nghề nghiệp cổ thể ngừng lại. Trong trường hợp thai
nghén ngoài ý muốn, cố thể tư vấn đình chỉ thai nghén vào giai đoạn sớm.
C ác test thai nghén
Tất cả những test nước tiểu hoặc máu để xác định thai nghén đều dựa vào việc
phát hiện hCG được chế tiểu bởi rau thai. Sau khi thụ thai (trứng làm tổ, lượng
hCG tăng lên sớm, cứ sau 48 giờ tăng xấp xỉ hai lần, đạt tới đỉnh cao sau 50 - 75
ngày và hạ xuống mức độ thấp hơn vào quí hai và quí ba. Những test thai nghén ở
phòng xét nghiệm và tại nhà bây giờ sử dụng những kháng thể đơn dòng đặc hiệu
với hCG. Những test nước tiểu hoặc huyết thanh này tại thời điểm mất kinh hoặc
sau đó ít lâu là chính xác.
So với chửa trong tử cung, chửa ngoài tử cung cố lượng hCG có thể thấp hơn
và giữ nguyên mức đọ hoặc giảm xuống trong một loạt các test thử liên tiếp. Xét
nghiệm định lượng hCG lặp lại trong khoảng 48 đến 72 giờ được sử dụng trong
chẩn đoán chửa ngoài tử cung, cũng như trong những trường hợp chửa trứng, doạ
sẩy thai, thai chết lưu. Việc so sánh lượng hCG giữa các phòng thí nghiệm cố thể
mang lại kết quả không chính xác ở cùng một bệnh nhân bởi vì các mẫu thử
nghiệm quốc tế khai thác dẫn đến thay đổi một trong hai yếu tố.
Những biểu hiện thai nghén
(vào quí ba), thuốc ngủ (sử dụng kéo dài)
Kháng sinh
Aminoglycosid, cloramphenicol,
Tetracyclin, trimethoprim,
Sulfonamid (vào quí ba)
Các thuốc chống nấm
Ketoconazol
Griseofulvin,
Các thuốc diệt ký sinh trùng
Thuốc chống co giật
Aminoglutethimid, ethotoin,
phenytoin, paramethadion
trimethadion, acid valproic
Thuốc chống đái tháo đưòng
Thuốc uống hạ đưòng huyết
Thuốc điều trị cao huyết áp
Diazoxid , các thuốc IỢỈ tiểu
thiazid , reserpin
Thuốc chống ung thư
Tất cả các loại
Các thuốc kháng giáp trạng
lod phóng xạ, propylthiouracil, methimazol
Disulfiram (Antabuse)
Lindan, mebendazol,
Ergotamin
Fansidar (sulfadoxin và
NHỮNG VẤN ĐỀ CO BẢN CHẦM SÓC TRƯỚC ĐỂ
Sau khi xác định cố thai thảm khám đầu tiên trước khi sinh cần tiến hành
càng sớm càng tốt và bao gồm các bước sau đây.
Bệnh sủ
Tuổi, dân tộc, nghề nghiệp. Bắt đầu của kỳ kinh cuối và tính chất bình thường
của nổ, thời điểm cđ thể thụ thai, chảy máu sau kỳ kinh cuối, tiền sử bệnh tật, tất
cả những lần thai nghén trước (thời kỳ thai nghén, kết quả, và những biến
chứng), triệu chứng của lần thai nghén này. Hỏi về sử dụng thuốc ngủ, rượu,
thuốc lá, cà phê, thổi quen ăn uống (bảng 16-1). Tiền sử gia đình về dị dạng bẩm
sinh và những bệnh di truyền.
Thăm khám thực thế
Đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, khám toàn cơ thể, khám bụng và khung
chậu để: (1) Đánh giá kích thước tử cung hoặc đo chiều cao đáy tử cung; (2) Đánh
giá xương chậu về sự cân đối và phát triển đầy đủ; (3) Đánh giá cổ tử cung về cấu
trúc giải phẫu, viêm nhiễm, xoá hay mở cổ tử cung; (4) Phát hiện tiếng tim thai
bằng siêu âm sau 6 tuần hoặc bằng máy Doppler sau 10 tuần.
