TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
----o0o----
BÀI LUẬN MÔN LUẬT CẠNH TRANH
Đề tài:
Các hành vi nhằm ngăn cản sự tham gia thị trường của các
đối thủ cạnh tranh và thực tiễn tại Việt Nam
Nhóm sinh viên thực hiện:
1.
2.
3.
4.
Phạm Thị Khánh Dương
Đỗ Thị Kim Phượng
Phạm Thu Hiền
Mai Thanh An
Giảng viên: Ts. Trần Thăng Long
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
1
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực phát triển của các thành phần, các chủ
thể kinh tế cùng tham gia kinh doanh. Động lực cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp cải tiến
thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng
II. Thực tiễn hành vi nhằm ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ…………………...11
cạnh tranh tại Việt nam
1. Tình hình thực tiễn tại Việt Nam……………………………………………………..............11
2. Một số bình luận từ thực tiễn các vụ việc về hành vi nhằm ngăn cản ……………………….12
sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh
3. Kết luận……………………………………………………………………………………….17
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………………..............18
3
I. Cơ sở lý thuyết hành vi nhằm ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh
tranh
1. Khái niệm:
Hành vi Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là một trong các
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm theo khoản 6
Điều 13 và khoản 1 Điều 14 Luật cạnh tranh 2004.
Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tạo ra những rào
cản về giá hoặc về nguồn tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu… trên thị trường liên quan.
2. Hình thức thực hiện: Theo điều 31 Nghị định 116/2005
Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tạo ra những rào
cản sau đây:
1. Yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới.
2. Đe dọa hoặc cưỡng ép các nhà phân phối, các cửa hàng bán lẻ không chấp nhận phân phối
những mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới.
3. Bán hàng hóa với mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh mới không thể gia nhập thị trường nhưng
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 23 của Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
3. Đối tượng của hành vi:
Đối tượng hướng đến của hành vi là những đối thủ cạnh tranh mới (DN tiềm năng).
4. Mục đích:
trường đó, bao gồm: những điều kiện vốn có của thị trường, đòi hỏi những người muốn tham gia
kinh doanh phải đáp ứng, ví dụ: điều kiện về tính kinh tế nhờ quy mô, lợi thế tuyệt đối về chi phí
v.v.; hoặc là những quy định của pháp luật để chọn lọc người tham gia thương trường, như: các
quy định về điều kiện kinh doanh, quy định về bảo hộ trong những ngành thiết yếu của kinh tế
quốc dân…. Nếu sự phát triển cạnh tranh trên thị trường là cần thiết thì công cụ cần được áp
dụng để khắc chế khả năng hạn chế cạnh tranh của những nhân tố trên sẽ là các chính sách kinh
tế mà không thể sử dụng pháp luật cạnh tranh. Trong trường hợp này, các rào cản không do
hành vi của các nhà kinh doanh gây ra nên không thể sử dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết.
Các chính sách được sử dụng có thể là chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách hỗ trợ tài
chính, kỹ thuật, xóa bỏ các rào cản pháp lý, cải cách thủ tục đầu tư, cấp phép....
- Rào cản chiến lược là hành vi trong chiến lược của các doanh nghiệp đang hoạt động
trên thị trường nhằm ngăn cản sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng, ví dụ như chiến
lược định giá để ngăn chặn đối thủ; chiến lược thiết lập các rào cản theo chiều dọc…. Trong
trường hợp này, do các rào cản do hành vi của các doanh nghiệp gây ra nên có thể sử dụng pháp
5
luật cạnh tranh để giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng các chế định khác nhau để
xử lý tùy từng vụ việc cụ thể. Nếu các rào cản do một thỏa thuận của nhiều doanh nghiệp gây ra
thì sử dụng chế định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để giải quyết. Nếu rào cản do doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền thực hiện thì áp dụng các quy định về hành vi lạm
dụng để xử lý.
Theo Điều 31 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, các rào cản cho việc gia nhập thị trường có thể
được hình thành bằng việc các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp độc quyền thực
hiện một trong các hành vi sau đây:
- Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược tẩy chay bằng cách yêu cầu khách hàng của
mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới.Hành vi này được pháp luật của một số nước
gọi là hành vi thâu tóm khách hàng bởi nếu không có hành vi này, khách hàng có thể sẽ trở
thành khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Bằng việc yêu cầu khách hàng của mình không giao
dịch với đối thủ cạnh tranh mới, các doanh nghiệp đã tạo ra những khó khăn trong việc tiêu thụ
mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập thị trường nhưng không thuộc trường hợp
bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ. Với lập luận tương tự như trường hợp
của hành vi định giá dưới giá thành toàn bộ, chiến lược ngăn cản qua giá được thực hiện để làm
cho các nhà kinh doanh có ý định gia nhập phải cân nhắc khả năng có được lợi nhuận hay không
với mức giá hiện tại (đã được hạ thấp). Đối với trường hợp này, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP
chưa đưa ra được căn cứ để xác định mức giá ngăn cản, các quy định mới chỉ dừng lại ở việc mô
tả chung là “không thuộc trường hợp bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ....
