MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp giáo dục của nhân dân Việt Nam trong những năm qua đạt được nhiều
thành tựu đáng tự hào, góp phần đắc lực vào quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước. Bên
cạnh những thành tựu đã đạt được, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, giáo dục - đào tạo
còn có một trong những thiếu sót là: Chưa nghiên cứu một cách hệ thống để kế thừa các
tư tưởng và di sản giáo dục của cha ông, chưa tiếp thu được đầy đủ và kịp thời những
thành tựu giáo dục của thế giới. Hay nói cách khác, chưa giải quyết tốt vấn đề kết hợp
truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta, đây là một trong
những mâu thuẫn mà giáo dục hiện đại phải đương đầu.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão,
qúa trình giao lưu quốc tế trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội được tăng cường, phát
triển với tốc độ nhanh. Đa số các nước đều rất chú trọng chính sách giáo dục - đào tạo.
Để những chính sách đó không phải là sự sao chép, “lai căng”, không trở thành bóng mờ
của người khác, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề kết hợp truyền thống và hiện
đại trong quá trình đổi mới nền giáo dục - đào tạo đang được nhiều nước quan tâm, đặc
biệt là các quốc gia đang phát triển. Các nước này đang tò mò, trăn trở tìm lời giải cho sự
kết hợp truyền thống và hiện đại trên tất cả các lĩnh vực của đời sống tinh thần lẫn vật
chất, cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo (từ năm 1987 đến nay), bên cạnh những mặt
tích cực thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Việt Nam vẫn có khuynh hướng lệch lạc, chưa
khắc phục được những truyền thống xấu, lạc hậu của nền giáo dục cũ như chạy theo bằng
cấp, năng lý thuyết, coi nhẹ thực hành; có khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục;
môi trường giáo dục có chỗ chưa lành mạnh; phương pháp giảng dạy và học tập lạc
hậu…Những truyền thống của giáo dục như truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi
tronh giáo dục đạo đức… chưa phát huy đúng mức, do vậy sản phẩm của giáo dục có
khuynh hướng coi nhẹ hoặc phủ nhận những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc
được hun đúc trong hàng ngàn năm lịch sử và những thành quả của chủ nghĩa xã hội
trước đây.
sản, số 3/1981; Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển của GS
Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 2.1998; Giá trị truyền thống – nhân lõi và
sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc của PGS Nguyễn Văn Huyên,
Tạp chí Triết học, số 4/1998; Về truyền thống dân tộc của GS Trần Quốc Vượng, Tạp
chí Cộng sản, số 2/1981; Truyền thống và cách tân trong công tác giáo dục ở nước ta
của Hoàng Ngọc Di, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 9/1989; Truyền thống dân tộc và
tính hiện đại của truyền thống của Trần Đình Sử, Tạp chí Cộng sản, số 15/1996; Hồ
Chí Minh với văn hóa truyền thống và tiếp xúc văn hoá Đông - Tây của Phan Văn Các,
Tạp chí Cộng sản, số 13/1996; Thử thách đối với các giá trị truyền thống và hiện đại
trong quản lý giáo dục của Victor M.Ordonez, Tạp chí Đại chí Đại học và giáo dục
chuyên nghiệp, số 7/1998; Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng
nền văn hóa mới ở nước ta của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 1/1988; Văn hoá chính
trị Việt Nam, truyền thống và hiện đại của GS Nguyễn Hồng Phong, Nxb Văn hoá
Thông tin, Hà Nội,1998. Viện Thông tin khoa học xã hội đã sưu tầm và dịch ra tiếng
Việt tập hợp thành công trình Truyền thống và hiện đại trong văn hoá do Lại Văn Toàn
chủ biên, năm 1999, phản ánh quá trình tìm kiếm sự kết hợp truyền thống và hiện đại
trong văn hoá của các nước kinh tế phát triển.
