ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-----------
CHUYÊN ĐỀ HỌC PHẦN
KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC GIAI
ĐOẠN 2006-2010
Huế, tháng 11 năm 2015.
LỜI CẢM ƠN
Bước vào Thế kỷ 21 ngành Giáo dục Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm đổi mới và thu
được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hình thức giáo
dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường, trình độ dân trí được nâng cao, chất
lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu. Đảng và nhà nước ta luôn coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, xây dựng xã hội học tập,
tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên,
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục.Trước đây, khi còn
trong chế độ bao cấp, ngành giáo dục nước ta chủ yếu chịu sự quản lý và đầu tư của
nhà nước, từ sau Đại hội VIII Đảng và Nhà nước khuyến khích mở cửa trong đầu tư
giáo dục, xã hội hóa giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư của ngành, giảm gánh
nặng đầu tư cho nhà nước, nâng cao hiệu quả trong đầu tư. Để đánh giá được tầm quan
trọng và hiệu quả của vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển ngành giáo dục trong
2.3.1 Những thành tựu đạt được
2.3.1.1 Hình thành một hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân tương đối hoàn
chỉnh, thống nhất và đa dạng hóa với đầy đủ các cấp học
2.3.1.2 Tốc độ phát triển giáo dục và đào tạo không ngừng tăng lên
2.3.2 Những hạn chế
2.3.3 Nguyên nhân của những yếu kém bất cập
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
3.1 Định hướng
3.2 Giải pháp
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
GD- ĐT: Giáo dục đào tạo
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NSNN: Ngân sách nhà nước
TCCN: Trung cấp chuyên ngiệp
VĐT: Vốn đầu tư
XDCB: Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số lượng trường học từ mầm non đến đại học giai đoạn 2006-2010
Bảng 1.2: Quy mô học sinh, sinh viên từ
Bảng 1.3: Số giáo viên trực tiếp giảng dạy từ năm 2006-2010
2006-2010”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tầm quan trọng và hiệu quả của vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát
triển ngành giáo dục trong thời gian qua và vai trò của vốn ngân sách nhà nước cho
giáo dục trong thời gian tới.
Hiểu những vấn đề chung nhất về đầu tư phát triển ngành giáo dục, vai trò của đầu
tư phát triển ngành giáo dục, vị trí nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát
triển ngành giáo dục.
Nhận thức rõ hiên trạng ngành giáo dục Việt Nam qua đó đánh giá tình hình đầu tư
phát triển ngành giáo dục từ nguồn vốn ngân sách nhà nước từ năm 2001 đến nay.
Đưa ra những chiến lược đầu tư phát triển ngành giáo dục đến năm 2020 của Đảng
và nhà nước, trên cơ sở đó cùng với tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục , xây
1
dựng nên một số giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp số liệu điều tra liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các nguồn, xử lí và
phân tích số liệu.
- Từ số liệu đã đươc phân tích, rút ra nhận xét, đánh giá thực trạng.
- Tìm ra giải pháp để cải thiện thực trạng hiện thời và có định hướng để phát triển
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: đáu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo.
+ Thời gian: Giai đoạn 2006- 2010.
+ Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2007-2008
2008-2009
2009-2010
kê giáo
11.696
12.071
12.265
12.509
đào tạo,
Bộ giáo
Mầm
non
đào tạo)
Tiểu học
14.834
14.933
304
289
Cao đẳng
183
209
212
215
mầm
Đại học
139
160
181
190
thông
dục và
Thứ hai, Quy mô học sinh: Đến năm 2009-2010, tổng số học sinh, sinh viên trong
cả nước là 21.574.172 trong đó, số trẻ em mầm non là 3.147.252 triệu em. Số học sinh
tiểu học là 7.041.312 triệu em, giảm 280.427 học sinh so với năm học 2008-2009. Số
học sinh tiểu học giảm là do trong nhiều năm qua, nước ta đã thực hiện tốt công tác
DS& KHHGĐ, dẫn đến dân số trong độ tuổi tiểu học giảm xuống đáng kể và công tác
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được đẩy mạnh trong cả nước. Số học sinh
trung học cơ sở là: 6.218.457, giảm 240.061 học sinh so với năm học 2008-2009 do số
học sinh lớp 5 giảm trong những năm qua và công tác phổ cập THCS được đẩy mạnh,
giảm được số học sinh lưu ban và bỏ học. Số học sinh THPT là 3.111.280 tăng
134.408 học sinh so với năm trước. Số học sinh TCCN là 515.670 tăng 11.418 so với
năm trước. Tổng quy mô đại học, cao đẳng là 1.796.201 sinh viên, đạt 211,3 sinh viên
trên 1 vạn dân. Như vậy so với năm học 2006-2007 thì số học sinh THPT, số sinh viên
cao đẳng và đại học năm học 2009-2010 tăng khá nhanh. Chứng tỏ chất lượng giáo
dục và trình độ học vấn của người dân đã có nhiều chuyển biến đáng kể.
