luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội thành phố bà rịa - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***

LÊ THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ
CÁC KHOẢN THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ BÀ RỊA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đồng Nai – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***

LÊ THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ
CÁC KHOẢN THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ BÀ RỊA
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. HÀ XUÂN THẠCH


Tác giả luận văn: Lê Thị Thanh Tâm, học viên lớp Cao học khóa 4, ngành Kế
toán, Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lạc Hồng, xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những nội dung trong luận văn, cụ thể là những phân tích, đánh giá về thực
trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa; Các
đề xuất và giải pháp là do tôi tự nghiên cứu, không sao chép.
Luận văn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu về kiểm soát nội
bộ tại Việt Nam và trên thế giới. Các tài liệu tham khảo để thực hiện luận văn đều
được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng.

Đồng Nai, ngày

tháng

năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Thị Thanh Tâm


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại các quốc gia trên thế giới, chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y
tế (BHYT) là nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội (ASXH), là một trong những chính
sách lớn góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc.
Ở nước ta, trong suốt quá trình thành lập và phát triển, Đảng ta đã luôn quan
tâm đến việc hình thành và phát triển chính sách BHXH, BHYT đối với lao động.
BHXH vừa mang tính kinh tế nhưng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nước ta

tổ chức xây dựng chuẩn mực kiểm soát, hoàn thiện công tác kiểm soát nguồn thu
trong nội bộ ngành BHXH để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn thu các quỹ
BHXH, quỹ BHYT, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) nhằm đảm bảo tính ổn định
chính sách ASXH tạo môi trường bình đẳng, thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh,
phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) (Võ Năm
(2012), Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Định,
Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng).
Đi cùng với xu thế phát triển của đất nước, với quy mô ngày càng mở rộng, các
hoạt động của đơn vị diễn ra nhiều hơn với các nội dung ngày càng đa dạng, đối
tượng tham gia và số thu BHXH, BHYT, BHTN ngày càng tăng; Tình trạng các cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN ngày càng lớn với thời
gian kéo dài, nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để buộc các đơn vị nợ đọng nộp đầy
đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật. Vì lẽ đó, công tác kiểm tra, kiểm soát
hoạt động thu BHXH đã được đặt ra tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa. Tuy
nhiên việc thực hiện còn một số hạn chế.
Đề tài nghiên cứu hoàn thiện kiểm soát nội bộ các khoản thu Bảo hiểm xã hội
tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa có ý nghĩa rất quan trọng trong hệ thống quy
trình kiểm soát, nhằm tìm ra những tồn tại trong công tác quản lý thu của Bảo hiểm
xã hội thành phố Bà Rịa để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nguồn thu BHXH, BHYT, BHTN có tính khả thi cao, đáp ứng kịp thời
cho quá trình quản lý quỹ BHXH tại Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa trong giai
đoạn kinh tế phát triển mạnh mẽ hiện nay. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ dựa trên cơ sở lý thuyết hiện đại về KSNB trong hoạt động
thu BHXH, BHYT, BHTN là một vấn đề đặt ra cho ngành BHXH nhằm tăng cường
kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu các quỹ BHXH, BHYT, BHTN là một khâu
quan trọng và cần thiết trong việc quản lý của ngành BHXH hiện nay nhằm ổn định
chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước ta.


Trước tình hình đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các


Về lý luận: Vận dụng lý luận chung về KSNB theo báo cáo Uỷ ban tổ chức

đồng bảo trợ của Ủy ban Treadway (COSO) năm 1992, đồng thời vận dụng chủ yếu
theo Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) 1992 và các bản
hướng dẫn về KSNB trong hoạt động công tại Việt Nam và thành phố Bà Rịa.
- Về thực trạng: chủ yếu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và thống kê
mô tả để nghiên cứu. Cụ thể:
+ Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích để đánh giá các dữ liệu thứ cấp.
+ Sử dụng phương pháp thống kê mô tả xử lý dử liệu sơ cấp thông quả kết
quả thu về từ bảng câu hỏi khảo sát với công cụ hỗ trợ chủ yếu là phần mềm excel.
+ Kết luận và giải pháp : dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, từ đó suy
diễn các giải pháp hoàn thành mục tiêu.
5. Các đề tài nghiên cứu có liên quan đã được công bố


Có nhiều công trình nghiên cứu về KSNB đơn vị công, sau đây là một số các
công trình nghiên cứu đã công bố:
-

Nguyễn Thị Phương Liên (2011), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại

cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, Trường
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này là tác giả tập trung nghiên cứu về hệ thống
KSNB đối với hoạt động thu và chi BHXH và đề xuất biện pháp triển khai thực
hiện hệ thống KSNB nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan BHXH tỉnh
Phú Thọ.
-


hiểm xã hội thành phố Bà Rịa.