2- Nhóm vấn đề liên quan đến truyền thống và đặc trưng của nền giáo dục cổ truyền
Việt Nam gồm có: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến
của Nguyễn Tiến Cường, Nxb Giáo dục, Hà Nội,1998; Lịch sử giáo dục Việt Nam
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Nguyễn Đăng Tiến chủ biên, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1996; Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945 của Vũ Ngọc Khánh; “một
nền giáo dục bình dân” của Vũ Đình Hoè; Khắc phục lối học hư văn khoa cử – nâng
cao chất lượng giáo dục của Phạm Minh Hạc; Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam
của Trần Văn Giàu, Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Đến hiện đại từ truyền thống của
Trần Đình Hượu, Nxb Khoa học xã hội, 1994; Truyền thống dân tộc trong công cuộc
đổi mới và hiện đại hoá đất nước của Phan Huy Lê, Nxb Hà Nội, 1995…
3- Nhóm vấn đề liên quan đến những thành tựu của nền giáo dục thế giới trong lịch
dung, chương trình giảng dạy, tổ chức… Chưa có một chuyên khảo riêng và kết hợp
giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
Nhưng những kết quả nghiên cứu trên là một trong những luận cứ, cơ sở của luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
a) Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng nhận thức và vận dụng sự kết hợp truyền thống và hiện
đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở nước ta trong những năm gần đây,
luận án góp phần đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện nhận
thức và nâng cao khả năng vận dụng sự kết hợp đó vào quá trình đổi mới giáo dục - đào
tạo trong những năm trước mắt.
b)Nhiệm vụ:
- Luận chứng tính tất yếu phải kết hợp những giá trị truyền thống với những nhân tố
hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo.
- Tìm hiểu thực trạng kết hợp truyền thống và hiện đại trong giáo dục đào tạo ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp để thực hiện tốt việc kết hợp truyền
thống với hiện đại trong giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung giải quyết dưới góc độ triết học vấn đề lý luận về kết hợp giữa truyền
thống và hiện đại trong giáo dục - đào tạo và vận dụng lý luận này vào quá trình đổi
mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
-Góp phần làm sáng tỏ thực trạng vận dụng kết hợp truyền thống và hiện đại trong
giáo dục - đào tạo ở Việt Nam những năm gần đây.
-Đưa ra những phương hướng và giải pháp khả thi đảm bảo sự kết hợp truyền thống
và hiện đại trong giáo dục - đào tạo trong những năm trước mắt.
1.1.1.1. Khái niệm “truyền thống”
Truyền thống là một khái niệm cho đến nay còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về
nội hàm và ngoại diên của nó: Tuỳ thuộc vào góc độ, vào đối tượng từng ngành khoa
học mà các tác giả có những cách trình bày khác nhau.
Theo từ Hán – Việt: “Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời kia” [1. Tr.505]. Trong
cuốn Từ điển của Trung Quốc xuất bản năm 1989 định nghiã: “ Truyền thống là sức
mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử. Nó tồn tại ở các lĩnh vực, chế
độ, tư tưởng, văn hoá, đạo đức. Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành
vi xã hội của con người. Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử” [23,
Tr.10]. Từ điển Bách Khoa Xô viết định nghĩa: Truyền thống là:
Những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu
giữ trong xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài. Truyền thống
được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong
tục, tập quán và lối sống…Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả
mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [23,Tr.11].
Bách khoa toàn thư Pháp định nghĩa: “ Truyền thống, theo nghĩa tổng quát là tất cả
những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế hệ này đến thế hệ khác,
thường là truyền miệng, hay bằng sự bảo tồn và noi theo những tập quán, những cách
ứng xử, những mẫu hình và tấm gương” [84. Tr.10339].
Theo nghĩa thông thường, Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa “Truyền thống:
thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ
này qua thế hệ khác”.
Dưới góc độ chính trị- xã hội, Từ điển Chính trị vắn tắt định nghĩa “Truyền thống –
di sản về xã hội và văn hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được duy trì
trong suốt thời gian dài” [62,Tr.401].
Trong “ Đại từ điển Tiếng Việt” định nghĩa “ Truyền thống nề nếp, thói quen tốt đẹp
được lưu giữ từ đời này qua đời khác” [83, tr.1734]. Cách định nghĩa này mới chỉ nêu
lên những mặt tốt đẹp của truyền thống mà chưa nêu lên được mặt hạn chế của Truyền
của số đông thành viên của cộng đồng dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Có thể kể
thêm vào truyền thống cái mà người ta gọi không đạt lắm là ứng xử [70, Tr.50].
Nghiên cứu “truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thống”, Trần Đình Sử
viết “truyền thống là mối liên hệ lịch sử mà một đầu là những giá trị tư tưởng, văn hoá
được sáng tạo trong quá trình lịch sử dân tộc và một đầu là sự thẩm định, xác lập và
phát huy của người hiện đại. Vì vậy có thể nói truyền thống là các giá trị quá khứ mang
ý nghĩa hiện đại” [68, Tr.45]. Khi “nhận diện giá trị văn hoá dân tộc”, Trịnh Đình Khôi
cho rằng “truyền thống là những phẩm chất, đặc tính kéo dài nhiều thế hệ, đi dọc thời
gian và lịch sử, có nhiếu tác dụng” [32, Tr.57]. Khi nghiên cứu vấn đề con người trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập thể nhiều nhà khoa học có tên tuổi thuộc
nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau ở Việt Nam đã nhất trí vói nhau một định nghĩa:
“Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong
tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong
lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [23,
Tr.11].
