skkn rèn luyện cho học sinh kỹ năng khai thác kênh hình sách giáo khoa lịch sử 9 - Pdf 37

Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 1

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
Luật Giáo dục năm 2005, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Để khắc sâu kiến thức cho học sinh là một trong những yêu cầu cơ bản nhất
hiện nay đối với giáo viên là phương pháp giảng dạy mới lấy học sinh làm
trung tâm, người thầy phải dạy cho học sinh biết cách làm, vận dụng kiến
thức đã học vào thực tế và chủ động tiếp thu kiến thức mới. Đứng trước yêu
cầu của xã hội, người học phải tham gia tích cực, chủ động sáng tạo trong các
tiết học. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, để đào tạo con người đáp ứng yêu
cầu của thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa cần chú ý hai yếu tố đó là tài
và đức. Muốn có người tài và đức cần được giáo dục toàn diện ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, trong hệ thống giáo dục phổ thông học
sinh được học các môn Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa… trong đó môn Lịch sử
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách
con người, thông qua môn lịch sử giúp các em thấy được những công lao to
lớn của các thế hệ tổ tiên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biết tự
hào về những truyền thống vẻ vang của dân tộc, từ đó các em biết trân trọng,
tự hào giữ gìn và phát huy những thành tựu đó.
Rèn luyện các kĩ năng khai thác kênh hình sách giáo khoa cho học sinh
là một trong những phương pháp dạy học có vai trò quan trọng trong việc
giúp các em hứng thú trong học tập môn lịch sử, nó đem lại kết quả cao về
mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư duy học sinh.
Qua thực tiễn giảng dạy chương trình lịch sử cấp THCS nói chung và

hào dân tộc, khơi dậy trách nhiệm của mỗi học sinh đối với gia đình và đối
với dân tộc. Từ đó tôi chọn đề tài: “Rèn luyện cho học sinh kỹ năng khai thác
kênh hình sách giáo khoa lịch sử 9”, đề tài này sẽ giúp các em rèn cho mình
các kĩ năng cần thiết trong việc khai thác kênh hình sách giáo khoa, từ đó rút
ra được những kiến thức của bài học nhằm góp phần nâng cao chất lượng
môn học.
3. Lịch sử đề tài
Đây là đề tài bản thân tôi mới nghiên cứu và áp dụng trong giảng dạy
cho đối tượng học sinh lớp 9. Hy vọng sẽ đưa ra một số phương pháp giúp các
em rèn luyện thêm cho mình những kỹ năng để khai thác được các kênh hình
trong chương trình lịch sử lớp 9, tạo hứng thú học tập, giúp các em nắm vững
bài học và yêu thích môn học.
4. Phạm vi đề tài
Nội dung chính của đề tài là giới thiệu một số biện pháp khai thác kênh
hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 9. Bao gồm các thiết bị có liên quan,
gần gũi với nội dung bài giảng đề cập đến, những thiết bị đó ở các bài cụ thể
cần phương pháp để sử dụng như thế nào cho phù hợp để học sinh biết cách
khai thác và thông qua khai thác kênh hình đó sẽ làm rõ những nội dung gì
trong bài học. Tác dụng của phương pháp khai thác là gì, hiệu quả mang lại ra
sao …?
Để đạt kết quả mong muốn, tôi đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp
để rèn kĩ năng sử dụng lược đồ trong quá trình giảng dạy môn lịch sử 9 cho
học sinh. Cụ thể ở các lớp 9A6; 9A7; 9A8; 9A9; 9A10 của trường THCS Võ
Duy Dương, nơi mà tôi đang giảng dạy, từ tháng 8/2015 đến tháng 5/2016
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường


Sáng kiến kinh nghiệm

lớp 6, cho nên việc khai thác kênh hình đã trở thành kĩ năng của học sinh.
Nhưng các kênh hình trong sách giáo khoa 9 còn rất trừu tượng đòi hỏi học
sinh phải tư duy khai thác nhiều hơn. Vì muốn hình thành được kĩ năng đòi
hỏi người học phải rèn luyện trong một thời gian dài và đúng trình tự. Yêu
cầu đổi mới phương pháp đòi hỏi người học phải nâng cao tính chủ động
trong quá trình học tập điều này càng làm phức tạp khó khăn thêm cho các
em.
Kênh hình được sử dụng trong dạy học lịch sử ở bậc THCS hiện nay là
rất đa dạng và phong phú. Tập tranh ảnh lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường


Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 4

đã được phân bổ đầy đủ cho các trường. Qua hệ thống Internet, giáo viên có
thể lấy đuợc nhiều kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy. Riêng SGK lịch sử
9 trong toàn bộ chương trình có 34 bài thì đã có 92 kênh hình đuợc đưa vào,
bình quân mỗi bài gần 3 kênh hình. Thực tiễn trên đã đóng góp rất lớn đến
việc thành công trong dạy học lịch sử hiện nay. Cha ông ta từng dạy: “Trăm
nghe không bằng một thấy”. Nếu chúng ta rèn cho học sinh có được kĩ năng
khai thác tốt kênh hình thì hiệu quả học tập lịch sử của em sẽ đạt kết quả cao.
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, bên cạnh những thành công trong
việc tổ chức cho học sinh khai thác kênh hình, bản thân thấy việc thực hiện ở
thầy và trò còn có những tồn tại cần khắc phục như sau:
- Trong giảng dạy, đa số giáo viên mới dừng lại ở việc sử dụng kênh
hình để minh họa các sự kiện, nhân vật. Còn việc tổ chức các hoạt động nhận


lược đồ. Kết quả như sau:
Sĩ số: 41
Xác định tốt
Biết xác định
Chưa biết xác định
Số lượng
10
13
18
Tỉ lệ (%)
24.4
31.7
43.9
Từ thực trạng đó đặt ra yêu cầu phải làm sao để các em biết sử dụng
lược đồ lịch sử và khai thác được kiến thức thông qua lược đồ, tạo hứng thứ
học tập, yêu thích môn học, nhằm đem lại chất lượng, hiệu quả cao.
3. Những vấn đề cần giải quyết
Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu rèn kĩ năng khai thác
kênh hình sách giáo khoa Lịch sử 9 nhằm củng cố một số kĩ năng cơ bản cho
học sinh. Do đó giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh những kĩ năng:
- Kĩ năng quan sát, nhận xét
- Kĩ năng mô tả, tường thuật
- Kĩ năng phân tích, nhận định đánh giá
Để rèn luyện được các kĩ năng đó, trong việc tổ chức khai thác kênh
hình, giáo viên tiến hành các bước sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh tiếp cận hệ thống kênh hình.
Bước 2: Nêu mục đích làm việc với kênh hình
Bước 3: Đưa ra những câu hỏi gợi ý để học sinh có cơ sở khai thác kiến
thức từ kênh hình.