7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
-

Chương 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong đơn vị hoạt động công

-

Chương 2. Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ các khoản thu tại Bảo hiểm

xã hội thành phố Bà Rịa
-

Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ các khoản thu tại

Bảo hiểm xã hội thành phố Bà Rịa
Tài liệu tham khảo
Phụ lục


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG ĐƠN VỊ HOẠT ĐỘNG CÔNG
1.1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB)
1.1.1. Tổng quan về sự ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển không chỉ là một
phương pháp giúp cho kiểm toán viên trong việc lập kế hoạch kiểm toán mà còn

Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo
cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu KSNB:
- Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng
khác nhau;
- Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh
giá hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện;
Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng cơ sở lý luận cơ bản về
KSNB.
1.1.2. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (Chuẩn mực IAS 400) “Hệ thống KSNB
là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do ban lãnh đạo của đơn vị thiết
lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả
năng có thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ các chính sách quản lý, bảo quản
tài sản, ngăn ngừa và phát hiện gian lận hoặc sai sót, tính chính xác và tính đầy đủ
của các ghi chép kế toán; đồng thời đảm bảo lập trong thời gian mong muốn những
thông tin tài chính đáng tin cậy”.
Theo định nghĩa của AICPA (Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ) thì
“ KSNB gồm cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận
và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin
cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy các hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân
thủ các chính sách của người quản lý ”.
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ
thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài
sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các
chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.


Bảo vệ tài sản của đơn vị :
Hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ bảo vệ các tài sản của đơn vị (bao gồm tài sản




Ngăn chặn phát hiện kịp thời, xử lý các sai phạm và gian lận .



Ghi chép kế toán đầy đủ chính xác, lập BCTC trung thực khách quan.
-



Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý:
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự

lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực.
Bốn mục tiêu nói trên của hệ thống kiểm soát nội bộ đều nằm trong một thể
thống nhất tuy nhiên đôi khi cũng có mâu thuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả
của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ
và tin cậy. Cụ thể như nếu chúng ta muốn tăng cường việc bảo vệ tài sản thì sẽ làm
tăng thêm chi phí như vậy sẽ không đảm bảo được mục tiêu nâng cao tính hiệu quả
của hoạt động. Vậy nhiệm vụ của các nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm
soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hòa bốn mục tiêu nói trên.
Theo báo cáo của COSO năm 1992 được công bố dưới tiêu đề KSNB đã
định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “ KSNB là một quá trình bị chi phối bởi


người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để
cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
(1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;

 Tạo ra cơ chế vận hành trơn tru, minh bạch và hiệu quả trong công tác quản
lý điều hành.
 Đảm bảo cơ chế và tác nghiệp tuân thủ theo quan điểm quản trị điều hành, hệ
thống quy trình quy chuẩn hoạt động cũng như quản lý tài chính.
 Là nền tảng cho việc vận hành, cải tiến hệ thống quản lý và tác nghiệp khi
đơn vị tăng trưởng về quy mô hoặc mở rộng ngành nghề.
*Hạn chế
Khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, cần nhận thức rằng
một hệ thống kiểm soát nội bộ dù có được thiết kế hoàn hảo đến đâu thì cũng không
thể nào ngăn ngừa phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là hạn chế cố hữu của
hệ thống kiểm soát nội bộ:


Hệ thống kiểm soát nội bộ thường bị xem xét trong mối quan hệ giữa chi phí

bỏ ra với lợi ích đem lại.


Các thủ tục kiểm soát này thường tác động đến những nghiệp vụ xảy ra

thường xuyên mà ít có tác động với những nghiệp vụ bất thường.


Hệ thống kiểm soát nội bộ thường chỉ đặt ra các thủ tục kiểm soát bên trong

đơn vị mà ít có tác động đối với các nghiệp vụ bên ngoài đơn vị.


Các thủ tục kiểm soát thường dễ bị lạc hậu theo thời gian vì có sự đối phó


tổ chức này thành lập năm 1979, hiện nay có 46 thành viên, từ tháng 10/2009 Việt
Nam là thành viên Ban điều hành của tổ chức này nhiệm kỳ 2009-2012 (theo Tạp
chí Kế toán và kiểm toán, tháng 8/2011, Hà Nội).
Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các
chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển
gần đây trong KSNB và nhất là tài liệu này đã trình bày những vấn đề đặc thù về
khu vực công. Điều lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của
Báo cáo COSO 1992.
1.2.2. Định nghĩa về KSNB của INTOSAI
Năm 2001, INTOSAI trình bày định nghĩa về KSNB như sau: “ KSNB là một
quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức,
quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp
lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là những mục tiêu cần đạt được:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế,
hiệu quả và thích hợp;
- Thực hiện đúng trách nhiệm;
- Tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định;
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất ”.


