SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1/Đặt vấn đề :
* Ở Tiểu học, môn Tiếng Việt có vai trò nền tảng cho học sinh rèn luyện, trau dồi, phát
huy vốn ngôn ngữ mẹ đẻ. Chính vì vậy mà khi các em đã đọc viết tương đối thông thạo ở
các lớp 2-3 thì việc hướng dẫn các em mở rộng vốn từ, sử dụng vốn từ vào việc giao tiếp ,
trao đổi … ở các lớp này và các lớp 4-5 giai đoạn tiếp theo là điều rất quan trọng.
- Tiếng Việt của chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều từ ngôn ngữ Hán do yếu tố lịch sử từ bao
đời nay cho nên trong cuộc sống giao tiếp, việc dùng từ Hán Việt không phải là nhỏ. Tuy
nhiên vốn từ Hán Việt được cung cấp theo chương trình còn ít. Do đó để hiểu và sử dụng
đúng từ Hán Việt là không dễ. Vì vậy khi tìm hiểu từ mới, có các từ này học sinh sẽ gặp
nhiều khó khăn. Học sinh Tiểu học vốn ngôn ngữ còn khá hạn chế, nói năng giao tiếp với
bạn bè, thầy cô có thể tương đối tốt nhưng khi cần diễn đạt theo một chủ đề mà trong đó có
sử dụng những từ ngữ, hình ảnh mới thì các em lúng túng ngay. Rõ ràng học sinh vẫn chưa
phát huy hết khả năng của mình trong học tập. Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ văn học
của các em còn nhiều hạn chế.
- Mặt khác theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo về chuẩn kiến thức, kĩ năng của hai
phân môn Luyện từ & câu, Tập làm văn.Yêu cầu học xong Tiểu học các em phải đạt được:
có vốn từ ngữ tương đối phong phú, nhận biết được từ đơn, từ phức, từ đồng nghĩa, từ trái
nghĩa…; nhận biết câu đơn, câu ghép, câu kể, câu hỏi, câu cảm...Hiểu tác dụng của biện
pháp so sánh, nhân hóa trong diễn đạt. Viết được bài văn miêu tả, kể chuyện có nội dung
đơn giản.
- Hiện nay, việc cung cấp vốn từ cho học sinh không còn theo dạng bài học từ ngữ như
chương trình cũ mà mỗi bài học là những bài tập thực hành, không những giúp các em tiếp
thu vốn từ mới mà còn định hướng cho các em thông qua các bài thực hành đó để mở rộng,
bổ sung một số vốn từ mới, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao,….theo từng chủ đề mà các em
đang học. Đây chính là cơ hội để học sinh hiểu rộng hơn, tìm tòi, sáng tạo, học hỏi, tích lũy
vốn từ ngữ cho mình.
* Năm học 2015- 2016, được sự phân công của Ban giám hiệu, tôi chủ nhiệm lớp 5Đ3.
51 %
22
53 %
18
43 %
Những biểu hiện yếu kém này của học sinh đã làm tôi băn khoăn, trăn trở. Làm thế nào
để khắc phục tình trạng này ? Làm sao để học trò của mình học tốt môn Tiếng Việt ? Chính
những băn khoăn ấy đã trở thành động lực thúc đẩy tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp
giúp học sinh luyện từ , viết câu và làm văn tốt”.
2/ Mục đích đề tài:
- Là một giáo viên có tâm huyết với nghề nên trong giảng dạy, tôi luôn mong muốn
học sinh của mình học giỏi môn Tiếng Việt để các em có cơ sở học tốt những môn
khác.Vì vậy, qua đề tài này tôi muốn tìm ra: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết
câu và làm văn tốt .
3/ Lịch sử đề tài :
- Đề tài này tôi đã nghiên cứu từ những năm học trước và tôi quyết định thực hiện, áp
dụng trong năm học 2015- 2016.
4/ Phạm vi đề tài:
- Do trình độ, năng lực còn hạn chế, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều nên tôi chỉ có
thể cố gắng tìm ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5Đ3 Trường Tiểu học Nguyễn Tấn
Kiều luyện từ, viết câu và làm văn tốt, trong năm học 2015- 2016.
Ví dụ : gần mực thì đen- gần đèn thì sáng.