Bảng 1.2: Quy mô học sinh, sinh viên từ
2006-2007
2007-2008
2008-2009
2009-2010
Mầm non
2.593,3
2.774,0
2.890,0
2840,9
TCCN
388
418
465
535
CĐ-ĐH
1666,2
Cấp học
Năm học
1796,2
( Nguồn: Thống kê giáo dục đào tạo, Bộ giáo dục đào tạo)
4
- Thứ ba, Đội ngũ cán bộ giáo viên: Đến năm 2009-2010, cả nước có 1.046.297
giáo viên, giảng viên, trong đó: 144.480 Giáo viên mầm non; 355.243 Giáo viên tiểu
học, 317.252 giáo viên THCS, 146.375 giáo viên THPT, 18.002 giáo viên TCCN và
Trung học cơ sở
314,9
317,5
317,0
317,2
Trung học phổ thông
125,2
134,4
140,2
146,3
14,540
14,658
16,808
18,002
53,364
+ Đào tạo đại học và sau đại học: Số sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng và
đại học tăng lên đáng kể trong thời gian qua. Năm học 2006-2007 có 80.197 sinh viên
tốt nghiệp cao đẳng và 153.303 sinh viên tốt nghiệp đại học. Và đến năm học 200920010 có 83.064 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, 163.736 sinh viên tốt nghiệp đại học.
Qua khảo sát ở nhiều doanh nghiệp, và cơ quan nhìn chung đại bộ phận cán bộ thuộc
các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước đều có trình độ từ cao đẳng trở lên và được đánh
giá có trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm thuộc lọai khá và tốt.
1.2 Những yếu kém
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn chung, ngành giáo dục nước ta còn yếu
về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu , hiệu quả giáo dục chưa cao, giáo dục chưa gắn
bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn với sử dụng, đội ngũ giáo viên còn yếu, cơ
sở vật chất còn thiếu, chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục và công tác quản
lý chậm đổi mới, một số hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương chậm được khắc phục.
Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được với trình độ
tiến tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng được với các ngành
nghề trong xã hội. Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về tư duy sáng tạo, kỹ
năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp, các kỹ năng mềm như: tinh thần
hợp tác, khả năng giao tiếp, khả năng làm việc nhóm, khả năng tự tổ chức công việc…
còn hạn chế.
