skkn kĩ NĂNG TỔNG hợp KIẾN THỨC cơ bản THEO vấn đề TRONG bồi DƯỠNG học SINH GIỎI PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM GIAI đoạn 1945 1954 - Pdf 37

Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Mã số:…………....

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài

KĨ NĂNG TỔNG HỢP KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ
TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954

Người thực hiện: HOÀNG VĂN TÂM
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn LỊCH SỬ
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
 Mô hình
 Phần mềm

 Phim ảnh





II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1995
- Chuyên ngành đào tạo: Lịch sử
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Lịch sử
- Số năm có kinh nghiệm: 15 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
KIẾM TRA MIỆNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT” năm học 2008-2009
+ “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI TỐT NGHIỆP
THPT MÔN LỊCH SỬ” năm học 2009-2010
+ “MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12” năm học 2010-2011
+ “HƯỚNG DẪN HỌC SINH LẬP BẢN ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ” NĂM HỌC 2011-2012

2
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

Đề tài

KĨ NĂNG TỔNG HỢP KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ


Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

quốc gia là những đối tượng ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy
ngoài kiến thức sách giáo khoa, giáo viên cần có thêm tài liệu nâng cao để giúp
đối tượng dự thi học sâu, hiểu rộng.
Yếu tố cơ bản nhất là người dạy phải có năng lực chuyên môn vững vàng,
biết xác định được kiến thức trọng tâm, biết làm chủ điều mình dạy và quan
trọng nhất, phải biết dạy học sinh cách học để các em có đủ bình tĩnh, tự tin lĩnh
hội kiến thức và tư duy sáng tạo, biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, luôn
luôn có ý thức tìm hiểu để làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử và giải thích vì sao
như vậy. Từ thực tiễn trên, nhiều vấn đề cấp thiết được đặt ra trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả bộ môn
như: tài liệu bồi dưỡng, mức độ kiến thức đối với học sinh giỏi, cách nhận biết
các dạng đề thi, kĩ năng khai thác kiến thức, kĩ năng làm bài, tạo hứng thú học
tập, phương pháp ôn luyện, việc tự học của học sinh..... Vì vậy để góp một phần
nhỏ nhằm giải quyết tốt các vấn đề nêu trên, trong đề tài này, tôi xin mạnh dạn
đưa ra một số kinh nghiệm về “Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề
trong bồi dưỡng học sinh giỏi phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954”
để cùng nhau chia sẻ, trao đổi với đồng nghiệp.
II. THỰC TRẠNG KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sắc của ban giám hiệu nhà trường, sự
giúp đỡ của giáo viên chủ nhiệm và các đồng nghiệp.
- Học sinh tham gia bồi dưỡng hầu hết đều có thái độ tốt, hứng thú với
học tập bộ môn, say mê sưu tầm các tài liệu tham khảo bổ sung cho việc học tập,

hành do áp lực các môn học khác để đáp ứng yêu cầu của các kì thi.
+ Khả năng tổng hợp, xâu chuỗi, phân tích, đánh giá, so sánh các sự vật,
hiện tượng lịch sử còn hạn chế......
+ Học sinh ít đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập.
III.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Điều 28 Luật giáo dục 2005 38/2005/QH11 đã nhấn mạnh, yêu cầu của

đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng là
“phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”. Yêu cầu này phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ
5
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

dạy bồi dưỡng học sinh giỏi vì phương pháp dạy, phương pháp học phải phù
hợp với đối tượng học sinh xuất sắc. Đó là các phương pháp dựa trên hoạt động
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh: như dạy học liên môn, dạy học nêu
vấn đề... nhằm tạo ra khả năng tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu để kích thích
và phát triển các tố chất thông minh và sáng tạo của người học. Học sinh được
bồi dưỡng không chỉ được học tốt hơn về kiến thức khoa học bộ môn mà còn

phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

các tiêu chí xác định. Đương nhiên, các mức độ nhận thức lịch sử nói trên có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau. Không biết lịch sử như thế
nào thì cũng không thể hiểu, giải thích, đánh giá được lịch sử. Ngược lại, muốn
giải thích, đánh giá, vận dụng được cũng phải trên cơ sở của biết lịch sử. Trong
quá trình học Lịch sử, nếu học sinh có được khả năng nêu trên, các em sẽ học
giỏi môn Lịch sử. Từ những yêu cầu trên, một trong những đòi hỏi quan trọng
trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi là người dạy không dừng lại ở việc
cung cấp cho học sinh những kiến thức lịch sử rời rạc mà phải biết hướng dẫn
học sinh kĩ năng tổng hợp, xâu chuỗi những sự kiện lịch sử một cách khoa học,
hấp dẫn theo những vấn đề lịch sử, đồng thời chú trọng việc rèn luyện kĩ năng
làm bài thông qua giải quyết các dạng bài tập, hệ thống câu hỏi lịch sử mà giáo
viên đưa ra.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia trong những năm
vừa qua, hệ thống câu hỏi của đề kiểm tra, đánh giá thường ra theo những vấn
đề xuyên suốt của cả giai đoạn lịch sử hoặc của cả một quá trình lịch sử, qua đó
đòi hỏi học sinh phải hiểu và biết vận dụng những kiến thức lịch sử để giải quyết
vấn đề. Tuy nhiên, chương trình Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 lại viết theo
những nội dung riêng biệt tương ứng với từng thời kì lịch sử, chẳng hạn vấn đề
về quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
được Sách giáo khoa Lịch sử 12 trình bày ở các bài: bài 18 Những năm đầu của
cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950); bài 19 Bước
phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951-1953) và
bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954);
điều này đã tạo ra không ít những khó khăn cho học sinh trong quá trình học tập.
Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả thi học
sinh giỏi cấp tỉnh trong những năm vừa qua do sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai
tổ chức còn chưa cao chính là do học sinh chưa được chú trọng rèn luyện các kĩ