+ Trên lớp:
++ Xem phần chú giải (thường nằm góc trái bên dưới của lược đồ)
++ Quan sát và ghi nhớ các kí hiệu
++ Nắm được sơ lược diễn biến trận đánh qua kênh chữ
++ Kết hợp kênh chữ và bản đồ để thuật diễn biến
* Kĩ năng chỉ bản đồ, lược đồ:
- Cách đứng: đứng thuyết trình bên trái bản đồ, lược đồ, dùng tay phải để chỉ
xác định vị trí các khu vực địa lý hành chính: như Đông, Tây, Nam, Bắc,
Đông Nam, Tây Bắc......
- Cách xác định: Đối với đối tượng phân bố theo điểm thì chỉ đúng trung tâm
kí hiệu, đối với kí hiệu dạng đường như đường sông thì chỉ từ thượng nguồn
về hạ lưu, đường tiến quân thì chỉ từ điểm xuất phát chỉ tới (chỉ từ gốc tới
ngọn)…
b. Hướng dẫn khai thác tranh ảnh sách giáo khoa
Do hiện thực lịch sử là hiện thực quá khứ nên học sinh không được tiếp
xúc với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, quá trình lịch sử. Mặt khác, do lịch
sử là quá khứ, gần hoặc xa, hoặc rất xa và nội dung của những thời đại xa xưa
ấy lại có nhiều điều khác, thậm chí rất khác với thời đại hiện nay nên con
người hiện nay không dễ gì hình dung và cắt nghĩa được những gì đã từng
xảy ra trước kia. Vì những lý do nêu trên, tranh hay ảnh lịch sử luôn luôn
được xem là những tư liệu lịch sử quý. Khai thác tranh, ảnh lịch sử là một
trong những cách tiếp cận lịch sử tốt nhất, có khả năng đưa lại hiệu quả giáo
dục cao nhưng lại không phải là một công việc đơn giản, dễ thực hiện. Ở đây,
ngoài vấn đề nhận thức nội dung lịch sử qua tư liệu tranh hay ảnh lịch sử còn
có vấn đề rèn luyện óc quan sát và khả năng vận dụng phương pháp mô tả.
Nhiều thầy, cô giáo có kinh nghiệm cho rằng, việc rèn luyện cho học sinh các
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường



Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 8

vực Đông Nam Á ? (Học sinh trung bình – yếu) Đông Nam Á là khu vực rộng
gần 4,5 triệu km2, gồm 11 nước với dân số 536 triệu người (ước tính năm
2002)
Giáo viên sử dụng kiến thức liên môn qua khai thác lược đồ. Giáo viên
đặt câu hỏi: Tại sao trước chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông
Nam Á (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các nước tư bản phương Tây ?
(Học sinh khá – giỏi) Do các nước này có vị trí chiến lược quan trong, giàu tài
nguyên, chế độ phong kiến đang lâm vào tình trạng khủng hoảng suy yếu và
do các nước này đều thực hiện chính sách “đóng cửa”.
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên gọi học sinh lên nêu tên và xác định
vị trí các nước Đông Nam Á trên lược đồ. Học sinh trung bình – khá đã nêu
được đầy đủ tên các nước nhưng khi xác định vị trí trên lược đồ các em xác
định vị trí của Inđônêxia chưa đầy đủ do quốc gia này trải dài với nhiều hòn
đảo lớn nhỏ. Khi được giáo viên hướng dẫn các em hiểu và xác định chính
xác.
Khi các em đã nắm được vị trí địa lí các quốc gia Đông Nam Á, giáo
viên sẽ hướng dẫn học sinh tìm hiểu về quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc
ở các nước này dựa trên lược đồ
Như vậy, với việc tổ chức, hướng dẫn cách quan sát, xác định các sự
kiện trên lược đồ, các em đã nắm được những phần cơ bản để xác định trên
lược đồ, từ đó giúp các em hình thành và khắc sâu kiến thức đã học, góp phần
nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Ví dụ 2: Bài 27. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
xâm lược kết thúc (1953-1954). Phần II. Cuộc tiến công chiến lược ĐôngXuân 1953-1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Mục 2. Chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ (1954)

đặt câu hỏi:
Được Mĩ giúp
đỡ, Pháp đã xây
dựng và bố trí
lực lượng ở Điện
Biên Phủ như thế
nào ? (Học sinh
trung bình – khá)
Pháp xây dựng
Điện Biên Phủ
thành tập đoàn
cứ điểm mạnh
nhất ở Đông
Dương.
Lực
lượng lúc cao
nhất lên đến
16200 tên, được bố trí làm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu: phân khu
Trung tâm có sở chỉ huy và sân bay Mường Thanh, phân khu Bắc, phân khu
Nam, với nhiều binh chủng: bộ binh, pháo binh, công binh, thiết giáp, không
quân
Giáo viên hỏi: Em có nhận xét gì về lực lượng địch ở Điện Biên Phủ ?
(Học sinh khá – giỏi) Đây là một tập đoàn cứ điểm mạnh, lực lượng quân địch
đông, vũ khí hiện đại, công sự và cách bố phòng rất kiên cố.
Giáo viên bổ sung thêm: Vì vậy, địch coi Điện Biên Phủ là “Con nhím
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường



Tranh ảnh là một tư liệu khá phong phú về nội dung và hình thức. Đối
với các loại tranh ảnh giáo viên cần cho học sinh tập mô tả, nhận xét về bức
tranh đó. Sau đó giáo viên bổ sung những kiến thức - dụng ý mà tác giả muốn
thông qua bức tranh để chứng minh là rõ thêm một vấn đề cụ thể.
b.1.Tranh nhân vật lịch sử:
Sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong học tập
lịch sử, cần chú ý đến mục đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy. Để
giúp HS học cách tiếp cận lịch sử qua tranh nhân vật lịch sử chúng ta có thể
hướng dẫn các em đi theo những bước và tìm hiểu theo hướng sau:
Trước tiên, GV phải xác định nội dung cần khai thác từ tranh nhân vật
lịch sử:

Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường


Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 11

* Ở mức độ 1: tiếp cận đầu tiên tranh các nhân vật lịch sử, học sinh cần
tìm hiểu: Ngày tháng năm sinh và mất, đặc điểm về nhận dạng.
*Ở mức độ 2: Đi sâu hơn, học sinh cần tìm hiểu: thái độ lập trường,
quan điểm chính trị, tư tưởng… của nhân vật lịch sử đang được tìm hiểu được
thể hiện qua những chi tiết nào ?
Có rất nhiều nhân vật lịch sử được đưa vào chương trình giảng dạy nên
trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tùy theo nhân vật lịch sử để xác định
mức độ khai thác kiến thức với từng tranh nhân vật lịch sử cho phù hợp với
yêu cầu của bài học chứ không nhất thiết phải thực hiện hết các yêu cầu đã



Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 12

Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh.
Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiệu
nội dung khai thác tranh ảnh cho HS: Nen-xơn Man-đê-la là người lãnh đạo tổ
chức “Đại hội dân tộc Phi” (ANC), một tổ chức đấu tranh nhằm chống lại chế
độ A-pác-thai, xây dựng xã hội dân chủ và bình đẳng. Năm 1994 trong cuộc
bầu cử dân chủ đa chủng tộc lần đầu tiên được tiến hành Nen-xơn Man-đê-la
được bầu và trở thành Tổng thống người da đen đầu tiên trong lịch sử Cộng
hòa Nam Phi. Ông được xem là người đấu tranh không mệt mỏi để chống lại
chế độ phân biệt chủng tộc A-pác-thai ở Nam Phi.
Dựa vào tài liệu tham khảo, giáo viên kể cho học sinh một số nét về
tiểu sử của ông: Nen-xơn Man-đê-la (1918-2013), là nhà hoạt động chính trị
của Nam Phi, ông sinh ở Tơ-ran-xcây – khu tự trị dành riêng cho người Phi.
Năm 1812 ông gia nhập ANC sau đó giữ chức Tổng thư kí ANC. Khi phong
trào đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc A-pác-thai diễn ra mạnh mẽ,
nhà cầm quyền Prê-tô-ri-a đã bắt giam và kết án ông tù chung thân. Sau hơn
27 năm bị cầm tù, trước áp lực của nhân dân tiến bộ, chính quyền Nam Phi
buộc phải trả tự do cho ông. Sau khi ra tù Nen-xơn Man-đê-la được bầu làm
Phó chủ tịch rồi Chủ tịch của ANC. Năm 1994, trong cuộc bầu cử dân chủ đa
chủng tộc lần đầu tiên được tiến hành Nen-xơn Man-đê-la được bầu và trở
thành Tổng thống người da đen đầu tiên trong lịch sử Cộng hòa Nam Phi,
năm 1999 ông rời khỏi chức vụ này. Với những đóng góp của mình, năm
1993 ông đã được nhận giải thưởng thế giới “Nôben về hòa bình”
Như vậy, ngoài việc dùng ảnh nhân vật để giới thiệu hình dạng nhân
vật lịch sử giáo viên còn có thể khai thác quan điểm, lập trường giai cấp của

