skkn THÔNG QUA VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ - TẠO NIỀM ĐAM MÊ, YÊU THÍCH HỌC BỘ MÔN. - Pdf 37

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THÔNG QUA VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG
THỰC TẾ - TẠO NIỀM ĐAM MÊ, YÊU THÍCH HỌC BỘ MÔN



Người thực hiện : NGUYỄN HOÀNG THƯỢNG
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học bộ môn hoá

Năm học 2014– 2015


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Thượng
2. Ngày tháng năm sinh: 29/03/1982
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Quảng Phát – Quảng Tiến – Trảng Bom – Đồng Nai
5. Điện thoại DĐ: 0989597099
6. Fax :……………. E-mail : [email protected]
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Đại học Sư phạm TPHCM
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Hoá
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy hóa học

Trang 3

III.1. Một số hình thức áp dụng các hiện tương thực tiễn trong tiết dạy

Trang 3

III.1.1. Đặt tình huống vào bài mới .

Trang 3

III.1.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy.

Trang 3

III.1.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy.

Trang 4

III.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương trình hóa lớp 11.

Trang 4

III.2.1. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương I: sự điện li

Trang 4

III.2.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương II: Nitơ - photpho

III.2.8. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương VIII: Dẫn xuất halogen – ancol – phenol

Trang 17

III.2.9. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương IX: Anđehit – xeton – axit cacboxylic

Trang 19

III.3. Phương pháp thực hiện

Trang 21

IV. Hiệu quả của đề tài

Trang 21

V. Đề xuất, Khuyến nghị khả năng áp dụng

Trang 23

VI. Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 23


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

thu kiến thức. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, Tôi đề cập đến một khía cạnh nhằm
giúp học sinh hứng thú, yêu thích bộ môn hóa hơn đó là “thông qua việc giải thích
các hiện tượng thực tế - tạo niềm đam mê, yêu thích học bộ môn” với mục đích xây
dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình
hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
Đồng thời hi vọng những kinh nghiệm này có thể góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao
chất lượng dạy và học tại trường THPT Ngô Sĩ Liên.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 1


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Môn hóa học ở trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí tuệ của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho
học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức về thế
giới, con người thông qua các bài học, các bài thực hành, ngoại khóa, chuyên đề...
Học sinh học tập hóa học không những để làm các bài tập tính toán, nhận biết, viết
phương trình hóa học của các phản ứng mà còn để biết được những ứng dụng phong
phú, thiết thực của hóa học trong đời sống để giúp đỡ mọi người xung quanh. Hiểu
biết hóa học, học sinh có thể vận dụng kiến thức bảo vệ môi trường xung quanh, có
niềm tin và tự tạo lập cho mình một hướng đi trong tương lai. Muốn quá trình dạy học
có hiệu quả, giáo viên phải có những bài giảng với phương pháp dạy học phát huy
tính tích cực, tự lực cao của học sinh. Trong tình hình hiện nay, đổi mới phương pháp


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

2. THUẬN LỢI.
Được sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu trường THPT Ngô Sĩ Liên về
việc đổi mới phương pháp giảng dạy, và tham gia các lớp bồi dưỡng về phương pháp
do sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Trong tổ chuyên môn có nhiều Giáo viên có kinh nghiệm nên có điều kiện tham
khảo và trao đổi với đồng nghiệp về các phương pháp giúp học sinh nắm bắt nhanh
kiến thức và yêu thích bộ môn hơn.
Do sự phát triển của công nghệ thông tin nên việc trao đổi kiến thức diễn ra rất
thuận lợi và nhanh chóng.
Đa số học sinh đã có ý thức học tập để trang bị cho mình những kiến thức cần
thiết để chuẩn bị cho tương lai.
3. KHÓ KHĂN.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng không tránh khỏi những khó khăn
nhất định:
- Phần lớn các em gặp phải khó khăn trong việc nhận thức nắm vững các khái
niệm cơ bản. Đặc biệt là kỹ năng vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc
sống cũng như giải thích một số hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống còn hạn chế.
- Nhiều học sinh khối 11 của trường có lực học còn yếu vì chưa có niềm say
mê, yêu thích bộ môn hóa.
- Thực tế giảng dạy cho thấy: Môn hóa học trong trường phổ thông là một trong
những môn học khó đặc biệt là ở lớp 11, nếu không có những bài giảng và phương
pháp hợp lý, phù hợp sẽ dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
III.1. Một số hình thức áp dụng các hiện tượng thực tiễn trong tiết dạy.
III.1.1. Đặt tình huống vào bài mới.