Khái niệm truyền thống được khái quát hoá, trừu tượng hoá cao hơn và được nâng
lên với tư cách một phạm trù. Trong luận án Phó tiến sĩ triết học “Mối quan hệ giữa
truyền thống và đổi mới trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới ở Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào”, Bua Phon Bun Nha Nít cho rằng “truyền thống thường được hiểu
như một hệ thống những hàng động truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và hình thành
nên những tư tưởng, tình cảm, tâm lý của con người do những mối quan hệ xã hội có
tính lịch sử lâu đời tạo nên” [6, Tr.15]. Cũng tiếp cận ở góc độ khoa học, triết học,
trong luận án tiến sĩ triết học “Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong phương
thức định canh định cư hiện nay của đồng bào dân tộc ở Đắc Lắc”, Nguyễn Văn Tuyên
đưa ra định nghĩa:
Truyền thống là mối liên kết lịch sử qúa khứ và hiện tại của các hiện tượng trong đời
sống xã hội như tính cách, phẩm chất, tâm lý, phong cách suy nghĩ và hoạt động, lối
ứng xử, phong tục tập quán…, mối liên hệ này mang tính chất ổn định trường tồn trong
hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn những nội dung của truyền
thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới hoặc
những truyền thống mới được hình thành, phát triển. Cho nên truyền thống sẽ có tính
hai mặt đối lập nhau đó là truyền thống tốt và truyền thống xấu. Truyền thống tốt có tác
dụng hình thành nên những phẩm chất tốt ở con người và hành động của con người góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển, và ngược lại truyền thống xấu sẽ kìm hãm sự phát triển
của xã hội. Hai mặt này của truyền thống luôn luôn tồn tại, mâu thuẫn biện chứng với
nhau trong quá trình lịch sử.
2-Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong quá
khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư
duy, lối ứng xử, tâm lý…
3-Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người (thị tộc, bộ
lạc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã…), là bản sắc của các cộng đồng người.
4- Truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của môi trường tự nhiên
và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất và kết cấu kinh tế xã
hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môi trường văn hoá khu vực và
trên thế giới.
5-Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau, nó ăn sâu vào
tâm lý, vào phong tục tập quán, nếp nghĩ… của con người. Tuy nhiên, trước và sau
không hoàn toàn giống nhau, đồng nhất với nhau nhưng về căn bản thì không khác biệt.
Như vậy truyền thống là yếu tố có mặt trong đời sống của tất cả các dân tộc trên thế
giới, trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, không có một hiện tượng, quá
trình nào ra đời từ hư vô, mà nó phải được kế thừa từ những kết quả trước đó. Tổng
hợp những kết quả khoa học đã đạt được về “truyền thống” ta có thể rút ra định nghĩa:
truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tượng như tính cách, phẩm
chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứng xử…được hình thành
trên cơ sở những điều kiện tự nhiên- địa lý, kinh tế –xã hội cũng như hoạt động của
con người trong quá trình lịch sử và được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác
riêng đó thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau làm cho truyền thống của mỗi dân tộc
ngày càng đa dạng và phong phú. Mỗi cộng đồng có nhiều cá nhân. Truyền thống
không tồn tại riêng biệt, mà tồn tại trong mỗi cá nhân, nó tác động, chi phối tính cách,
phẩm chất , suy nghĩ, tập quán, hành động của cá nhân. Vì vậy, hoạt động của cá nhân
góp phần làm phong phú thêm nội dung của truyền thống hoặc làm biến đổi hay loại bỏ
truyền thống. Truyền thống chịu sự tác động của các nhân tố sau đây:
a) Sự tác động của điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh địa lý
Con người và xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên. Con người là sản
phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá của giới vật chất, C.Mác khẳng định: “Về mặt thể
xác, con người chỉ sống bằng những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức thực
phẩm, nhiên liệu, quần áo, nhà ở v.v… Về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con người
được biểu hiện ra chính ở cái tính phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cớ