6
Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp so với số
lượng học sinh nhập học đầu năm còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tỷ
lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp; còn nhiều học sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp
chưa có việc làm. Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc
phục nhưng vẫn bị mất cân đối. bên cạnh đó, công tác chỉ đạo cũng như tâm lý xã hội
vẫn còn nặng nề về đào tạo đại học, chưa chú trọng đúng mức đến đào tạo nghề, đặc
biệt là đào tạo nghề ở trình độ cao. Việc tăng quy mô đào tạo trong những năm gần
đây chủ yếu vẫn diễn ra ở bậc đại học, tỷ lệ học sinh, sinh viên cao đẳng kỹ thuật công
2006
2007
2008
2009
2010
1.VĐT toàn xã hội
- Tốc độ tăng
163.500 180.400 217.600 258.700 324.000
- 10.34 20.62 18.89 25.24
2. VĐT cho GD-ĐT
- Tốc độ tăng
25.882 34.088 37.552 54.223 68.968
31.7
10.2
44.4
27.2
3. Tỷ trọng VĐT GD-ĐT
6,3
5,3
vốn ngân sách nhà nước giành cho giáo dục, với tỷ lệ trên nguồn vốn này hàng năm đã
đóng góp một phần đáng kể vào cải thiện chất lượng giáo dục, có thể thấy ngân sách
nhà nước giành cho bậc cao đẳng đại học chiếm 9 % tổng ngân sách nhà nước giành
cho giáo dục, nếu không có sự đóng góp của nguồn vốn này thì nguồn vốn ngân sách
nhà nước không đủ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở bậc học được coi là tạo ra
nguồn lực phát triển đát nước. Để duy trì được những nguồn vốn này chúng ta cần
phải sử dụng thật sự có hiệu quả, hiệu quả cảu việc thực hiện các dự án giáo dục vốn
vay ODA không chỉ nhìn nhận ở góc độ giải ngân, mà quan trọng nhất là học sinh
được nhận được gì từ những cơ sở vật chất do đầu tư xây dựng mang lại.
2.2 Thực trạng đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo
2.2.1 Tổng vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo bằng vốn ngân sách nhà nước
Tổng chi NSNN giành cho giáo dục đào tạo ngày càng có xu hướng tăng năm 2010
lượng vốn này ước khoảng 82.004 tỷ đồng đạt 21% tổng chi NSNN.
9
Bảng 1.5: NSNN chi cho ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị : Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
2006
GDP
2007
2008
NSNN cho GD- ĐT so với GDP
4,48
4,7
5,11
5,67
5,83
Chi NSNN cho GD- ĐT so với tổng
chi NSNN
12,12
13,46
12,85
13,20
14,12
(Nguồn: tổng cục thống kê)
Ngân sách của nhà nước giành cho ngành giáo dục ngày càng tăng, năm 2007 so với
năm 2006 là 17.61 % và các năm tiếp theo là 18.17 %; 22.91 % đến năm 2010 là 24%
và con số này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Tuy nhiên, so với nhu cầu phát triển
2008
2009
2010
Tổng
25.882
34.088
37.552
54.223
68.968
220.713
2.588,2 3.920,1 4.393,6 6.452,5
51,5
12,1
46,9
8.552 25.906,4
32,5
-
3. VĐT cho GDPT 20.964,4 27.270,4 30.041,6 43.161,5 54.484,7 175.922,6
25,4
(Nguồn: Vụ Tổng hợp KTQD, Bộ KH-ĐT)
Qua bảng trên ta thấy, mặc dù tốc độ tăng về vốn NSNN đầu tư cho GD-ĐT không
đồng đều nhau theo các năm nhưng một xu hướng tích cực đó là không ngừng tăng từ
năm này qua năm khác. Cấp học nào, bậc học nào cũng có sự gia tăng về vốn đầu tư.
Trong đó vốn đầu tư phát triển cho giáo dục phổ thông là lớn nhất, còn vốn đầu tư phát
triển cho trung học chuyên nghiệp là ít nhất. Cụ thể :
11
Bảng 1.7: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo theo cấp học, bậc học
giai đoạn 2006-2010. Đơn vị: %
2006 2007 2008 2009 2010
1.Tổng VĐT
100 100 100 100 100
2. VĐT cho GDMN
10 11,5 11,7 11,9 12,4
3 VĐT cho GDPT
81
80
80 79,6
khăn cho các xã trắng về giáo dục mầm non, mạng lưới và loại hình trường, nhất là
mầm non dân lập và tư thục được mở rộng, số trẻ huy động đến trường, lớp mầm non
ngày càng gia tăng, nhất là mẫu giáo 5 tuổi. Trong năm học 2008 – 2009 chỉ còn 13 xã
trắng về giáo dục mầm non tập trung ở các tỉnh miền núi khó khăn như Hà Giang, Lai
Châu, Bình Định… trong năm học này có 514.200 cháu nhà trẻ, tăng 24,3 % so với
năm học 2007 – 2008; 2.499.000 học sinh mẫu giáo tăng 12,7 % so với năm học 2007
12
– 2008; đến năm học 2009 – 2010 con số này là 481.909 cháu nhà trẻ và 2.596.768 số
học sinh mẫu giáo.