Câu 1. Tại sao nước không dẫn điện nhưng khi cho dây điện xuống nước ao, hồ,
sông... thì các sinh vật như cá, tôm... lại bị điện giật?
Giải thích: nước nguyên chất là chất điện li rất yếu nên không dẫn điện, nhưng
nước có trong tự nhiên như ở ao hồ, sông suối thì có hòa tan các loại ion như Fe 3+,
Mg2+.... nên các ion này làm cho nước trong tự nhiên có khả năng dẫn điện.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy bài sự điện li.
Câu 2. Tại sao để bảo vệ răng con người phải ăn thức ăn ít chua, ít đường, đánh răng
sau khi ăn?
Giải thích: Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2 mm. Lớp men
này là hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng :
5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH (1)
Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh
sâu răng. Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng
tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic, axit lactic.... Thức ăn có hàm lượng đường
cao tạo điều kiện cho việc sản sinh các axit đó. Lượng axit trong miệng tăng, pH
giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:
H+ + OH- → H2O
Khi nồng độ pH giảm, theo nguyên lí lơ sa –tơ – li – e, cân bằng (1) chuyển
dịch theo chiều nghịch và men răng bị mòn tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Trong thuốc đánh răng người ta trộn thêm NaF vì ion F- tạo điều kiện cho phản ứng:
5Ca2+ + 3PO43- + F- → Ca5(PO4)3F.
Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần cho Ca5(PO4)3OH
Áp dụng: lồng ghép vào bài: Sự điện li của nước, pH, Chất chỉ thị axit- bazơ.
Câu 3: Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 4


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Mang ý nghĩa hóa học gì ?
Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận
mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa
điện) thì:




N 2 + O2 ¬ 
2NO

Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 5


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
HNO3 hòa tan trong đất được trung hòa bởi một số muối tạo muối nitrat cung
cấp N cho cây. Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi ha
đất được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong
đời sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm

Câu 4. “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Giải thích: Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô,
xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi
nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc
ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 6


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa
axit là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit
làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá
cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề
ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú
trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu
biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong

2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của
mặt trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm. Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá
trình hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “
thần bí ” nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh.
Vấn đề này có thể được đề cập ở trong bài photpho.
Câu 7: Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy,
thuốc chuột là gì ? Cái gì đã làm chuột chết ? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước
uống nó chết mau hơn hay lâu hơn ?
Giải thích: Thuốc chuột là Zn3P2 sau khi ăn Zn3 P2 bị thuỷ phân rất mạnh, làm
hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước:
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2+ 2PH3↑
Chính PH3 đã giết chết chuột.
Càng nhiều nước đưa vào → PH3 thoát ra càng nhiều → chuột càng nhanh chết.
Nếu không có nước chuột chết lâu hơn.
Áp dụng: Khi dạy phần ứng dụng của photpho trong cuộc sống nhằm kích
thích hứng thú học tập của học sinh.
Câu 8: Tại sao những người có thói quen ăn trầu thì luôn có lợi và hàm răng chắc
khỏe?
Giải thích: Trong miếng trầu có vôi Ca(OH)2 chứa Ca2+ và OH- làm cho quá
trình tạo men răng (Ca5(PO4)3OH) xảy ra thuận lợi:
5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH
Chính lớp men này chống lại sâu răng.
Áp dụng: Đạt câu hỏi khi dạy bài Axit photphoric và muối photphat.
Câu 9: Người ta biết chất diệp lục trong cây xanh có công thức phân tử
C55H70O5N4Mg. Cây xanh tạo chất này nhờ CO2 (trong không khí), hiđro (từ nước
trong đất) và các chất vô cơ là nitơ, magie (từ đất lên). Khi cây bị vàng lá người ta
nghi là không đủ chất diệp lục. Vậy theo em nên bón loại phân nào giúp cây tạo chất
diệp lục hiệu quả nhất ?

Áp dụng: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các bài đã
học trước để trả lời dẫn vào bài phân bón hóa học.
III.2.3. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương III: Cacbon - silic
Câu 1: Vì sao than chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ?
Giải thích: Do than tác dụng với O2 trong không khí tạo CO2, phản ứng này tỏa
nhiệt. Nếu than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều làm nhiệt tỏa ra được
tích góp dần khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy.
Áp dụng: Khi dạy phần tính chất hóa học của cacbon trong bài cacbon.
Câu 2: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ?
Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm
cho cơm đỡ mùi khê.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài
cacbon.
Câu 3: “Hiệu ứng nhà kính” là gì?
Giải thích: Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia
hồng ngoại (tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước
sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt
phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp thụ mạnh và
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 9