Vì thế vấn đề tiếp theo mà pháp luật phải làm rõ là xác định ranh giới về giá của hai trường hợp
định giá dưới giá thành toàn bộ và định giá ngăn cản.
Thứ ba, mặc dù một trong những căn cứ để xác định sự vi phạm là đã ngăn cản sự gia
nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, nhưng cơ quan có thẩm quyền chỉ cần xác định
được rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có vị trí độc quyền đã thực hiện một trong ba chiến
lược ngăn cản kể trên, không cần phải xác định chiến lược ngăn cản đã hoàn thành hay chưa.
Việc ngăn cản mà Luật Cạnh tranh nói đến tồn tại ở dạng tiềm năng của hành vi, tức là nếu các
hành vi kể trên đã mang trong mình khả năng ngăn cản sự nhập cuộc của doanh nghiệp mới, là
đủ để kết luận về sự vi phạm.
Đối với các doanh nghiệp có vị trí độc quyền nhằm củng cố vị trí độc quyền trên thị
trường họ phải tìm mọi cách để giữ vững vị trí này, đây không phải là phương hướng kinh
doanh sản xuất, mà đây là hành vi mang tính chiến lược để nhằm củng cố địa vị độc quyền của
doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp không phải cạnh tranh với bất cứ ai trên thị trường.
7
Thông thường các doanh nghiệp có vị trí độc quyền ngăn cản việc tham gia bằng cách
đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để được gia nhập thị trường hoặc hạ giá thành các sản phẩm, các
hành vi phân biệt đối xử thiết lập cạnh tranh không lành mạnh và thiết lập sự phân biệt đối xử về
giá tức là một mặt hàng có công dụng như nhau nhưng được bán với giá thấp hơn hoặc khác
nhau cho người tiêu dùng. Việc phân biệt giá còn được thể hiện ở việc các doanh nghiệp độc
quyền sử dụng hàng loạt các biện pháp khuyến mãi về giá đối với những nhóm người mua cụ
thể hoạt động trên địa bàn cụ thể nhằm đánh bật đối thủ hoặc cản trở đối thủ khi gia nhập thị
3. Bán hàng hóa với mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh mới không thể gia nhập thị trường nhưng
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 23 của Nghị định này.
Xét từ những qui định này, một doanh nghiệp đơn lẻ có thể khó thực hiện hiệu quả việc ngăn
cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, ta không loại trừ khả năng
các doanh nghiệp đã tạo ra các liên minh để thực hiện các hành động hoặc một chuỗi các hoạt
động liên quan nhiều giai đoạn từ mua bán nguyên vật liệu đến khâu phân phối ra thị trường.
Thỏa thuận, tạo ra các liên minh để hạn chế cạnh tranh
Thỏa thuận để ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh
doanh là việc thống nhất thực hiện những hành vi nhằm tạo nên các rào cản gây khó khăn cho
hoạt động gia nhập thị trường hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, làm giảm tính
cạnh tranh của thị trường.
Nói cách khác sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức
ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa những đối thủ cạnh
tranh. Thế nhưng luật cạnh tranh không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các
thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê
các thỏa thuận cụ thể đã không gây nên những tranh luận cần thiết về hình thức và bản chất pháp
lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Theo đó, chỉ những điều được liệt kê tại Điều 8 Luật cạnh
tranh mới bị xem là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Trên thực tế, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp diễn ra ở nhiều giai đoạn khác nhau của quá
trình sản xuất, phân phối. Do đó, có nhiều dạng biểu hiện khác nhau của thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, không thể dự liệu một cách tuyệt đối và luôn có những biến hóa mới theo sự sáng
tạo của người kinh doanh. Các thỏa thuận ấy có thê hướng tới sự thống nhất về giá cả, dịch vụ,
phân chia thị trường nhằm ngăn cản hoặc tiêu diệt sự tham gia thị trường của những tên tuổi mới
trong ngành.
Ta có thể phân tích những hành vi theo các khía cạnh sau
Về chủ thể
Ta phải chứng minh được:
-
Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan;
Theo điều 21 NĐ 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ quy định:
1. Phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi
phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc từng doanh nghiệp thuộc nhóm
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới;
b) Đe dọa hoặc cưỡng ép các nhà phân phối, các cửa hàng bán lẻ không chấp nhận phân
phối những mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới;
c) Bán hàng hóa với mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh mới không thể gia nhập thị trường
nhưng không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Nghị định này.