Xét nghiệm
Xét nghiệm nước tiểu, nuôi cấy mẫu nước tiểu sạch giữa dòng, đếm máu toàn
phần với chỉ số so sánh hồng cầu, thử nghiệm huyết thanh học về giang mai, định
giá kháng thể rubella, nhổm máu, loại Rh, sàng lọc kháng thể không điển hình, và
đánh giá yếu tố kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg). Nên sàng lọc virus
gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) cho tất cả phụ nữ mang thai.
Nếu cố chỉ định về mặt lâm sàng cần cấy bệnh phẩm ở cổ tử cung tìm lậu cầu,
khuẩn chlamydia, cùng với làm phiến đồ Papanilolaou của cổ tử cung. Điện di
hemoglobin cho những phụ nữ thiếu máu da đen hoặc gốc Địa Trung Hải (Hb s,
Những phụ nữ hút thuốc nên bỏ hoặc ít nhất cũng giảm số điếu thuốc hút hàng
ngày đến mức hút càng ít càng tốt.
E. X quang và tiếp xúc chất độc: Tránh tia X trừ trường hợp cần thiết và được thầy
thuốc chấp nhận - Báo cho bác sĩ nha khoa và các bác sỉ khác là đang cố thai để
tránh rủi ro do hoá chất hoặc phổng xạ. Tránh nống quá mức trong bồn tắm nống
hoặc buồng tắm hơi. Tránh đụng vào phân mèo hay ổ mèo. Đeo găng tay khi làm
vườn.
F. Nghỉ ngơi và hoạt động: Cần được nghỉ ngơi thích hợp mỗi ngày. Tránh công việc
hoặc hoạt động thể lực cảng thẳng, đặc biệt khi cần phải nâng hoặc mang nặng.
Tập thể dục đều đặn ở mức độ nhẹ đến trung bình. Tránh thể dục mệt quá hoặc
môn thể thao nguy hiểm hoặc những chương trình rèn luyện điền kinh mới trong
lúc mang thai. Nên giữ nhịp tim dưới 140 lần/phút trong khi tập.
G.
Những đồ dùng cho sinh đẻ: Khuyến khích người chồng cùng chịu trách nhiệm
chuẩn bị tốt đồ dùng cho quá trình sinh con trước thời gian dự kiến.
Nhũng thủ nghỉệm và thủ thuật
A. Mỗi lần thăm khám : Cân, đo huyết áp, đo chiều cao đáy tử cung, đếm nhịp tim
thai, lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm protein và đường. Hỏi những vấn đề liên
quan của bệnh nhân với thai nghén, sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng.
B. 6-12 tuần: Xác định kích thước và độ lớn của tử cung qua thăm khám tiểu
khung. Tiếng tim thai (co thể nghe được ở 10 - 12 tuần thai bằng siêu âm
1068
Doppler). Khi cần cố thể chỉ định lấy một mẫu nhung mao lá nuôi giữa 8 - 1 2
tuần.
c. 12 - 18 tuân: Tư vấn di truyền học với những phụ nữ sinh đẻ ở35 tuổi hoặc
hơn, hoặc những người với tiền sử gia đình bị các bệnh di dạng bẩm sinh, đứa trẻ
hiệu và triệu chứng chuyển dạ đẻ non hoặc vỡ ối trong mỗi lần khám. Đánh giá sự
nhận biết của người mẹ về cử động của thai qua mỗi lần thăm khám. Kiểm tra
thai trước đẻ được thực hiện khi có chỉ định y tế.