- Mặt khác các em thường viết câu không rõ ràng : thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, sử dụng
từ và dấu câu chưa phù hợp dẫn đến câu văn tối nghĩa. Khả năng viết được các câu ghép
chưa cao. Khi làm văn thì chưa thể hiện rõ bố cục của bài văn, nội dung bài văn rời rạc,
chưa có sự liên kết giữa các đoạn, chưa biết vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa để
câu văn giàu hình ảnh và sinh động. Chưa thể hiện được cái mới, cái hay hoặc cảm xúc của
mình.
Tại sao lại có tình trạng trên ? Sau khi tìm hiểu, tôi nhận ra sở dĩ các em có những tồn
tại này là do các nguyên nhân :
* Do nhà trường
* Do giáo viên
* Do học sinh
* Do gia đình của các em
* Do ảnh hưởng của xã hội
Vậy cụ thể những nguyên nhân vừa nói trên là như thế nào ?
3
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
- Về phía nhà trường, tuy sách báo phục vụ cho học sinh khá đa dạng và phong phú
nhưng vì số lượng học sinh toàn trường đông nên thời gian đọc sách tại thư viện quy định
cho từng lớp còn hạn chế. Điều này ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu đọc sách của
học sinh qua đó còn gián tiếp ảnh hưởng đến việc phát triển vốn từ ngữ, khả năng viết văn
cũng như óc tưởng tượng phong phú cho các em.
- Nhìn chung ở lớp 5, có những bài Luyện từ và câu, Tập làm văn tương đối khó.
Tuy có rất nhiều phương pháp giảng dạy nhưng nếu giáo viên lựa chọn và vận dụng
phương pháp hoặc đưa ra biện pháp không thích hợp thì những tiết học ấy sẽ không đem
4
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
3/ Biện pháp giải quyết :
3.1/ Giúp học sinh phân loại từ và hiểu nghĩa từ.
- Học sinh rất khó khăn khi phải phân biệt từ đồng nghĩa hoàn toàn hoặc đồng nghĩa
không hoàn toàn. Ví dụ như: các em dễ lầm tưởng xanh nhạt, xanh sẫm cũng là từ đồng
nghĩa hoàn toàn với xanh lơ, xanh um.
Hay các em thường nghĩ rằng cách gọi một người bằng các hình thức diễn đạt khác
nhau như kiểu gọi vua Quang Trung là “ người anh hùng áo vải đất Tây Sơn” cũng là hiện
tượng đồng nghĩa. Ngoài ra, các em phân biệt chưa đúng giữa từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa. Chẳng hạn như : “ bàn” (1) trong cái bàn và “ bàn” (2) trong bàn
phím, các em xác định đây là từ đồng âm. Do không hiểu nghĩa từ nên khi học những bài
mở rộng vốn từ các em thường lúng túng trong quá trình giải nghĩa từ,
tìm từ … như ở bài Thiên nhiên, bài Nhân dân ,….
- Sở dĩ có tình trạng trên là do :
a/ Giáo viên chưa giúp học sinh phân biệt rõ từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm,
từ nhiều nghĩa.
b/Giáo viên chưa vận dụng đầy đủ, hiệu quả những biện pháp giải nghĩa từ cho học
sinh.
c/ Còn quá ít những dạng bài tập giúp học sinh phân biệt các từ. Đặc biệt trong
chương trình Tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa.
d/ Kinh nghiệm giảng dạy phân môn Luyện từ và câu của giáo viên còn hạn chế: chưa
biết cách hướng dẫn học sinh liên hệ thực tế để từ đó nảy sinh các liên tưởng trong dạy các
bài Mở rộng vốn từ.
Bài tập1: Tìm các cặp từ trái nghĩa trong các câu thành ngữ, tục ngữ sau:
Đi ngược về xuôi.
Trên kính dưới nhường.
Đoàn kết là sống chia rẽ là chết.
Bài tập 2: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau:
Hòa bình / ……………….
Thương yêu / ……………
Đoàn kết / ………………
Gìn giữ / ……………….
Qua bài tập này, tôi chú ý với học sinh: Một từ có thể trái nghĩa với nhiều từ.
Lành : ( áo) lành / rách
( tính) lành / dữ
( món ăn) lành / độc
Bài tập 3: Tìm từ trái nghĩa thích hợp vào chỗ trống trong các thành ngữ, tục ngữ sau:
a. Có mới nới ………
b. Xấu gỗ hơn ………..nước sơn.
c. Mạnh dùng sức,…….dùng mưu.