10
2. Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm các
quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức
xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Nghị định
này.
II. Thực tiễn hành vi nhằm ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh tại
Việt nam
1 .Tình hình thực tiễn tại Việt Nam
Hiện nay, việc các doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc
quyền để thực hiện hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
xảy ra nhiều. Tuy nhiên số vụ kiện liên quan đến việc vi phạm này thì dường như rất ít. Có lẽ do
sự hiểu biết của Doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh còn thấp và tâm lý ngại kiện cáo.
Số liệu thống kê số vụ việc hạn chế cạnh tranh giai đoạn 2010– 2014:
Năm
Khởi xướng điều tra
Quyết định điều tra
2010
hợp khác, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền có thể cản trở việc mở
rộng kinh doanh hay phát triển thị trường của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong tất cả các
trường hợp này, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền đều mang tác
động cản trở cạnh tranh bởi trong dài hạn sẽ có nhiều doanh nghiệp đối thủ bị loại khỏi cuộc
11
cạnh tranh không phải vì hoạt động kinh doanh kém hiệu quả mà bởi gặp phải những cản trở khi
tiếp cận thị trường.
Thông thường các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ngăn cản
việc tham gia thị trường bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để được gia nhập thị trường
hoặc hạ giá thành sản phẩm, các hành vi phân biệt đối xử thiết lập cạnh tranh không lành mạnh
và thiết lập sự phân biệt đối xử về giá tức là một mặt hàng có công dụng như nhau nhưng được
bán với giá thấp hơn hoặc khác nhau cho người tiêu dùng.
Khi toà án xem xét việc liệu hành vi của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp có
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền (đối với một doanh nghiệp) thì trước
hết cần xác định thị trường liên quan (về cả hàng hóa, dịch vụ và địa lý), sau đó cần xác định thị
phần của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan để giải quyết
vấn đề thứ nhất là doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị trường
hay không. Trong vụ việc liên quan đến lạm dụng vị trí độc quyền thì sau khi xác định thị
trường liên quan cần xác minh xem có doanh nghiệp nào khác kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
cùng trên thị trường liên quan không để giải quyết vấn đề là liệu doanh nghiệp đó có vị trí độc
quyền hay không. Khi đã khẳng định rằng doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đó có vị
trí thống lĩnh thị trường, hoặc doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền thì vấn đề thứ hai cần làm
sáng tỏ là hành vi đang bị khiếu nại có thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định tại Điều 13
của LCT hay không?
2. Một số bình luận từ thực tiễn các vụ việc về hành vi nhằm ngăn cản sự tham gia thị
trường của các đối thủ cạnh tranh
2.1. Vụ kiện công ty TNHH sản xuất - thương mại - dịch vụ - xuất nhập khẩu Ánh Dương trong
lĩnh vực du lịch:
40 khách sạn rơi vào tình cảnh nếu không khai thác hết công suất buồng phòng thì cũng không
được nhận khách Nga nếu đó không phải là khách của Công ty Ánh Dương.
Sự việc này vấp phải sự phản đối của các đơn vị lữ hành khác cũng đang tổ chức chuyến
bay đưa khách Nga sang Việt Nam mà ABTours là một ví dụ. Họ cho rằng, thị trường du lịch bị
chi phối bởi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường từ phía Ánh Dương.
Để xác định công ty Ánh Dương có vi phạm luật cạnh tranh theo đơn khiếu nại của công
ty du lịch ABTours hay không, chúng ta giải quyết hai vấn đề sau:
- Về thị phần hay khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp
trên thị trường liên quan để xác định Ánh Dương có phải là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
hay doanh nghiệp độc quyền trong thị trường tổ chức du lịch hay không?
13
Vấn đề này có lẽ cần sự điều tra của Cục quản lý cạnh tranh để có kết luận.
-
Về hành vi ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
Theo điều khoản các hợp đồng mà Ánh Dương ký với các khách hàng là việc yêu cầu các
khách sạn không giao dịch với các công ty kinh doanh dịch vụ tổ chức du lịch khác. Vì vậy,
công ty Ánh Dương đã thực hiện việc ngăn cản việc gia nhập thị trường của nhiều doanh nghiệp
du lịch trong đó cũng có các doanh nghiệp mới mà cụ thể là yêu cầu khách hàng của mình
không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới (khoản 1 Điều 31 Nghị định 116/2005/NĐ-CP).