của con người” [43, Tr.135]. Tự nhiên là môi trường sống, là kho tài nguyên cung cấp
những thứ cần thiết cho cuộc sống của con người. Tự nhiên là nhân tố có ảnh hưởng to
lớn tới sự tồn tại và phát triển của đời sống vật chất và tinh thần của con người, cho dù
xã hội loài người phát triển đến trình độ cao thì sự ảnh hưởng của tự nhiên đến đời
sống con người có tính lịch sử, phụ thuộc vào trình độ trinh phục tự nhiên của con
người trong từng thời đại, từng quốc gia, từng vùng, từng địa phương nhất định. Ở Việt
Nam, nhân tố tự nhiên, môi trường sông nước được coi là nhân tố đặc biệt quan trọng
có tác động không nhỏ đến việc hình thành một số truyền thống lâu đời. Dựa vào lợi
thế của tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp mà người Việt Nam đã
sớm lựa chọn nông nghiệp mà người Việt Nam đã sớm lựa chọn nông nghiệp làm nghề
truyền thống của mình, Nhưng cũng do thiên tai thường xuyên và thất thường nên con
người phải thường xuyên được thử thách, hình thành nên truyền thống dũng cảm, tinh
thần lao động cần cù, đoàn kết với nhau thành cộng đồng dân tộc. Do vị trí địa lý thuận
lợi, có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hoá nên người Việt Nam có tinh cách mềm
dân tộc Việt Nam phát triển bền vững thoát khỏi hoạ ngoại xâm, con người phải luôn
luôn có một bản lĩnh vững vàng, phải am hiểu truyền thống lịch sử mới. Chính hoàn
cảnh lịch sử tồn tại và phát triển của truyền thống, nhưng truyền thống có tính độc lập
tương đối nghĩa là truyền thống có quy luật vận động riêng trong quá trình biến đổi
mặc dù truyền thống ra đời do sự tác động của điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý,
kinh tế- xã hội và hoàn cảnh lịch sử,. Lịch sử thường diễn ra với tốc độ nhanh, trong
khi đó truyền thống thường chưa kịp thời bổ sung được những đặc điểm mới. Truyền
thống thường gắn với lợi ích của những giai cấp, những nhóm người trong xã hội nên
thường gắn với lợi ích của những giai cấp, những nhóm người trong xã hội nên những
truyền thống tốt thường được giai cấp tiến bộ lưu giữ, phát huy, còn những truyền
thống xấu bị các lực lượng phản động khuếch trương, truyền bá, cản trở sự phát triển
của lịch sử.
b)Những tác động của môi trường bên ngoài
Quá trình hình thành và phát triển của truyền thống mang tính độc tương đối, nghĩa
là, nó có quy luật vận động riêng. Nhưng sự tác động của môi trường bên ngoài tạo ra
sự phong phú nhiều mặt của truyền thống trong quá trình tồn tại và phát triển. Chẳng
hạn, truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
của dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cũng do nhiều yếu tố bên ngoài
như sự ảnh hưởng tích cực của Nho giáo, do phải chống chọi với giặc ngoại xâm để
thoát khỏi hoạ diệt vong thì phải đào tạo những lớp người có đức, có tâm để kế tục sự
nghiệp của cha ông…
Theo Trần Văn Giàu, các giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam đều hình thành
và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, bởi năm yếu tố cơ bẳn: thứ nhất là hoàn cảnh địa
lý, thiên nhiên thông qua các quan hệ xã hội, thứ hai là ngã tư đường giao lưu văn hoá
và kinh tế Bắc Nam, Đông Tây, tức là một vị trí chiến lược rất quan trọng; thứ ba là
trên cơ sở một nền văn minh bản địa đặc sắc, có cá tính của mình, thứ tư là suốt những
thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam lâm vào một trạng thái xã hội hết sức
sôi động, xáo trộn, và thứ năm là trong cuộc vận động chống thực dân và chống phong
thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội, tiêu biểu cho thực chất của con người
trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ
con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động,
đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo lại nền văn hoá
xã hội [63. Tr.99].
Bản chất con người không phải là cái vốn có trong mỗi con người, mà là tổng hoà
các mối quan hệ xã hội, được hình thành trong cả một quá trình, không phải là bất biến
mà là sản phẩm của lịch sử . Con người thông qua hoạt động thực tiễn, hình thành bản
chất xã hội của mình. Bản chất của con người là cái bên trong nhưng lại được tiếp thu
từ cái bên ngoài. Tách khỏi quan hệ xã hội thì con người không thể trở thành người
được.
Quan hệ xã hội bao gồm quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần. Quan hệ vật chất cơ
bản nhất là quan hệ kinh tế. Quan hệ kinh tế gồm quan hệ sản xuất, quan hệ tiêu dùng.