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì
nếu hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt

của CO2 ở bài hợp chất của cacbon.
Câu 6: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na, Mg bằng khí CO2
(bình cứu hỏa thông thường)?
Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong
khí CO2.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 10


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng
0

t
Mg + CO2 → MgO + C

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của CO2 ở bài hợp chất của cacbon.
Câu 7: Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Giải thích: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO 3. Trong không khí có khí CO 2
nên nước hòa tan một phần tạo thành axit H2CO3. Do đó xảy ra phản ứng hóa học:



CaCO3 + CO2 + H2O ¬ 
Ca(HCO3)2

Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằng thì



Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy,
nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ
dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chỗ lớp sáp bị cào đi theo
phương trình hóa học:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H 2SO4 đặc và bột CaF2.
Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF 2 vào chỗ cần khắc, sau đó cho thêm
H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chỗ cần khắc. Sau một thời gian, thủy
tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó: SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát
triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy
tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học
nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết
thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào bài giảng “Hợp chất silic”.
Câu 11: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí
cacbonic CO2. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO 2
hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt.
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO 2 lập tức bay vào không khí.
Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi.
Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước
ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO 2. Ở trong dạ dày nhiệt độ

- Lượng đường chỉ đủ cho làm một nửa cái bánh ngọt nhỏ.
- Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà con.
- Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
- Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
- Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà bác học
tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3$.
Áp dụng: Có thể dùng để vào bài mở đầu về hóa học hữu cơ.
Câu 2: Cơ thể chúng ta cần những hợp chất hữu cơ thiết yếu nào ?
Giải thích: Cơ thể chúng ta cũng chứa hàng nghìn loại các phân tử hữu cơ và
vô cơ nên cũng được sắp xếp thành loại thiết yếu và không thiết yếu để chú ý khi nuôi
dưỡng.
Có 24 hợp chất hữu cơ thiết yếu là: 9 amino axit, 2 axit béo và 13 vitamin. Có 15
thành phần thiết yếu vô cơ là: canxi, photpho, iôt, magie, kẽm, đồng, kali, natri, clo,
coban, crom, mangan, molipđen và selen (có thể kể cả asen, vanađi và thiếc).
Các chất trên cơ thể lấy từ thực phẩm như amino axit lấy từ thịt, trứng, sữa… axit béo
không no lấy từ đậu nành… vitamin lấy từ rau quả như vitamin A trong quả gấc,
vitamin C trong quả chanh, cam, bưởi.
Áp dụng: Có thể dùng liên hệ thục tế trong bài mở đầu về hóa học hữu cơ.
Câu 3: Vì sao trong một ngày hoa phù dung có thể đổi màu tới 3 lần ?
Giải thích: Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màu trắng, buổi
trưa màu phớt hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn. Loài hoa, trước sau chỉ biến đổi
thay nhau giữa các màu trắng, hồng, vàng, da cam, đỏ. Đó là sự thay đổi của chất
caroten có trong thực vật.
Caroten là một loại sắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động vật,
trong chất béo cũng có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong củ cà rốt ( chất màu
vàng da cam). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C40H56.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Giáo viên đưa vấn
đề này vào trong bài giảng nhằm kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh. Có
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Giải thích: Nổ khí metan và tiếp theo nữa là nổ bụi than là một trong những
mối hiểm họa nguy hiểm nhất trong ngành công nghiệp khai thác mỏ. Khí metan là
nguyên nhân của các tai nạn hầm mỏ lớn. Vụ tai nạn lớn nhất liên quan đến metan xảy
ra vào năm 1903 tại Hoa Kỳ với 1.234 thợ mỏ thiệt mạng. Ở Ba Lan, vào năm 1974,
tại mỏ Silesia đã xảy ra một vụ nổ khí metan, tổn thất cho 34 thợ mỏ. Khí metan đặc
biệt nguy hiểm khi tiến hành khai thác than hầm lớn mà không tuân thủ quy trình kỹ
thuật và quy phạm an toàn. Nguyên nhân đó là do phản ứng:
CH4 + 2O2 → CO2 + 2H2O
Đây là phản ứng tỏa nhiệt lớn và gây ra nổ.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để dẫn vào bài ankan.
III.2.6. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương VI: Hiđrocacbon không no.
Câu 1: Làm cách nào để quả mau chín? Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín
vào giữa sọt quả xanh thì toàn bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều. Tại sao vậy ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 14