Giáo dục phổ thông, trong đó quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm và đang dần đi
vào ổn định, năm học 2008 – 2009 có 7.947.600 học sinh, giảm 402, 5 nghìn so với
năm học 2007 – 2008, năm học 2009- 2010 là 6.871.795 học sinh . Đối với bậc trung
học cơ sở , số học sinh THCS chưa ổn định, năm học 2008 – 2009 có 6.972.000 học
sinh THCS tăng 2,7 % so với năm học 2007 – 2008, năm học 2009 – 2010 là
5.858.484 học sinh giảm 3% so với năm học 2008 – 2009, tỷ lệ huy động đi học trong
độ tuổi tăng đạt 92 %. Tuy đang trong giai đoạn thực hiện phổ cập nhưng số học sinh
THCS giảm do ảnh hưởng giảm hàng năm của số học sinh lớp 5, hiệm tượng giảm đã
dừng và tăng dần trở lại tiếp cân với số dân số của độ tuổi sau khi cả nước đạt được
phổ cập giáo dục đúng độ tuổi. Đối với bậc trung học phổ thông, các tỉnh thuộc vùng
kinh tế phát triển vẫn giữ được mức tuyển sinh vào lớp 10 ổn định, năm học 2008 –
2009 có 2.847.300 học sinh phổ thông tăng 8,8 % so với năm học 2007– 2008, năm
học 2009 – 2010 là 3.070.023 học sinh tăng 0,5 % so với năm học 2008 - 2009.
Giáo dục đại học cao đẳng, trong thời gian qua giáo dục đại học tăng nhanh về số
lượng và chất lượng giảng dậy, hàng năm đều đạt được các chỉ tiêu về quy mô như kế
hoạch, các chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu là do có thêm các trường đại học, cao đẳng mới
thành lập, nên số chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu dành cho các trường này
2.2.3 Đầu tư cho giáo dục và đào tạo theo phân vùng tự nhiên và dân cư.
Bảng 1.8: Tổng vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo theo các vùng, miền. Đv: tỷ đồng
565.38
21.33
2. Đồng bằng
661.96
23.71
3. Núi thấp- vùng sâu
784.69
30.91
4. Núi cao- hải đảo
1.144.000
(Nguồn Vụ Tổng hợp KTQD, Bộ KH-ĐT)
39.95
Qua bảng tổng hợp trên ta thấy rằng định mức vốn đầu tư phân bổ chi sự nghiệp
giáo dục và đào tạo ở các vùng núi, vùng sâu và hải đảo cao hơn các vùng như đô thị
và đồng bằng. Điều này thể hiện nỗ lực của nhà nước trong việc tạo điều kiện cho tất
cả người dân đều được thụ hưởng nền giáo dục và đào tạo, để nhằm thực hiện công tác
xã hội hóa và công bằng trong giáo dục và đào tạo.
Trong những năm học qua các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt
- Tốc độ tăng
(Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ KHĐT)
Bảng 1.11: Số lượng trường của các cấp học giai đoạn 2006 – 2010
2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010
Tổng
39.917
40.643
41.076
41.611
1. Mầm non
11.696
12.071
12.265
12.509
100
98
101
28.408
Tiểu học
14.834
14.933
15.051
15.172
THCS
10.408
10.508
10.576
10.675
Trường THPT
2.351
2.457
2.487
Trường CĐ
183
209
212
215
Nhà trẻ
THCN
(Nguồn: Kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo năm
2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.)