tán thành và gia nhập Quốc tế Cộng sản hay không ? Sau 4 ngày tranh luận
gay gắt, căng thẳng, Đại hội đi đến biểu quyết với hơn 70% số phiếu tán
thành gia nhập Quốc tế Công sản. Trong ảnh, người đứng là Nguyễn Ái Quốc
đang phát biểu, bài phát biểu của Người đã tố cáo tội ác dã man của thực dân
Pháp ở Đông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân và những người cách mạng
chân chính Pháp nên có những hành động thiết thực ủng hộ phong trào đấu
tranh của nhân dân Đông Dương và các thuộc địa.
Như vậy, với việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình sách giáo
khoa đã giúp học sinh không chỉ nắm được những nét cơ bản về nhân vật lịch
sử mà thông qua đó các em còn hiểu biết thêm về quá trình hoạt động của
nhân vật đó (về quan điểm, lập trường giai cấp – Bỏ phiếu tán thành gia nhập
Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu bước
ngoặt trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu
nước trở thành một người Công sản. Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường


Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 14

Mác-Lê nin và đi theo con đường cách mạng vô sản) đã tạo học sinh một ấn
tượng sâu sắc về nhân vật lịch sử vừa học.
b.2. Tranh lịch sử:
Tranh ảnh được đưa vào trong giảng dạy Lịch sử ở trường phổ thông có
ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là nguồn kiến thức, có tác dụng giáo dục tư
tưởng tính cách mà còn phát triển tư duy cho học sinh. Bản thân tranh ảnh
không thể gây được sự quan sát tích cực của học sinh nếu như tranh ảnh đó

tàu như thế nào và nó chạy trên đường ray gì; Có gì khác những con tàu khác;
Vì sao người ta gọi con tàu này là “đoàn tàu biết bay” ?
Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau
khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện
nội dung khai thác tranh ảnh cho học sinh.(Hình của tàu chạy bằng đệm từ
xinh đẹp như máy bay phản lực chở khách. Trong toa tàu, hành khách ngồi
thoải mái, rộng rãi, ngoài ra trên tàu còn có tivi, điện thoại, hành khách có thể
sử dụng điện thoại di động, máy tính cá nhân soạn thảo văn bản như đang
ngồi trong phòng làm việc của mình… Nói chung, khi ngồi trên con tàu hành
khách cảm thấy rất thoải mái và thuận tiện. Với vận tốc nhanh (400km/giờ)
nên người ta gọi con tàu này là “đoàn tàu biết bay” ).
Thi CSTĐ năm học 2015 – 2016

Giáo viên: Phạm Văn Cường


Sáng kiến kinh nghiệm

Trang 16

Với cách sử dụng tranh ảnh như vậy, giáo viên vừa khai thác nội dung
lịch sử thể hiện qua tranh ảnh, vừa phát triển khả năng quan sát, trí tưởng
tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh mà còn có ý nghĩa giáo dục tư tưởng,
cảm xúc, thẩm mĩ rất lớn. Ngắm nhìn bức tranh Tàu chạy trên đệm từ của
Nhật Bản đã đạt tốc độ 400km/giờ, học sinh sẽ có nhận thức được rằng hiện
nay sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã đem lại rất nhiều sự tiến bộ và tiện
dụng cho con người, từ đó các em sẽ cố gắng hơn trong học tập để góp phần
xây dựng đất nước trở nên giàu mạnh, phát triển và chúng ta cũng sẽ có
những đoàn tàu như vậy.