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Bí mật của hiện tượng này đã được các nhà khoa học phát hiện khi
nghiên cứu quá trình chín của trái cây. Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một
lượng nhỏ khí etilen. Khí này sinh ra có tác dụng xúc tác quá trình hô hấp của tế bào
trái cây và làm cho quả mau chín. Nắm được bí quyết đó người ta có thể làm chậm
quá trình chín của trái cây bằng cách làm giảm nồng độ etilen do trái cây sinh ra. Điều
này đã được sử dụng để bảo quản trái cây không bị chín nẫu khi vận chuyển xa.
Ngược lại khi cần cho quả mau chín, người ta thêm etilen vào kích thích quá trình hô

quy ước chỉ số octan bằng 100. Các hiđroccabon mạch vòng và mạch nhánh có chỉ số
ocatn cao hơn các hiđrocacbon mạch không nhánh.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 15


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Xăng có chỉ số octan thấp như xăng 83 thường pha thêm một ít phụ gia như
tetraetyl chì (C2H5)4Pb hoặc lưu huỳnh. Các phụ gia này làm tăng khả năng chịu nén
của nhiên liệu nhưng khí thải ra không khí gây ô nhiễm môi trường, rất có hại cho sức
khỏe của con người.
Hiện nay ở Việt Nam thường dùng 2 loại xăng A92 hoặc A95 là loại xăng có
chỉ số octan cao, những loại xăng này không cần pha thêm các phụ gia nên đỡ độc hại
và ít gây ô nhiễm môi trường.
Áp dụng: Trong nhu cầu ngày càng cao của con người thì xăng rất cần thiết cho
cuộc sống, việc sử dụng và chọn lựa các loại xăng cũng được quan tâm. Giáo viên có
thể nêu câu hỏi thực tiễn này trong bài hệ thống hóa về hiđrocacbon.
Câu 2: Vì sao không dùng nước để dập các đám cháy xăng, dầu ?
Giải thích: Xăng, dầu là hỗn hợp hữu cơ, gồm nhiều chất khác nhau, thành
phần chủ yếu là các ankan có phân tử lượng nhỏ, dạng lỏng. Lý tính của xăng : nhẹ
hơn nước, không tan trong nước, rất dễ cháy... Vì vậy, nếu dùng nước để dập cháy
xăng dầu... thì không những không tắt mà đám cháy còn lan nhanh hơn.
Áp dụng: Để hiểu được vì sao thì không nhiều người hiểu được vấn đề này.
Thông qua nội dung bài hệ thống hóa về hiđrocacbon, giáo viên có thể đặt câu hỏi này
cho học sinh thảo luận rồi giải thích cho học sinh biết.
Câu 3: Vì sao lại không dùng xăng pha chì nữa?

chất hữu cơ dễ cháy và có thể “cháy hết”. Nhưng gỗ thường dùng còn có các khoáng
vật. Những khoáng vật này đều không cháy được. Vì vậy sau khi đốt cháy gỗ sẽ còn
lại và tạo thành tro. Than đá cũng vậy, trong thành phần than đá ngoài cacbon và các
hợp chất hữu cơ phức tạp còn có các khoáng là các muối silicat. Nên so với gỗ khi đốt
cháy than còn cho nhiều tro hơn.
Áp dụng: Đây là câu hỏi nhằm kích thích tư duy học sinh. Học sinh không lạ gì
với hiện tượng trên nhưng để giải thích thì không phải dễ. Giáo viên có thể nêu vấn đề
trên sau khi dạy xong bài hệ thống hóa về hiđrocacbon.
III.2.8. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương VIII: Dẫn xuất halogen – ancol - phenol.
Câu 1: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã uống rượu?
Giải thích: Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc
tính của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với
rượu nhưng người ta chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO 3. Đây là một chất
oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu đỏ thẫm. Bột oxit CrO 3
khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr2O3 là một hợp chất có màu lục thẫm.
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO 3.
Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi rượu
thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO3 và biến thành Cr2O3 có màu lục thẫm. Dựa vào sự
biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết được mức độ
uống rượu của tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài xế đã uống rượu khi
tham gia giao để ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Một trong
những nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm giúp cho học
sinh thêm hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh và chính xác
của cảnh sát giao thông, giáo viên có thể đưa nội dung này vào bài ancol.
Câu 2: Cồn khô và cồn lỏng có cùng một chất không ? Tại sao cồn khô lại được ?
Giải thích: Cồn khô và cồn lỏng đều là cồn (ancol etylic nồng độ cao) vì người
ta cho vào cồn lỏng một chất hút dịch thể, loại chất này làm cồn lỏng chuyển khô.
Ngoài ra loại chất này còn dùng trong sản xuất tã lót, …