15
Qua bảng tổng kết trên ta thấy, cùng với bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thì trong 5
năm qua việc tăng cường phát triển mạng lưới trường lớp cũng được quan tâm đáng
kể. Số lượng trường, lớp ở tất cả cấp, bậc học đều gia tăng. Cụ thể:
Nhờ có sự đầu tư trên, hiện tại cả nước đã có gần 600 trường mầm non, gần 3.400
trường tiểu học, trên 500 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học đạt chuẩn
quốc gia. Số phòng học cấp 4 và kiên cố đã tăng đáng kể ( 53.300 phòng), số phòng 3
ca giảm, đến năm học chỉ còn 185 phòng. Nhờ tập trung thực hiện chương trình kiên
cố hóa trường, lớp học đã có 33.235 phòng học được triển khai xây dựng, trong đó số
phòng đã hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm học là 14.031 phòng và trong năm
học
thường
xuyên
và
chi
đầu
tư
xây
dựng
cơ
bản
Xét theo tính chất kinh tế, chi NSNN cho giáo dục đào tạo gồm chi: Chi thường xuyên
và chi đầu tư phát triển
16
Bảng 1.12: Chi NSNN cho giáo dục đào tạo xét theo tính chất kinh tế
Đơn vị: Tỷ đồng
14,97%
2008
41.360 35.007
84,6%
6.623
15,36%
2009
55.300 45.595 82,45%
9.705
17,55%
2010
66.770 55.240 82,73% 11.530
17,26%
(Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ
KHĐT)
Thứ nhất: Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Trong giai đoạn 2006 đến năm 2010 vốn đầu tư xây dựng cơ bản được bố trí tăng
Trong phần vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản vốn ODA chiếm một tỷ lệ lớn, góp
phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dậy của
các cấp học. Tiến độ giải ngân thực tế so với kế hoạch năm 2010: Tổng số vốn ODA
giải ngân là 50,22 triệu USD (kế hoạch là 56,85 triệu USD), so với kế hoạch đạt 88%.
Tổng số vốn đối ứng giải ngân là 12,66 triệu USD tương đương 202.624 triệu đồng (kế
hoạch là 12,66 triệu USD tương đương 202.624), so với kế hoạch đạt 100%. Lũy kế tỷ
lệ giải ngân thực tế đến năm 2008: So với tổng số vốn đã ký kết của 9 chương trình, dự
án ODA do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai thực hiện, lũy kế giải ngân đến
năm 2008 là 136,23 triệu USD, so với tổng vốn của 9 dự án, chương trình là 275,40
triệu USD, tỷ lệ đạt 49%. Riêng vốn đối ứng lũy kế giải ngân đến năm 2010 là 30,91
triệu USD, so với tổng vốn cam kết 62,96 triệu USD, đạt 49%. Sau 10 năm sử dụng
18
nguồn vốn ODA trong giáo dục, số dự án cho giáo dục tiểu học chiếm khoảng 47%,
trung học 33%, đại học 19%. Những dự án, chương trình này đã giúp Việt Nam giải
quyết vấn đề cấp thiết nhất là nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện công bằng
giáo dục, năng lực làm kế hoạch, quản lý. Tình hình quản lý các chương trình, dự án
ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều được triển khai, thực hiện tốt. Các hoạt động
đều sát với nội dung đã đàm phán ký kết, công tác quản lý tài chính, công tác đấu thầu
trong mua sắm trang thiết bị và các công trình xây dựng, tuyển dụng tư vấn đã được
thực hiện đầy đủ theo các quy định của nhà nước và nhà tài trợ.
Thứ hai: Chi thường xuyên
Phần vốn giành cho chi thường xuyên bao gồm: chi thường xuyên cho giáo dục đào
tạo, chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, chi sự nghiệp đảm bảo xã hội, chi sự nghiệp
kinh tế, chi sự nghiệp bảo vệ môi trường, chi quản lý hành chính, chi trợ giá báo chí.
- Chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo: đây là phần chi đào tạo cho các đối tượng
học sinh, sinh viên hàng năm, bồi dưỡng công chức. Với quy mô đào tạo ngày càng
tăng của tất cả các bậc học, chi phí thường xuyên cũng ngày càng tăng để đáp ứng yêu
cầu của người học.
12,9
4. Trung cấp chuyên nghiệp, dạy
22.414
1,53
nghề.
(Nguồn: Kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo năm
19