1069
L. 36 tuần đên ỉúc đẻ: Lặp lại thử nghiệm HIV và cấy bệnh phẩm cổ tử cung để
phát hiện lậu cầu khuẩn cho những bệnh nhân cố nguy cơ. Thảo luận với bệnh
nhân những chỉ báo của sự bắt đâu chuyển dạ, nhập viện theo dõi quản lý cuộc
chuyển dạ đẻ và sự lựa chọn thuốc giảm đau và gây tê. Việc khám cổ tử cung hàng
tuần là không cần thiết, trừ khi được chỉ định để đánh giá tình huống lâm sàng
đặc biệt. Cuộc đẻ được lựa chọn (bằng chỉ huy hay là mổ lấy thai) 39 tuần thai
nghén yêu cầu cần xác định mức độ trưởng thành của phôi thai nhi.
M. 41 tuần trở đi: Thăm khám cổ tử cung để xác định khả năng gây chuyển dạ
để thành công. Dựa và đố, mà cuộc đẻ chỉ huy được thực hiện nếu như cổ tử cung
thuận lợi, nếu không thuận lợi thì đánh giá thai trước đẻ sẽ được bắt đầu.
DINH DƯỠNG TRONG KHI CÓ THAI
Chế độ dinh dưỡng trong khi cố thai ảnh hưởng đáng kể đến sức khoẻ người
mẹ và kích thước, tình trạng khoẻ mạnh của đứa trẻ. Những phụ nữ mang thai
nên sớm được chỉ dẫn về chế độ ăn uống trong việc chăm sde trước đẻ và đưa vào
chương trình thức ăn bổ sung nếu họ thiếu nguồn dinh dưỡng phù hợp. Vịệc chỉ
dẫn phải nhấn mạnh vấn đề kiêng rượu, thuốc lá và ma tuý. Caffein và những
viên đường hoá học nhân tạo chỉ nên sử dụng với số lượng ít.
"Những chất rỗng calo" nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau:
thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa,
tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.
Tăng cân ở phụ nữ có thai nên đạt được 20 - 40 pao (9 - 18kg), bao gồm trọng
tốt cho thai, những phụ nữ ăn chay, họ không ăn trứng cũng như những sản phẩm
sữa nên cố chế độ ăn riêng sao cho protein và calori phù hợp và nên sử dụng
những thức ăn bổ sung vitamin B12 trong khi cđ thai và cho con bú.
DU LỊCH VÀ TIÊM CHỦNG TRONG KHI CÓ THAI
Trong trường hợp thai nghén bình thường, ít nguy cơ, việc đi xe cố thể được và
an toàn nhất vào giữa tuần thứ 18 đến tuần thứ 32. Chuyến bay thương mại trong
khoang điều áp không đe doạ đến thai nhi.
Một chỗ ngồi bên cánh trong khoang không hút thuốc sẽ cho phép đi lại thường
xuyên. Càn uống nước đầy đủ trong chuyến bay.
Không nên đi đến những vùng bệnh sốt vàng ở châu Phi hoặc châu Mỹ La Tinh
hoặc đến những vùng châu Phi hay châu Ấ nơi mà bệnh sốt rét falciparum kháng
chloroquin là mối nguy cơ. Vì rằng những biến chứng của sốt rét là khá thông
thường ở phụ nữ mang thai.
Một cách lý tưởng, tất cả những sự tạo miễn dịch nên làm trước khỉ cđ thai.
Những sản phẩm virus sống là chống chỉ định (sởi, rubeon, sốt vàng). Vacxin bại
liệt bất hoạt (Salk) co thể được sử dụng để thay thế vacxin uống. Những vacxin
chống viêm phổi phế cầu và viêm màng não do não cầu khuẩn cố thể được sử
dụng, nhưng độ an toàn của nổ trong thai nghén chưa được chứng minh.
Gama globulin lưu trữ để ngăn ngừa viêm gan A là an toàn và không mang lại
nguy cơ lây truyền HIV. Chloroquin có thể được sử dụng đề phòng bệnh sốt rét
trong khi mang thai, và proguanil cũng an toàn.
Nước nên được làm sạch bằng đun sôi, vì sự làm sạch bằng iod cđ thể cung cấp
nhiều iod hơn là mức an toàn trong khi cố thai.
Đừng sử dụng kháng sinh dự phòng hoặc bismuth subsalicylat trong khi mang
thai để đề phòng ỉa chảy. Uống dung dịch bồi phụ nước và điều trị ỉa chảy nhiễm
khuẩn bằng erythromycin hay ampicilin nếu cần thiết.