Vấn Đề 4: Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp (1951 –
1953).
Vấn đề 5: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và hội nghị Giơnevơ 1954 về
Đông Dương.
Vấn đề 6: Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến
chống Pháp.
4. Mục đích đề tài

8
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

Giúp giáo viên và học sinh nhận thức Lịch sử Việt Nam theo vấn đề trong
giai đoạn 1945-1954, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi bộ
môn đạt kết quả cao.
IV.

NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, khi bồi dưỡng, giáo viên

cần hướng dẫn học sinh nắm chắc một số kiến thức cơ bản sau:
- Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám. Những khó khăn cần
phải giải quyết.
- Cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững và củng cố chính
quyền nhân dân từ sau cách mạng tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến.

dần dần lên cao, phong trào đấu tranh đòi dân chủ phát triển mạnh mẽ ở các
nước tư bản chủ nghĩa. Tình hình đó đã đem lại cho phong trào cách mạng thế
giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, những thuận lợi cơ bản.
- Tuy nhiên, với bản chất phản động, xâm lược, chủ nghĩa đế quốc, thực
dân vẫn tiếp tục tìm mọi thủ đoạn để xâm chiếm, giành giật lại những thuộc địa
đã mất. Việt Nam cũng trở thành đối tượng tranh nhau giữa các nước đế quốc
Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch)…(tham khảo thêm ở sách
giáo khoa lịch sử về tình hình thế giới sau năm 1945).
1.1.2. Tình hình trong nước
- Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời đã phải đối
phó với nhiều kẻ thù. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc với danh
nghĩa quân đồng minh giải giáp quân Nhật đã tràn vào đóng quân từ vĩ tuyến 16
đến biên giới Việt - Trung. Quân Trung Hoa Dân quốc tìm mọi cách lật đổ chính
quyền cách mạng, tạo điều kiện cho tay sai lên nắm chính quyền. Ở phía Nam,
cũng với danh nghĩa quân đồng minh giải giáp quân Nhật, quân đội Anh chiếm
đóng và tạo điều kiện cho quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Được sự
ủng hộ của quân đội Anh, ngày 2/9/1945, quân Pháp xả súng vào đồng bào ta
đang tham dự cuộc mit tinh mừng ngày độc lập tại Sài Gòn, làm 47 người chết,
nhiều người bị thương. Ngày 23/9/1945, Pháp tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc
xâm lược nước ta lần thứ hai. Sự chiếm đóng của hàng chục vạn quân Trung
Hoa Dân quốc, Anh, Pháp, Nhật trên đất nước ta đã tạo điều kiện cho tay sai của
chúng như bọn Việt Cách, Việt Quốc nổi dậy chống phá cách mạng.
- Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam lúc này lại bị kiệt quệ, tiêu điều do
hậu quả chính sách cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Các ngành kinh tế
đều bị ngừng trệ, tài chính quốc gia trống rỗng. Nạn đói cuối 1944 – đầu 1945
làm chết hơn 2 triệu người chưa khắc phục xong thì nguy cơ nạn đói mới lại đe
dọa. Chế độ thực dân để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề, đặc biệt là nạn dốt,
10
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013


được 333 đại biểu Quốc hội và thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp chính
thức của nước Việt Nam mới do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Sau cuộc bầu cử
Quốc hội, bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân ở các địa phương cũng được
củng cố và kiện toàn, phát huy sức mạnh, ý chí sắt đá của khối đại đoàn kết dân
11
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