So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá
trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào. Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh
thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn, sự
phát hiện sự gian trá và tham nhũng trong khu vực công.
1.2.3. Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI
Cũng như Báo cáo COSO 1992, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của KSNB và
giữa 2 hệ thống, báo cáo COSO 1992 và hướng dẫn của INTOSAI có những khác
biệt về chi tiết.
1.2.3.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh

Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thành
viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết
những tình huống khó xử trong công việc.
+ Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo thể hiện qua cá tính, tư cách và thái
độ của nhà lãnh đạo khi điều hành. Nếu nhà lãnh đạo cấp cao cho rằng KSNB là
quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ cảm nhận được điều đó
và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống KSNB. Tinh thần này biểu hiện ra
thành những quy định đạo đức ứng xử trong cơ quan. Thí dụ như việc xây dựng
kiểm toán nội bộ trong KSNB thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo đến KSNB.
Ngược lại nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan
trọng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB. Kết quả là KSNB
chỉ còn là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến mục tiêu, nhiệm vụ của
đơn vị không còn đạt được như mong muốn.
+ Cơ cấu tổ chức gồm:
- Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo. Mỗi cấp quản lý ý thức được
quyền hạn của mình tới đâu.
- Hệ thống báo cáo phù hợp với đơn vị, thiết lập quy trình báo cáo kịp thời,
kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.
Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, được tổ chức
độc lập đối với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất
trong cơ quan.
+ Chính sách nhân sự


Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá,
bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, kèm cặp nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy của
nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển dụng,
huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần

lực đối phó rủi ro.
+ Phát triển các biện pháp đối phó.
Có 4 biện pháp đối phó với rủi ro: Chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro, xử lý
hạn chế rủi ro và phân tán rủi ro. Trong phần lớn các trường hợp rủi ro phải được
xử lý hạn chế và đơn vị duy trì KSNB để có biện pháp thích hợp. Các biện pháp xử
lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí nhưng nếu
nhận dạng được và đánh giá được rủi ro thì có sự chuẩn bị tốt hơn.
Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của Nhà nước,
công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên thường
xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ.
Phần này không phải là một yếu tố của KSNB, mà trên cơ sở việc nhận dạng
rủi ro, đánh giá rủi ro mà đơn vị thiết lập để đối phó với những rủi ro nào đó xảy ra.
1.2.3.3. Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro và
đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị.
Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các
chức năng. Hoạt động kiểm soát bao gồm các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và
phát hiện rủi ro.
+ Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền
theo trách nhiệm và phạm vi của họ. Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm
bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn của
người lãnh đạo. Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và công bố rõ ràng,
phải bao gồm những điều kiện cụ thể.
+ Phân chia trách nhiệm
Để giảm rủi ro về việc sai sót, lãng phí, những hành động cố ý làm sai và rủi
ro không ngăn ngừa được thì không một bộ phận hay cá nhân nào được giao một
công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Trách nhiệm phải được giao một cách




+ Rà soát sự điều hành, xử lý và hoạt động: Việc điều hành, xử lý và hoạt
động nên được rà soát định kỳ để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc, chính sách, thủ tục
và những đòi hỏi hiện hành khác.
+ Giám sát nhân viên (giao việc, soát xét và chấp thuận, hướng dẫn và huấn
luyện)
Việc giám sát kỹ càng giúp việc đảm bảo rằng mục tiêu của việc tổ chức sẽ
được thực hiện. Sự giao việc, soát xét và chấp thuận công việc của nhân viên bao
gồm:
- Sự thông báo rõ ràng, nghĩa vụ, trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm giao
cho mỗi thành viên.
- Đánh giá một cách hệ thống công việc của mỗi thành viên trong phạm vi
cần thiết.
- Chấp thuận công việc theo những tiêu chuẩn để đảm bảo công việc được
thực hiện theo đúng định hướng.
Người giám sát cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn cần thiết và huấn
luyện để đảm bảo rằng sự sai sót, lãng phí và hành động sai trái được giảm thiểu và
làm cho nhà lãnh đạo trực tiếp hiểu được và đạt được kết quả.
1.2.3.4. Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông rất cần thiết để thực hiện mục tiêu của KSNB.
+ Thông tin: Là những thông tin cần được cung cấp cho các cấp quản lý và
các cá nhân, bộ phận trong đơn vị để thực hiện các chức năng KSNB của mình, ví
dụ người quản lý cần nhận thông tin để thực hiện quản lý như việc phê duyệt hợp
đồng mua bán thì các cấp trực thuộc phải có giấy đề xuất mua hàng để phê duyệt.
Vậy giấy đề nghị là thông tin cho nhà quản lý. Hoặc là cuối tháng nhà quản lý được
cung cấp các báo cáo tình hình nợ BHXH, BHYT để thấy được đơn vị nào nợ mà
người lãnh đạo đưa ra các biện pháp thu hồi nợ đọng.
+ Truyền thông: Truyền thông để mọi người hiểu được chức năng của từng
cá nhân nhằm thấy được chức năng của mình trong thực hiện KSNB đáp ứng được
mục tiêu của cơ quan. Ngoài ra, cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài

Thông tin
truyền thông

Hoạt động
kiểm soát

(Nguồn: Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI)
Hình 1.1: các phương pháp và thủ tục kiểm soát.


1.3. KSNB các khoản thu Bảo hiểm xã hội
Trong tất cả các hoạt động của BHXH, hoạt động thu và chi là hai hoạt động
chủ yếu và quan trọng nhất.
1.3.1. Tổng quan về hoạt động cơ bản thu và chi Bảo hiểm xã hội
1.3.1.1.Hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Nhìn chung quỹ BHXH ở các nước được hình thành chủ yếu từ các
nguồn sau ( Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội):
-

Người lao động đóng góp

-

Người sử dụng lao động đóng góp

-

Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm

-

nhiều cơ sở: kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử của chính quốc gia đó. Vì thế, cơ chế
hình thành quỹ BHXH ở các nước khác nhau. Nói chung, ở những nước có nền kinh


tế phát triển như Đức, Ý, Mỹ…thì áp dụng cơ chế tự thu tự chi, thu trong năm chủ
yếu chi hết trong năm. Còn các nước kinh tế đang phát triển thì nói chung áp dụng
cơ chế tạo quỹ tích lũy, số dư hàng năm được sử dụng đầu tư tăng trưởng. Do cơ
chế tạo quỹ khác nhau, nên tỷ lệ đóng góp của ba bên cũng khác nhau.
• Rủi ro thu Bảo hiểm xã hội
Nhận diện rủi ro có thể xảy ra trong công tác thu BHXH:
Việc nhận dạng các rủi ro và đánh giá tầm quan trọng của các rủi ro có
thể xảy ra là một bộ phận quan trọng của hệ thống KSNB. Không giống như các
doanh nghiệp, hoạt động BHXH có các rủi ro chủ yếu được ghi nhận ở hoạt động
thu, chi BHXH, BHYT, BHTN. Ngoài các rủi ro xuất phát từ năng lực và đạo đức
nhân viên BHXH, rủi ro thu không đủ theo số phải thu do các đơn vị sử dụng lao
động không cung cấp đầy đủ thông tin của người lao động và tiền lương hiện hưởng
của người lao động đang làm việc trong đơn vị.
Về rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN thường gồm những trường hợp sau:
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN phát sinh khi không thu được BHXH,
BHYT, BHTN từ các đối tượng thuộc diện phải nộp BHXH, BHYT, BHTN nhất là
từ người sử dụng lao động.
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn phát sinh trong những trường hợp
không thu đủ và đúng mức phải nộp vào quỹ BHXH, BHYT.
- Rủi ro thu BHXH, BHYT, BHTN còn bao gồm từ việc thu chậm trễ do
người nộp không nộp đúng thời gian quy định.
- Rủi ro nguồn thu BHXH, BHYT bị mất, do người đi thu BHXH, BHYT
nộp không đủ (đại lý thu), biển thủ số tiền đã thu không nộp đủ và kịp thời vào quỹ
theo quy định.
Ngoài ra, hoạt động BHXH còn đứng trước rủi ro về mất cân đối thu-chi các
quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Điều này càng đặt ra sự cần thiết của đội ngũ cán bộ

1.3.1.2.Hoạt động chi Bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH ở các nước được sử dụng để chi tiêu vào các nội dung quan
trọng sau: chi trợ cấp BHXH theo chế độ, chi quản lý hành chính, chi cho đầu tư
tăng trưởng quỹ.
Trong ba phần chi thì chi trả cho các chế độ trợ cấp BHXH là lớn nhất,
quan trọng nhất. Các khoản chi quản lý hành chính (QLHC) và chi cho đầu tư là
không cố định phụ thuộc vào quy mô tổ chức, cách quản lý của một hệ thống
BHXH ở từng nước. Chi trả các chế độ BHXH là chi trả theo luật định ở mỗi nước,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status