1071
miệng.
SẨY THAI Tự NHIÊN
Sẩy thai được định nghĩa khi kết thúc thai nghén trước tuần thứ 20 của thai
kỳ. Vào khoảng ba phần tư trường hợp sẩy thai tự nhiên xảy ra trước tuần thứ 16,
trong số đố ba phần tư xẩy ra trước tuần lễ thứ 8. Gần 20% tổng số thai nghén
nhận biết được về mặt lâm sàng kết thúc bằng sẩy thai tự nhiên.
Hơn 60% trường hợp sẩy thai tự nhiên là hậu quả của dị dạng nhiễm sắc thể
1072
do yếu tố người mẹ hoặc bố, khoảng 15% là do chấn thương, nhiễm khuẩn, thiểu
dưỡng, đái tháo đường, nhược năng tuyến giáp hay dị dạng giải phẫu eủa người
mẹ. Không cổ chứng cớ chắc chắn là sẩy thai cố thể xẩy ra do kích thích tâm thần
như là rất sợ hãi, sầu não, cáu giận hoặc lo âu.
Vào khoảng một phần tư các trường hợp, nguyên nhân sẩy thai không thể xác
định được. Hiện nay không cổ chứng cớ rằng đầu máy video hoặc lĩnh vực điện tử
phối hợp liên quan đến vấn đề tâng nguy cơ sẩy thai tự nhiên.
Điều quan trọng là phẫn biệt những phụ nữ cđ bệnh sử cổ tử cung thiểu năng
với những phụ nữ cđ nhiều lần sẩy thai sớm điển hình và với những phụ nữ cố đẻ
non, ối vỡ sớm. Về đặc điểm, cổ tử cung thiểu năng cố sự giãn cổ tử cung "âm
thầm" (nghĩa là có kèm co bốp tử cung chút ít) giữa 16 - 28 tuần tuổi thai.
Những phụ nữ cổ cổ tử cung thiểu năng thường co sự giãn mở cổ tử cung đáng
kể (2cm hoặc hơn) và rất ít triệu chứng. Khi cổ tử cung giãn tới 4cm hoặc hơn,
cơn co tử cung cố tác dụng hoặc vỡ màng ối cđ thể xảy ra sau đố tiếp đến độ mở cổ
tử cung. Điều đó không làm thay đổi chẩn đoán ban đầu. Những yếu tố làm cho cổ
tử cung thiểu năng là cố tiền sử cổ tử cung thiểu năng với lần thai nghén trước,
khoét chop hay phẫu thuật cổ tử cung, tổn thương cổ tử cung, dùng DES và
những bất thường và giải phẫu của cổ tử cung. Trước khi có thai hay trong 3
tháng đầu, không cố phương pháp gì để xác định liệu cổ tử cung cuối cùng sẽ là
thiểu năng hay không. Sau 14 - 16 tuần, siêu âm cổ thể được sử dụng để đánh giá
kinh cuối cùng, âm vang thai vào 6 tuần và hoạt động tim thai 6 - 7 tuần. Theo
dõi liên tiếp thường được yêu cầu để đánh giá thay đổi kích thước của phôi. Một
túi ối nhỏ không đều, không cổ âm vang thai thì chẩn đoán sẩy thai không tránh
được.
Chẩn đoán phân biệt
Chảy máu xảy ra trong sẩy thai trong tử cung phải được phân biệt đối với chảy
máu bất thường của chửa ngoài tử cung và chảy máu không phđng noãn ở người
không cổ thai. Sự tống ra ngoài những gai rau ứ nước trong máu chảy ra thì chấn
đoán là sẩy thai trứng.
Điều trị
A. Xử trí chung
1. Doạ sẩy thai: Để bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường trong vòng 24 - 48 tiếng,
tiếp theo là những hoạt động thường ngày bắt đầu trở lại từ từ, tránh giao hợp và
thụt tháo. Trị liệu hormon là chống chỉ định. Kháng sinh chỉ nên được sử dụng
nếu cố dấu hiệu nhiễm khuẩn.