Quan hệ tinh thần gồm: chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học…
Trong tất cả các mối quan hệ đóng vai trò quan trọng nhất trong công việc hình thành
bản chất con người, chi phối các mối quan hệ khác. Vì vậy, khi xem xét bản chất con
người phải xem xét tất cả các mối quan hệ trên, nhưng cái cốt lõi là quan hệ sản xuất.
Như vậy, hình thành bản chất con người là một quá trình viết: “Chính con người, khi
phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biên đổi, cùng
với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy cuả mình, không phải ý thức
quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [36,Tr.65]. Cùng với quan
hệ kinh tế, mỗi dân tộc, quốc gia đều có một truyền thống, bản sắc văn hoá riêng của
mình và đến lượt nó, chính bản sắc, truyền thống văn hoá đó cũng góp phần giáo dục đào tạo nên những con người của dân tộc.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền giáo dục, những giá trị truyền thống trợ lực cho
sự phát triển của xã hội trong hiện tại và tương lai.
Mỗi người là một chủ thể tự ý thức nhưng đồng thời con người còn là con người xã
hội có tính giai cấp, tính dân tộc. Hai mặt này của con người liên hệ mật thiết với nhau,
Có nhiều quan niệm khác nhau về các giá trị phổ quát của con người. Có quan niệm
cho rằng giá trị của con người là cái chân, cái thiện và cái mỹ; có quan niệm khác khẳng
định: cái gì đem lại lợi ích đó là chân lý, là giá trị… Các quan niệm này chi phối sự lựa
chọn các giá trị truyền thống khác nhau, do đó có nhiều hình mẫu nhân cách khác nhau.
Ở Việt Nam, theo Trần Văn Giàu, giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam là
yêu nước, anh hùng, cần cù, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa.
Khi xét tình hình các nền văn minh đang tồn tại hiện nay, các học giả phương Tây
cho rằng nền văn minh phương Tây ưu việt hơn cả, có thể làm mẫu mực cho cả thế
giới. Tuy nhiên người ta phải thừa nhận rằng một sự suy đồi và suy thoái văn hoá
đang tồn tại trong xã hội phương Tây. Để khắc phục những nhược điểm đó, các học
giả kêu gọi “ khôi phục lại tính người”, quay về với truyền thống dân tộc mình, phục
hồi các giá trị phương Tây và vấn đề mẫu người qua lý luận giáo dục châu Âu là “con
người lý tưởng và nền giáo dục đang tiến gần đến thời đại mới có cội nguồn tư tưởng
từ xa xưa, nhất là thế kỷ XVIII” [24, tr. 305-306].
Ở nước Nga, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển đã kéo theo nhiều sự
biến đổi trong đời sống xã hội. Để thích nghi với hoàn cảnh mới của thời đại người ta
“đi tìm bản thân” đã dẫn đến nhiều quan niệm sống khác nhau, nhưng cuối cùng con
người cũng không thể từ bỏ được những giá trị truyền thống. Lịch sử xã hội đã chứng
minh rằng khi xã hội xuất hiện giai cấp thì mỗi giai cấp tiếp nhận truyền thống dân
tộc thông qua lăng kính giai cấp của mình. Hai mặt của truyền thống là truyền thống
tốt và truyền thống xấu đấu tranh với nhau, bài trừ lẫn nhau. Biểu hiện về mặt xã hội
của hai mặt đối lập này là giai cấp tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển
và giai cấp phản động đại diện cho quan hệ sản xuất lạc hậu. Giai cấp tiến bộ thường
tiếp nhận những giá trị truyền thống tốt, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Chẳng
hạn, trong các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam thì đại đa số nhân
dân Việt Nam và các nhà khoa học đều thừa nhận chủ nghĩa yêu nước là giá trị hàng
đầu tạo nên sức mạnh Việt Nam trong mọi giai đoạn lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh,
danh nhân văn hoá thế giới đã nhận xét: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm
5-Hạt nhân hợp lý của truyền thống dân tộc có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hoá.
“Trong truyền thống văn hoá của dân tộc vừa có nội dung phản ánh thời đại, cũng có
nội dung phản ánh tính dân tộc và tính nhân loại, cái sau tiêu biểu cho phương hướng
phát triển của dân tộc đó và toàn nhân loại” [73, tr.192]. Truyền thống là ngọn nguồn,
là động lực, kích thích sức sống của dân tộc, hình thành nên tinh thần dân tộc, tạo nên
một tình cảm lưu luyến, một lòng thành kính và sự chân trọng lịch sử dân tộc. Vì vậy
nó là đòn bẩy của xã hội trong quá trình hiện đại hoá.