Ở bài tập này, tôi chú ý với học sinh: Từ trái nghĩa giúp ta tạo ra phép đối. Đối với tục
ngữ, thành ngữ việc sử dụng phép đối được coi là đặc trưng nổi bật nhất về cấu trúc.
Bài tập 4: Tìm những từ trái nghĩa nhau:
a. Tả hình dáng:
M: cao - thấp
b. Tả hoạt động:
M: khóc - cười
c. Tả trạng thái :
M: buồn - vui
d. Tả phẩm chất:
M: tốt - xấu
Qua bài tập này, tôi chú ý với học sinh: các từ trái nghĩa ở một nghĩa nhất định chứ
không phải ở tất cả các nghĩa. Chẳng hạn: từ tốt trái nghĩa với xấu ở nghĩa chỉ phẩm chất
Ví dụ a) Từ đồng âm:……………
+ Chỉ :…………………………………………………………………
+ Chỉ:…………………………………………………………………
( Các ví dụ b,c, d làm tương tự)
Bài tập 2: Tìm câu nói, đoạn văn, đoạn thơ,…có chứa từ đồng âm. Giải nghĩa từ đồng
âm đó.
Bài tập dạng này tạo điều kiện cho học sinh được nói những câu, những đoạn,…mà
các em đã từng nghe, từng đọc có chứa từ đồng âm .Đồng thời qua đó tôi cũng thu thập
thêm ngữ liệu cho mình từ việc lựa chọn những câu, những đoạn mà học sinh tìm được.
Tuy nhiên các em có thể tìm được câu, đoạn có chứa từ đồng âm nhưng lại khó khăn trong
việc giải nghĩa từ. Tôi đã gợi ý và tìm mẫu hai câu.
Ví dụ: + Kiến bò đĩa thịt bò.
Từ đồng âm : bò
- “Bò 1” chỉ hành động di chuyển của con kiến
- “Bò 2” chỉ một loại thịt
+ Chó cắn anh chết rồi.
Từ đồng âm: chết
- “ Chết 1”: Chó chết
- “ Chết 2” : Anh chết
Bài tập 3: Đặt câu với từ đồng âm.
Ví dụ: Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ đồng âm sau:
Từ “ đàn”
Câu 1:…………………………………………………………………………...
Câu 2:………………………………………………………………………….
c)
7
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
đó các em tự hiểu được náo nức nghĩa là hăm hở, phấn khởi trong lòng chờ đợi một điều gì
sắp đến. Sau đó, để kiểm tra các em đã nắm nghĩa như thế nào, tôi yêu cầu học sinh đặt câu
với từ vừa hiểu.
b.3/ Giải nghĩa từ bằng cách đối chiếu, so sánh với từ khác.
Ví dụ: Để giải nghĩa từ “đồi” tôi cho các em so sánh “ đồi” với “núi” ( đồi thấp
hơn núi, sườn thoai thoải hơn).
b.4/ Giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
Bên cạnh đó, tôi còn giúp các em hiểu nghĩa từ qua thực hiện các bài tập yêu
cầu giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa hoặc bài tập điền vào chỗ trống từ đồng nghĩa hoặc từ
trái nghĩa.
Ví dụ 1: Tìm từ đồng nghĩa với từ siêng học.(chăm học); ngày khai trường còn gọi
là ngày gì ? (ngày tựu trường, ngày khai giảng).
Ví dụ 2: Sạch sẽ là không.........
8
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
b.5/ Giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ thành các từ tố (tiếng).
- Tôi thường áp dụng biện pháp này khi giải nghĩa các từ Hán Việt.
Ví dụ: Với từ “tâm sự”, tôi giải thích cho các em biết: tâm sự là từ ghép gốc Hán, tâm
có nghĩa là lòng ; sự có nghĩa là nỗi; tâm sự nghĩa là nỗi lòng.
b.6/ Giải nghĩa bằng cách định nghĩa từ.
- Đây là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa bằng một định nghĩa.