2. Thai lưu hoặc sẩy thai không tránh được: Điều này cần tìm lời khuyên giải
quyết số phận của thai và lập kế hoạch để kết thúc thai nghén bằng phương pháp
cố cân nhắc tại thời điểm đã được thầy thuốc và bệnh nhân chọn lựa.
Nong cổ tử cung rồi hút là phương pháp được chọn lựa. Viên đặt âm đạo
prostaglandin là cách làm cố hiệu quả.
B. Xừ trí ngoại khoa
1 . Sẩy thai không hoàn toàn: Lấy hết những thành phần của thai còn sđt lại trong
tử cung ngay lập tức. Giảm đau và phổng bế hai bên cổ tử cung là cđ ích tiếp theo
thăm dò tử cung bằng kìm hình bầu dục hoặc hút buồng tử cung.
2. Khâu vòng cổ tử cung và hạn chế các hoạt động: Đây là sự điều trị đúng chọn lựa
cho trường hợp cổ tử cung thiểu năng. Dải băng 5mm Mersilene được sử dụng để
tạo ra một loại mũi khâu tinh khiết vòng quanh cổ tử cung bằng cách dùng
phương pháp Me Donald cũng như phương pháp Shirodkar. Khâu vòng cổ tử cung
Toxoplasma gondi. Xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên và nghiên cứu chức năng
tuyến giáp (kể cả kháng thể giáp trạng) nên được làm. Phát hiện yếu tố chống
đông lupus và xét nghiệm kháng thể kháng nhân được chỉ định nếu như cố tiền sử
của hội chứng giống như lupus. Tổ chức niêm mạc tử cung nên được xét nghiệm
vào giai đoạn sau phổng noãn của chu kỳ để xác định sự đáp ứng đầy đủ của niêm
mạc tử cung với hormon. Khả năng của cổ tử cung phải được xác định và việc soi
buồng tử cung hay chụp tử cung được dùng để loại trừ u xơ dưới niêm mạc và
những dị dạng bẩm sinh. Phân tích thể nhiễm sắc (nhiễm sắc tố) của cả hai vợ
chồng loại trừ sự chuyển đoạn tương đồng (tìm thấy trong 5% cặp các vô sinh).
Những thực nghiệm gàn đây đã tập trung vào phức hợp tương hợp mô quan
trọng (MHC) của thể nhiễm sắc số 6 mang vị trí và những gen khác cổ thể ảnh
hưởng đến kết quả sinh sản. Nhiều đôi vợ chồng có sẩy thai liên tiếp đống gổp con
số đáng kể về kháng nguyên HLA và một số phụ nữ biểu hiện thiếu kháng thể
người mẹ phản ứng với lympho bào của người bố thông thường được tìm thấy ở
những phụ nữ bình thường sau khi sinh đẻ thành công. Các trung tâm cổ khả
năng xếp loại HLA cố thể xác định được những cặp vợ chồng mang gen bất
thường cđ thể đổng một vai trò trong sẩy thai liên tiếp. Phương pháp miễn dịch
tăng cường kháng thể người mẹ đáp ứng lại lympho bào của người bố vẫn còn
nằm trong thực nghiệm.
B. Điêu trị sau khi thụ thai: Cung cấp chăm sốc trước đẻ sớm và lập bảng thăm
1075
khám thường xuyên. Nghỉ ngơi hoàn toàn tại giường chỉ hợp đối với chảy máu
hoặc đau. Liệu pháp hormon sinh dục steroid theo kinh nghiệm là chống chỉ định.
Tiên luợng
Tiên lượng rất khả quan nếu như chữa được nguyên nhân sẩy thai.
CHỬA NGOÀI TỬ CUNG
thay đổi so với thai nghén sớm trong tử cung bình thường cứ hai ngày tăng lên
gấp đôi, hoặc là giảm xuống như xảy ra với sẩy thai tự nhiên.