dục học sinh về quyền và nghĩa vụ học tập của các em.
Như vậy, với phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tranh ảnh,
giáo viên vừa giúp học sinh có kĩ năng khai thác nội dung lịch sử thể hiện qua
tranh ảnh, phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ
của học sinh vừa góp phần giáo dục tư tưởng, cảm xúc, thẩm mĩ rất cho các
em. Ngắm nhìn bức tranh lớp Bình dân học vụ, học sinh sẽ thấy được phong
trào xóa nạn mù chữ diễn ra sôi nổi, tích cực, thể hiện truyền thống hiếu học
của dân tộc. Từ đó các em sẽ thấy được hiện nay các em có nhiều điều kiện
tốt để học tập, các em sẽ có ý thức quý trọng những điều mình đang có để cố
gắng học tập tốt, góp phần xây dựng quê hương, đất nước sau này.
5. Kết quả chuyển biến của đối tượng.
Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng các biện pháp trên tôi nhận
thấy trong những giờ học Lịch sử các em đã bắt đầu học một cách hứng thú
say mê, thoải mái tinh thần không bị gượng ép và đa số các em nắm được các
kĩ năng khai thác kênh hình sách giáo khoa Lịch sử.
Sau một thời gian nghiên cứu và rèn cho học sinh kĩ năng khai thác
kênh hình sách giáo khoa trong dạy học đã có sự chuyển biến so với đầu năm
học, chất lượng học tập bộ môn đã được nâng cao. Cụ thể là kết quả bài kiểm
tra 1 tiết (Tuần 30, tiết ppct 40). Kết quả như sau:
Lớp: 9A7

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

Kém

III. KẾT LUẬN
1. Tóm lược giải pháp
Việc “Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác kênh hình sách giáo
khoa lịch sử 9” là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần rất
lớn vào thành cộng trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay: Giúp
người dạy có điều kiện thêm để đổi mới phương pháp dạy học- lấy người học
là trung tâm. Người học tiếp thu lịch sử một cách đầy đủ, chính xác, khoa học,
thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa kênh hình và kênh chữ trong sách giáo
khoa. Không những thế mà từ đó thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng như: sách, báo cho các em có thể tìm hiểu, suy nghĩ và thấy được mối
quan hệ giữa hình ảnh và sự kiện, có một cách nhìn đúng đắn về một vấn đề
nào đó. Đều này cũng đã trang bị cho các em học sinh yêu thích lịch sử biết
cách để sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh lịch sử liên quan đến bài học của
mình, phân tích và tìm hiểu chúng. Có như vậy thì giờ học Lịch sử ở trường
phổ thông càng trở nên sinh động hơn.
2. Phạm vi áp dụng
Với việc rèn kĩ năng sử dụng lược đồ như trên, tôi đã áp dụng thành
công ở khối 9 của trường THCS Võ Duy Dương và tôi nghĩ rằng đó cũng là
một phương pháp có thể áp dụng trong quá trình giảng dạy lịch sử ở các đơn
vị trường THCS, tùy vào tình hình thực tế và đối tượng học sinh để có
phương pháp hướng dẫn phù hợp.
3. Đề xuất kiến nghị
Trong quá trình giảng dạy môn lịch sử lớp 9 nói riêng, bậc THCS nói
chung, việc sử dụng các phương pháp phù hợp từng loại bài là rất cần thiết,
giúp học sinh học tập tích cực, nắm vững kiến thức của bài. Tuy nhiên, đối
với phương pháp rèn kĩ năng sử dụng lược đồ cho học sinh lại gặp nhiều khó
khăn, lúng túng vì tên địa danh xưa và nay cũng có nhiều điểm khác. Do đó,
tôi có một số kiến nghị sau:
Bổ sung thêm kênh hình, rút gọn nội dung sách giáo khoa cho cô đọng
những nội dung chính.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status