Ví dụ: Giải thích từ ông nội, Tổ quốc. Tôi đặt câu hỏi: Ông nội là ai ? (ông nội là cha
của cha em); Tổ quốc là gì ? (Tổ quốc là đất nước mình).
c/ Hướng dẫn học sinh làm thêm các dạng bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa:
- Ngoài ra, tôi còn cho học sinh làm thêm các dạng bài tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
và dạng bài tập phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa như sau:
9
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
Dạng bài tập 3:
- Đặt một câu có từ chạy được dùng theo nghĩa gốc và một câu có từ chạy được dùng
theo nghĩa chuyển.
Ví dụ : Rùa chạy thi với thỏ. (chạy dùng theo nghĩa gốc)
Mẹ chạy chợ. (chạy dùng theo nghĩa chuyển)
Với bài tập này củng cố cho học sinh cách sử dụng từ nhiều nghĩa.
Dạng bài tập 4: (Các bài tập để phân biệt cả từ đồng âm và từ nhiều nghĩa)
4.1 Điền Đ vào ô trống sau câu có từ đồng âm và N vào ô trống sau câu có từ nhiều
nghĩa .
4.1a / Nước Việt Nam vào mùa mưa nước thường dâng cao.
4.1b/ Bạn Trường Sơn đi nước cờ quyết định mang vinh quang cho nước
nhà.
Đáp án: 4.1a/ : Đ
4.1b/ : N
4.2 Đặt câu:
Cho từ “ chín”.
4.2a/ Đặt 2 câu để phân biệt nghĩa của cặp từ đồng âm.
4.2b/ Đặt 1 câu có từ “chín” được dùng theo nghĩa gốc và 1 câu có từ “chín” được
dùng theo nghĩa chuyển.
Đáp án:
4.2a/ Cơm đã chín.
Em được chín điểm.
4.2b/ Cơm đã chín.
Được điểm kém con ngượng chín cả người.
Các em đã dần thực hiện tốt những bài tập phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. Tự
giác học thuộc các ghi nhớ, định nghĩa về từ đồng âm,… để làm bài tập. Đối với các bài
Mở rộng vốn từ, các em đã tham gia tích cực, sôi nổi trong việc tìm từ và đã hiểu được cặn
kẽ các từ vừa học.
3.2/ Rèn luyện cho học sinh cách viết câu:
- Trong quá trình học, các em thường mắc một số lỗi về đặt câu như: câu không đúng
về ý, không đúng về trật tự sắp xếp từ, về cách dùng từ. Còn mắc lỗi về dấu câu như:
không ghi dấu câu; câu cảm, câu cầu khiến thì quên ghi dấu chấm than (!) ; câu hỏi thì
không ghi dấu hỏi (?). Có những đoạn văn các em dùng dấu câu không đúng chỗ tạo ra câu
tối nghĩa, … Đối với việc học và thực hành câu ghép, các em còn nhiều hạn chế: viết câu
ghép chưa đủ hai vế câu và chưa đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ. Ngoài ra, các em viết câu văn,
đoạn văn chưa hay, chưa thể hiện được cảm xúc của mình, chưa biết vận dụng các biện
pháp so sánh, nhân hóa…
- Các em vướng phải những lỗi trên khi viết câu là do:
a/ Các em không nhớ các nguyên tắc cần thiết khi đặt câu cũng như trong trường
hợp nào thì sử dụng dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, chấm than. Không nhớ rõ
cấu tạo của một câu ghép.
b/ Giáo viên chưa hướng dẫn cụ thể cho học sinh các cách viết câu hay.
Biện pháp:
a/ Giúp học sinh nắm các nguyên tắc cần thiết khi đặt câu, cách sử dụng dấu câu,
cách viết câu ghép.
- Tôi nhắc lại cho các em nhớ những điểm cần chú ý khi đặt câu:
+ Đặt câu phải đúng về cách sắp xếp trật tự các từ như : chủ ngữ thường đứng ở
đầu câu, nêu đối tượng thông báo còn vị ngữ chứa đựng nội dung thông báo về đối tượng
ấy. Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi “Ai”, “Cái gì”, còn vị ngữ trả lời cho câu hỏi “Làm gì”,
“Như thế nào”…Biết tuân thủ, vận dụng quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa thích hợp, sáng tạo
các em sẽ viết câu đúng và hay.