1076
c. Ghi hình ảnh: Siêu âm cố thể cho thấy túi phôi thai 6 tuần kể từ kỳ kinh cuối và
thấy cực thai vào 7 tuần nếu như ở trong tử cung. Hình ảnh buồng tử cung rỗng
làm tăng nghi ngờ chửa ngoài tử cung lên rất nhiều, mà đôi khi có thể phát hiện
được bằng siêu âm đường àm đạo.
D. Những thăm khám đặc biệt: Chọc hút túi cùng Douglas bằng một kim chọc tuỷ
sống 18 sẽ khẳng định cđ máu trong ổ bụng. Soi ổ bụng để xác định chửa ngoài tử
cung cổ giá trị to lớn trước khi mổ bụng.
Chẩn đoán phân biệt
Những biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm gợi ý cố thai hoặc chẩn đoán cổ thai
sẽ phân biệt chửa ngoài tử cung với nhiều bệnh cấp tính của bụng như là viêm
ruột thừa cấp, bệnh viêm tiểu khung cấp tính, vỡ nang hoàng thể hoặc nang noãn
và sỏi tiết niệu. Tử cung to lên với những phát hiện lâm sàng tương tự với những
biểu hiện tìm thấỵ trong chửa ngoài tử cung thì cũng cố đặc điểm của một trường
hợp sẩy thai trong tử cung hay sẩy thai trứng. Nên nghi ngờ chửa ngoài tử cung
khi xem xét mô sẩy không thấy rau thai. Các bước cần phải tiến hành để chắn
đoán trực tiếp, bao gồm xét nghiệm vi thể tổ chức ngay, siêu âm và cứ sau 48 giờ
xét nghiệm hCG một lần. Bệnh nhân phải được báơ trước khả năng chửa ngoài tử
cung và phải được theo dõi sát sao.
Điều trị
Bệnh nhân được nhập viện, nếu như cổ vẻ cố lý là chửa ngoài tử cung. Xét
nghiệm nhóm máu và phản ứng chéo. Lý tưởng là chẩn đoán và xử trí phẫu thuật
ngay trước khi vỡ vòi trứng và chảy máu trong ổ bụng.
nđ xảy ra ở những bà mẹ tiếp xúc ít với tinh trùng (sử dụng phương pháp vật cản
tránh thai) hoặc có người chồng mới, ở những người con so và ở những phụ nữ mà
cả hai bố mẹ họ cố kháng nguyên HLA giống nhau. Những nghiên cứu xét nghiệm
gần đây gợi ý rằng đó là do rối loạn nội mô do hậu quả tưới máu rau thai kém, giải
phđng ra một yếu tố, cố lẽ là lipid peroxid làm tổn hại nội mô và gây ra biến đổi
thăng bằng prostacyclin - thromboxan. Điều đổ dẫn đến hoạt hoá đông máu và
tăng nhạy cảm với chất tăng huyết áp. Mặc dù những thay đổi rau thai đã bắt đầu
trong ba tháng đầu, vấn đề không nhận biết được về mặt lâm sàng đến tận nửa
sau của thời kỳ thai nghén. Trước khi hội chitng biểu hiện lâm sàng, cố sự co
mạch toàn bộ, gây ra tăng toàn bộ lực cản ngoại vi và làm giảm lượng huyết tương
và luồng máu. Tiếp tục co mạch càng kéo dài thì khả năng biến đổi bệnh lý phối
hợp trong các cơ quan người mẹ, kể cả rau thai càng lớn với những ảnh hưởng đối
nghịch cho thai.
Không.cđ cách ean thiệp nào tỏ ra là cố giá trị để làm giảm tần suất xẩy ra hay
tính nghiêm trọng của quá trình qua nghiên cứu một cách khách quan bao gồm
lọt tiểu, chế độ ần hạn chế hoặc tăng cao, hạn chế muối, và bổ sung vitamin
khoáng. Cách cứu chữa duy nhất là đình chỉ thai nghén tại thời điểm càng thích
hợp càng tốt để cân nhắc điều kiện bệnh tật của người mẹ.