thích thì sẽ rất hứng thú về hóa học có những ứng dụng rất thực tế và sẽ thêm yêu hóa
học. Giáo viên có thể đề cập ở phần ứng dụng trong bài ancol.
Câu 5: Khi chiên cá người ta thường cho thêm một ít rượu vào. Vậy, mục đích của
việc làm này là gì?
Giải thích: Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH 3)3N và đimetylamin
(CH3)2NH và metyl amin CH3NH2 là những chất có mùi khó ngửi.
Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì
trimetylamin thường “lẩn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng trong
rượu có cồn, cồn có thể hòa tan trimetylamin nên có thể lôi được trimetylamin ra khỏi
chổ ẩn. Khi chiên cá ở nhiệt độ cao cả trimetylamin và cồn đều bay hơi hết, nên chỉ
một lúc sau mùi tanh cá sẽ bay đi hết.
Ngoài ra trong rượu có một ít etylaxetat có mùi dễ chịu nên rượu có tác dụng
thêm mùi thơm rất tốt.
Áp dụng: Đây là một kinh nghiệm thường thấy khi chế biến thức ăn liên quan
đến cá. Giáo viên cần giải thích cho học sinh biết được cơ sở hóa học của kinh
nghiệm trên. Từ đó giúp các em thấy được những ứng dụng đời thường của hóa học
nhằm tăng thêm niềm yêu thích đối với môn hóa học. Giáo viên có thể đưa vào phần
ứng dụng của ancol trong bài Ancol.
III.2.9. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương IX: Anđehit – xeton – axit cacboxylic.
Câu 1: Gương soi có lịch sử như thế nào?
Giải thích: Thời xa xưa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời
đồ đồng thau thì bằng gương làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 18


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm


vẫn không thấy men phát hiện đáng kể.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng các hiện tượng này mở rộng về một số axit
hữu cơ trong bài axit cacboxylic.
Câu 4: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?
Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số con khác) có axit hữu
cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit ở bài axit cacboxylic.
Câu 5: Làm sữa chua như thế nào ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 19


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Một loại vi khuẩn vô hại có trong sữa, gọi là khuẩn sữa nó tạo ra
axit lactic CH3 – CH – COOH ở nhiệt độ ấm. Vi khuẩn lên men sữa, nhờ đó tạo
OH
thành sữa chua. Thường cho thêm đường và trái cây để tăng hương vị và sự bổ dưỡng
của sữa chua.
Thành phần của sữa chua gồm: Vitamin và chất khoáng ~ 2% ; chât đạm ~ 5%;
chất béo ~0,5%; cacbonhyđrat ~12%; nước ~ 80,5%.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit ở bài axit cacboxylic.
Câu 6: Dấm ăn là gì? Có ích gì?
Giải thích: Trong dấm ăn có vị chua vì có 3 - 5% là Axit axetic (CH 3COOH).
Dấm ăn có tác dụng tạo vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn


dạy của mình để có thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả
năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Đồng thời khi giải thích được các hiện tượng thực tế
xung quanh mình học sinh sẽ cảm thấy hóa học gần gũi, dễ hiểu và không còn thấy
hóa học là một bộ môn khó nữa. Từ đó dần dần hình thành niềm đam mê, yêu thích
học tập bộ môn hóa.
Trong quá trình vận dụng tôi nhận thấy, có những vấn đề hoá học có thể giúp
học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm
chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà
thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng
những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ. Đồng thời, lại có tác
dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong học tập bộ môn từ đó làm cho
hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp. Vì vậy, sau một thời gian áp
dụng đề tài tôi nhận thấy học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ hóa
nhiều hơn và kết quả cũng có nhiều tiến triển tốt hơn trước.
Tuy nhiên, thời gian cho vấn đề này là không nhiều nên phụ thuộc vào người
dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng
thì đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không
dễ.
Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong thực
tiễn mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề suất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua
một số ví dụ minh hoạ, với mong muốn làm cho môn hóa học trở nên gần gũi hơn với
học sinh và góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy hoá học trong nhà trường.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Trên đây, Tôi đã trình bày những kinh nghiệm của mình trong quá trình giảng
dạy và rèn luyện học sinh. Việc vận dụng, kết hợp các vấn đề thực tế đã trình bày ở
trên sẽ làm cho học sinh đam mê và yêu thích môn hóa học hơn.
Với cách làm như đã trình bày ở trên, trong năm học vừa qua Tôi đã từng bước
lồng ghép phù hợp các vấn đề thực tế vào giờ học để tạo niềm đam mê, yêu thích học
bộ môn. Kết quả đạt được: Hầu hết các em học sinh thuộc các lớp tôi giảng dạy qua




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status