Ví dụ: Nói “ Em múa rất đẹp” chứ không nói “ Em rất múa đẹp”
+ Câu phải đúng về ý, hợp với lô gíc diễn đạt. Tôi lưu ý các em phải nói và viết sao
+ Khi học sinh viết câu ghép chưa đúng, tôi cho các em nhận xét lẫn nhau phát hiện và
sửa lại.
Ví dụ : Tuy nhà bạn Lan rất xa nhưng vẫn đi học đều.
Vậy câu này sai chỗ nào ? Cho nhận xét sửa ngay. Câu này chưa đủ hai vế câu, sửa
lại là: Tuy nhà bạn Lan rất xa nhưng bạn ấy vẫn đi học đều. Giúp các em nhận rõ mỗi vế
câu ghép phải có cấu tạo như một câu đơn (có đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ)
+ Đối với những câu ngắn nhưng là câu ghép thì học sinh phải phân tích được cụm C-V
của câu đó.
Ví dụ :
Mưa to, gió lớn.
Mẹ tròn, con vuông.
Nhà cao, cửa rộng.
b/ Hướng dẫn học sinh các cách viết câu hay.
Tôi còn hướng dẫn cụ thể cho các em một số cách viết câu hay:
b1. Viết câu chính xác, rõ ràng. (Là câu chỉ có một cách hiểu)
- Phải dùng dấu câu, đặt biệt là dấu phẩy cho đúng chỗ.
Ví dụ :
Bố em đi xây nhà chiều mới về.
Đặt dấu phẩy :
Bố em đi xây nhà, chiều mới về.
Không thể đặt dấu phẩy: Bố, em, đi xây nhà chiều mới về.
- Dùng từ thường là hư từ để bổ sung ý nghĩa cho câu. Có thể dùng các hư từ: là,
hay, bởi, tại, cùng, và, ồ , à , nhỉ, ạ, ơi…để bổ sung ý nghĩa cho câu thêm sinh động.
12
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
Kết quả:
Các em đã hiểu, nhớ được những nguyên tắc cần thiết khi đặt câu. Xác định và đặt
được câu ghép. Đa số các em biết sử dụng những từ ngữ trau chuốt có chọn lọc để viết
thành những câu văn đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, cảm xúc.
3.3/ Rèn luyện cho học sinh cách làm văn miêu tả.
- Trong quá trình làm văn, ở thể loại văn miêu tả, các em thường lẫn lộn sang thể loại
văn kể chuyện. Một số học sinh khi làm văn, về mặt hình thức chưa thể hiện được ba phần
của một bài văn còn nhầm lẫn giữa mở bài và thân bài. Bài viết lủng củng, chưa thể hiện
được cái mới, cái hay, cái riêng và cảm xúc của mình...
- Qua kiểm tra, tôi phát hiện ra học sinh còn những hạn chế trên là do:
a/ Học sinh chưa phân biệt được các thể loại: văn miêu tả và văn kể chuyện. Chưa
nắm được bố cục của một bài văn.
b/ Các em còn lúng túng khi viết mở bài, thân bài, kết bài.
c/ Các em còn sử dụng “văn nói” trong quá trình viết văn làm cho câu văn khô khan,
ý tứ thô thiển, cục mịch. Chưa biết lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc để đưa vào
bài văn nhằm tạo cho mình một nét riêng.
13
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
Biện pháp :
a/ Giúp học sinh phân biệt một số thể loại văn, nắm được bố cục bài văn.
Tôi gợi ý để giúp các em phân biệt giữa văn miêu tả và văn kể chuyện.
+ Miêu tả: là dùng ngôn ngữ để người khác có thể thấy được các sự vật, sự việc, con
người… một cách cụ thể như ở trước mắt. Khi miêu tả cần lưu ý :
- Phải quan sát kĩ : dùng tai, mắt, mũi (có khi cả lưỡi nữa) để quan sát đồ vật, con
vật, nhân vật, thực vật hay cảnh vật muốn miêu tả.
- Phải nhận xét cẩn thận: bằng trí óc để tìm các chi tiết đặc biệt.
* Làm chính thức:
- Khi làm chính thức cần phải viết chữ ngay ngắn, cẩn thận. Không được viết tắt
trong bài văn, không được viết chữ số, ngoại trừ ngày, tháng, năm hay niên hiệu của một vị
Vua.
* Đọc lại bài :
- Cuối cùng nên đọc lại bài ba lần để kiểm soát xem có sai về lỗi chính tả hay dấu
câu không.