Tuy nhiên vẫn phải đợi kết quả điều tra chính thức của cơ quan chức năng để làm rõ các
nội dung liên quan đến vụ việc.
2.2.Vụ kiện giữa công ty Tân Hiệp Phát và công ty liên doanh bia Việt Nam
Công ty liên doanh bia Việt Nam (viết tắt là VBL) là liên doanh giữa một doanh nghiệp
Việt Nam (Tổng công ty thương mại Sài Gòn, đóng góp 40% vốn của VBL) và Asia Pacific
Breweries (một công ty có trụ sở chính ở Singapore, là liên doanh giữa Fraser & Neave Group
và Heineken International, đóng góp 60% vốn của VBL). VBL sản xuất các loại bia cao cấp,
đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh này. Tuy nhiên, Hội đồng cạnh tranh đã bác bỏ hoàn toàn
tất cả các khiếu nại của THP và ra Quyết định số 15/QĐ - HĐCT giữ nguyên Quyết định của
HĐXLVVCT về việc đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh.
THP khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh tại Tòa hành
chính – TAND TP. HCM. Ngày 21/02/2011 TAND TP. HCM ra quyết định đình chỉ vụ án hành
chính với lý do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa này
Kết quả điều tra CQLCT cho rằng đối với vụ việc THP và VBL hiện không có đủ chứng
cứ để chứng minh khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của VBL. Thông thường
thì các cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh sẽ căn cứ vào thị phần của doanh
nghiệp để xác định doanh nghiệp đó có hay không có vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể trong
vụ việc này, để xác định VBL có vị trí thống lĩnh thị trường hay không sẽ liên quan đến vấn đề
là số phần trăm thị phần của VBL trên thị trường liên quan là bao nhiêu. Theo khoản 1 Điều 3
LCT: “Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên
quan. Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế
cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa
lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh
tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”.
+ Vấn đề thứ nhất: Xác định thị phần của VBL:
15
Như CQLCT đã xác định VBL có thị phần là 18,2% - 22,4%, nằm dưới ngưỡng 30% trên
thị trường bia Việt Nam, nên VBL không phải là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Như vậy, cơ sở để CQLCT làm căn cứ xác định thị trường liên quan là thị trường bia Việt Nam,
có nghĩa chỉ bao gồm thị trường địa lý liên quan là thiếu chính xác.
Mặt khác, theo phía THP cũng như các giới nghiên cứu bình luận về vụ việc này cho rằng
VBL có thị phần là trên 85%, bởi dựa theo cả thị trường bia Việt Nam trên phạm vi toàn quốc và
cả căn cứ vào thị trường sản phẩm (thị trường sản phẩm bia chia thành 3 phân khúc: thị trường
bia cao cấp, thị trường bia truyền thống, thị trường bia bình dân), thì dòng sản phẩm bia Laser,
Heneiken, Tiger đều thuộc phân khúc thị trường bia cao cấp. Bởi vì các loại bia này có thể thay
phải là hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới được quy
định tại khoản 6 Điều 13 LCT không hay thuộc trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
bị cấm mà pháp luật về cạnh tranh chưa dự liệu?
Không đồng ý với Quyết định số 15/QĐ-HĐCT của HĐCT, THP đã khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa hành chính-TAND TP. HCM. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Tòa án ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với lập luận rằng Quyết định số 15/QĐ-HĐCT là
quyết định giải quyết khiếu nại về Quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh. Mà tại thời
điểm này, quy định ở khoản 21 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì
Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh (không bao gồm quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh
tranh), vì vậy Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.
Sau khi nghiên cứu vụ việc THP khiếu nại BVL lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, có
thể thấy được mấu chốt của việc giải quyết các vụ việc liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường là vấn đề xác định thị trường liên quan. Có thể thấy rõ rằng xác định thị
trường liên quan là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm
dụng. Bởi lẽ, thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác
định. Do đó, nếu thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị
phần hoặc cấu trúc thị trường đều không chính xác.
3. Kết luận
Tuy LCT ra đời với mục tiêu thiết lập và duy trì một thị trường có tính cạnh tranh lành
mạnh, nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trong khuôn
khổ của pháp luật, thế nhưng việc quy định của luật còn thiếu chặt chẽ và chưa đầy đủ như trên
đã đề cập đã tạo ra những cách hiểu thiếu thống nhất và gây khó khăn cho quá trình tố tụng cạnh
tranh, kéo dài quá trình tố tụng dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích của các bên trong vụ việc
17
khiếu nại. Chính vì thế lẽ đó, một khi pháp luật cạnh tranh chưa hoàn thiện thì quyền và lợi ích
hợp pháp của các doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh sẽ không được bảo vệ một cách hữu
hiệu.