Những nghiên cứu lâm sàng gần đây gợi ý rằng liều thấp aspirin (lOOmg hàng
ngày bắt đầu vào quý ba) làm giảm tần suất tiền sản giật ở những phụ nữ cổ nguy
cơ cao bị bệnh này. Một nghiên cứu tương tự ở những phụ nữ đã eđ tăng huyết áp
nhẹ do thai nghén chỉ ra rằng aspirin đã không khắc phục được những tình huống
này.
Nghiên cứu tìm kiếm thử nghiệm để tiên đoán chính xác người phụ nữ nào sẽ
cđ nguy cơ trong khi cố thai đang tập trung vào chức năng tiểu cầu bị biến đổi
hoặc cđ thể yếu tố tăng trưởng liên quan đến những thay đổi nội mô bất thường
tại vị trí bánh rau.
1078
thị bất thường nổi bật. Sự tăng huyết áp khố nhận ra đạt đến tiêu chuẩn tăng
30/15 mm Hg nhưng khi đo vẫn dưới 140/90 mmHg là cđ ý nghĩa nhưng cố thể bị
bỏ qua. Thiếu một hoặc hai yếu tố không loại trừ chần đoán tiền sản giật - sản
giật và rất nhiều phụ nữ có rối loạn sớm mà không biểu hiện triệu chứng. Vậy thì
chẩn đoán ở giai đoạn sớm đòi hỏi phải chú ý cẩn thận đến chi tiết và chỉ số nghi
ngờ cao.
Phát hỉện lâm sàng
Về lâm sàng tính chất nghiêm trọng của tiền sản giật - sản giật cđ thể được
đánh giá bằng cách xem xét những ảnh hưởng của nđ ở sáu phạm vi chính: hệ
thống thần kinh trung ương, thận, gan, hệ thống huyết học và mạch máu và đơn
vị thai nhi- rau thai. Bằng cách đánh giá mỗi một trong những phạm vi này đối
với sự hiện diện tiền sản giật nhẹ, trung bình, nặng, mức độ liên quan có thể được
đánh giá và một kế hoạch theo dõi quản lý thích hợp có thể được thiết lập và nđ
được kết hợp với việc đánh giá tuổi thai (bảng 16-2).
A. Tiền sản giật
1. Nhẹ đển trung bình: Sự phân biệt chính xác giữa tiền sản giật nhẹ và trung
1079
bình là khổ vì những bất thường để xác định bệnh là hoàn toàn thay đổi và khống
tiên đoán được chính xác diễn biến đến bệnh nặng hơn. Do đó, hai hình thái này
của bệnh thường được cân nhắc phối hợp đánh giá lâm sàng. Những triệu chứng
nhìn chung là tối thiểu hoặc nhẹ với tiền sản giật nhẹ, bệnh nhân thường ít kêu
ca, và huyết áp tâm trương dưới 90 - 100 mm Hg. Phù thường là rõ ràng hơn
trong bệnh trung bình, và huyết áp nằm trong khoảng 90-110 mm Hg. Đếm tiểu
câu trên 100.000/^1. Đánh giá thai trước để cho yên tâm, sự kích thích của hệ
thống thần kinh trung ương là tối thiểu, không đau vùng thượng vị và những
enzym của gan là không tăng quá mức.
Bảng ỉ 6-2, Những chỉ báo của tiền sản giật - sản gẫật từ nhẹ đến trung bình, nặng
Protein niệu
0,3-0,4 g/24 giò
Gan
Bài tiết nưóc tiểu
AST, ALT, LDH
>20-30 ml/giò
BÌnh thường
Huyết áp
Võng mạc
160/110 mm Hg
Chảy máu võng mạc
Tiểu cầu
>100.000/^1
Tăng
Đau vùng thượng vị
2.
Thể nặng: Các triệu chứng kéo dài và nguy kịch hơn. Huyết áp thường cao với
số đo trên 160/110 mmHg. Việc dùng thuốc hạ huyết áp (luôn làm giảm huyết áp
tới mức