14
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
b/ Hướng dẫn các em cách viết phần mở bài, thân bài, kết bài.
* Phần mở bài:
- Giới thiệu đối tượng miêu tả (tả cảnh vật, người, đồ vật, con vật, cây cối) bằng cách
trực tiếp hay gián tiếp.
- Trong bài tập làm văn, phần mở bài là phần thứ nhất nhằm mục đích giới thiệu đối
tượng sẽ nói ở phần thân bài. Đây là phần gây ấn tượng đầu tiên cho người đọc. Các em có
thể vào bài bằng một câu hay một đoạn nhưng cần phải bám sát vào nội dung yêu cầu đã
được xác định. Dựa vào mở bài của mỗi em mà tôi góp ý, không gò bó, không áp đặt.
- Tôi còn hướng dẫn cho các em một số cách mở bài :
. Mở bài bằng cách giới thiệu : Theo cách này, ta đề cập trực tiếp đến đối tượng.
Ví dụ : Tả cây mận đang có trái.
“Cây mận trước nhà em thuộc loại mận “da người”. Ba em trồng đã hơn bốn năm
rồi, nó mới có trái chiến.”
. Mở bài bằng cách nêu lí do: Với cách này ta nói rõ nguyên nhân, trường hợp nào
ta bắt gặp đối tượng.
Ví dụ: Tả hình dáng và hoạt động của con mèo nhà em.
“Vì nhà có nhiều chuột, nên ba xin một con mèo về nuôi. Đến nay, nó đã lớn và bắt
- Tôi gợi mở cho học sinh nói theo ý của các em. Sau đó sẽ chắt lọc, sửa sai( nếu cần).
Đồng thời tôi cũng khuyến khích học sinh có thể: nêu một câu hỏi, một ý tưởng mới lạ,
một lời bình, một lời nói,câu ca dao thành ngữ, tục ngữ để nói cảm nghĩ của mình về bài
văn đã miêu tả
c/ Hướng dẫn học sinh dùng từ, lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc để
đưa vào bài văn nhằm tạo cho mình một nét riêng.
- Để giúp các em dùng từ trau chuốt, câu văn thêm bóng bẩy, giàu hình ảnh. Trong
các tiết lập dàn ý, tôi rất chú trọng đến việc hướng dẫn các em lập dàn ý. Đặc biệt là sử
dụng từ .
Ví dụ 1: Với đề bài: Gia đình em có nuôi một con chó rất khôn. Em hãy tả lại con
chó đó .
. Tôi hướng dẫn để học sinh lập dàn ý cho phần thân bài .Cụ thể:
Tổng quát
Chi tiết
+ Hình dáng tổng quát:
Tầm vóc trung bình vạm vỡ, lông
xù, màu đen.
+ Từng bộ phận:
Chân lùn, dưới mõm có râu, mắt sáng,
tinh nhanh, có hai đốm vàng, tai cụp và thính
+ Hoạt động, tính nết:
Mừng rỡ khi chủ đi đâu về, đêm đêm
giữ nhà, hiểu được tiếng người, ngoan ngoãn.
. Dựa vào dàn ý tôi yêu cầu học sinh diễn đạt thành câu văn đúng ngữ pháp:
“Con chó của em tuy tầm vóc trung bình nhưng rất vạm vỡ. Nó có bộ lông xù màu
đen.
Bốn chân chó hơi lùn. Dưới mõm nó có râu. Đôi mắt nó sáng và tinh nhanh, phía
trên hai mí lại có thêm hai đốm vàng nho nhỏ. Đôi tai nó cụp xuống và rất thính.
Mỗi khi em đi học về nó rất mừng. Đêm đêm nó nằm trước cổng để giữ nhà. Con
chó của em dường như hiểu được tiếng người và ngoan ngoãn.”
. Tả em bé cần chú ý đến gương mặt bầu bĩnh, làn da mịn màng…
Và tôi thường xuyên nhắc nhở các em: trong quá trình làm văn cần sử dụng các biện
pháp tu từ so sánh, nhân hóa, các từ tượng hình,… để câu văn sinh động hấp dẫn hơn.
Kết quả:
Các em không còn lầm lẫn giữa các thể loại Tập làm văn và trong quá trình làm văn đã
biết chọn lựa những hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc để đưa vào bài văn của mình. Đồng thời
nhiều em còn biết sử dụng hình ảnh so sánh, nhân hóa giúp câu văn sinh động, bài văn hay
hơn. Tôi thấy các em cũng mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
3.4. Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để giúp học sinh học tốt phân
môn luyện từ và nâng cao khả năng viết văn.
Một số gia đình chưa tạo điều kiện tốt cho học sinh trong quá trình học. Đặc biệt là học
môn Tiếng Việt. Không có sự nhắc nhở, la rầy khi trẻ ở nhà thích các loại phim hoạt hình,
phim võ thuật …trên ti vi đến quên cả việc học.
- Đối với những học sinh yếu, mê chơi, lười học, tôi thường xuyên theo dõi, nhắc nhở,
giúp đỡ các em. Giảng lại những chỗ mà các em chưa hiểu, khuyến khích các em học
nhóm đôi ở đầu mỗi buổi học để các em có dịp trao đổi, học hỏi cái hay của bạn. Qua đó
giúp các em tự rèn luyện, mở rộng vốn từ cho chính mình. Ngoài việc phụ đạo tại lớp, tôi
chủ động gặp gỡ cha mẹ của các em, đề nghị và động viên họ quan tâm hơn đến việc học
của con em mình, tạo cho các em một góc học tập yên tĩnh, quản lý chặt thời gian tự học ở
nhà, thường xuyên kiểm tra tập vở, nhắc nhở các em học bài và làm các bài tập về nhà.
- Bên cạnh đó để giúp các em có điều kiện học tốt hơn môn Tiếng Việt. Tôi khuyến
khích các em tìm đọc các loại sách, báo dành cho lứa tuổi Thiếu nhi. Ở trường, tôi liên hệ
với giáo viên phụ trách thư viện cùng tạo điều kiện để trong tuần các em có thể lên phòng
thư viện của trường đọc sách nhiều lần và cho phép các em mượn về nhà đọc.
- Ngoài ra, tôi động viên các em cùng nhau trao đổi sách để đọc, kể cho nhau nghe về
câu chuyện mình đã đọc và thi kể chuyện trước lớp. Bên cạnh đó, tôi còn đề nghị gia đình
của các em (những gia đình có điều kiện) mua thêm các loại sách phù hợp với lứa tuổi để
các em đọc, tự trau dồi cho mình những kiến thức về cuộc sống. Điều này sẽ góp phần
trong việc mở rộng và nâng cao khả năng diễn đạt, sử dụng từ cho các em. Đồng thời có
quy định cụ thể với trẻ về thời gian cũng như các chương trình trên truyền hình mà các em
36
87,8 %
32
78,05 %
- Mặc dù kết quả đạt được chưa phải là tuyệt đối, nhưng nhìn chung đã thể hiện sự cố
gắng và tiến bộ rất nhiều ở các em. Và kết quả này cũng là nguồn động viên để tôi tiếp tục
duy trì, thực hiện các biện pháp nói trên. Đồng thời cũng khuyến khích tôi nghiên cứu, tìm
thêm các biện pháp mới tích cực và hiệu quả hơn nữa nhằm nâng cao chất giảng dạy ở lớp
mình.
18
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
III. KẾT LUẬN:
1/ Tóm lược giải pháp:
- Để học sinh đạt được yêu cầu về phân biệt từ, tìm và mở rộng vốn từ, dùng từ, viết
câu đúng và hay, làm bài văn tốt. Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh vốn ngôn ngữ qua
từng bài học. Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự việc, một
vấn đề nào đó và thể hiện điều đó bằng vốn ngôn ngữ của mình. Giúp các em hiểu được
nghĩa của từ để tránh và hạn chế tối đa việc sử dụng từ không đúng lúc, không đúng chỗ.
Điều chỉnh kịp thời những lỗi về dùng từ, viết câu, làm văn của học sinh. Giáo viên cần tổ
chức đa dạng các hình thức học tập, xây dựng cho học sinh thói quen tự học, tự tìm tòi cái
mới trong học Tiếng Việt. Nâng cao việc hợp tác trong học tập để các em tự đánh giá lẫn
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
20
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa
SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh luyện từ, viết câu và làm văn tốt
21
Người thực hiện : Nguyễn Thị Kim Thoa