tộc, đồng thời tạo cơ sở pháp lí cho nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ đối
nội và đối ngoại trong thời kì mới, đầy chông gai, thử thách.
+Để chống giặc đói, một trong những vấn đề cấp bách của cách mạng
nước ta lúc này, Đảng và Chính phủ đã động viên lực lượng toàn dân tăng gia
sản xuất, tiết kiệm lương thực, kêu gọi đồng bào cả nước “nhường cơm xẻ áo”,
lập “ Hũ gạo cứu đói”, “ Ngày đồng tâm”. Với khẩu hiệu “ Không một tấc đất
bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng”, phong trào thi đua sản xuất đã dấy lên ở khắp các
địa phương… Nhờ những chính sách đó mà nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân
dân được cải thiện một bước.
+Về tài chính, ngày 4/9/1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh về “ Quỹ Độc
lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm động viên sự đóng góp của đồng bào cả nước đối
với nền độc lập của Tổ Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân ta đã tự
quyên góp 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào “Quỹ Độc lập”…Ngày 31/3/1946,
quốc hội đã quyết định phát hành giấy bạc Việt Nam thay cho giấy bạc Đông
Dương cũ. Đây là một thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân ta về mặt chính trị
cũng như tài chính.
+Về chống giặc dốt, Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh xác định

quyền dân chủ nhân dân của ta được giữ vững, cuộc kháng chiến của nhân dân
Nam Bộ được sự giúp đỡ, chi viện của đồng bào cả nước, ngăn chặn được bước
tiến quân của thực dân Pháp.
1.3.Thứ ba, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố và giữ vững
chính quyền cách mạng từ 6/3/1946 diễn ra như thế nào?
Giáo viên cần tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
- Trong tình thế thực dân Pháp và Trung Hoa Dân quốc thỏa hiệp với
nhau (qua hiệp ước Hoa – Pháp), để Pháp đổ bộ ra Bắc, mở rộng cuộc xâm lược
của chúng ra khắp cả nước, Đảng và Chính phủ ta đã có một biện pháp hết sức
tài tình, sáng tạo. Đó là kí hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, chủ động hòa hoãn với
Pháp, đẩy nhanh quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta và tranh thủ thời
gian chuẩn bị lực lượng để đối phó với âm mưu xâm lược lâu dài của Pháp.
- Nội dung của Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946:
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một
quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ riêng, có nghị viện
riêng, quân đội riêng, tài chính riêng.
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào miền Bắc
thay quân đội Trung Hoa Dân quốc. Mỗi năm sẽ rút 1/5 số quân đó về Pháp và
sau 5 năm sẽ rút hết.
13
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

+ Hai bên ngừng xung đột và giữ nguyên vị trí cũ nhằm đi đến một cuộc
điều đình thân thiện về tương lai của Đông Dương.



Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, quân Trung Hoa Dân quốc vừa sách nhiễu về
kinh tế, vừa tiến hành các hoạt động khiêu khích để chống phá chính quyền cách
mạng. Ta buộc phải cung cấp lương thực và cho chúng lưu hành tiền “quan kim”
và “quốc tệ” mất giá. Những nhân nhượng đó của ta đã làm dịu đi tình hình căng
thẳng giữa ta và quân Trung Hoa Dân quốc. Đồng thời ta kịp vạch trần những
âm mưu chống phá của bọn tay sai, kiên quyết trấn áp những phần tử phá hoại.
- Từ đầu năm 1946, thực dân Pháp và Tưởng Giới Thạch mưu tính kế
hoạch đưa quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc. Sau một
thời gian mặc cả, thương lượng với nhau, Hiệp ước Trùng Khánh giữa Pháp và
Tưởng được kí kết vào ngày 28/2/1946. Theo hiệp ước này, Pháp sẽ đưa quân ra
miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc. Sự thỏa hiệp giữa hai thế lực thực
dân vừa chà đạp lên chủ quyền của dân tộc ta, vừa đặt cách mạng Việt Nam vào
thế phải đối phó với âm mưu của hai thế lực phản động. Mặt khác, Pháp không
thể mang quân thay thế quân Trung Hoa Dân quốc mà không gặp sự chống đối
mạnh mẽ của ta. Trong trường hợp nếu xung đột xảy ra giữa ta và Pháp, quân
Trung Hoa Dân quốc sẽ có lí do trì hoãn thi hành Hiệp định, không chịu rút quân
hoàn toàn khỏi Việt Nam. Đó là điều thực dân Pháp không muốn.
- Nhận thức đúng tình hình mới, Đảng và Chính phủ, đứng đầu là chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chủ trương đàm phán với Pháp, đồng ý cho quân Pháp ra miền
Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc và cũng để tranh thủ thời gian hòa hoãn
bảo toàn và chuẩn bị lực lượng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Trong việc đàm phán với Pháp, chúng ta đấu tranh buộc chúng phải thừa
nhận quyền tự quyết của dân tộc ta; đồng thời không lơi lỏng công việc chuẩn
bị, sẵn sàng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta với Pháp diễn ra hết sức căng thẳng. Ta

gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa, thì cuộc kháng chiến toàn quốc
bắt đầu”.
1.5. Thứ năm, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đấu tranh
bảo vệ chính quyền cách mạng thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946.
1.5.1.Ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng thời kì từ
tháng 9/1945 đến tháng 12/1946
- Đề ra chủ chủ trương sáng suốt, tài tình (cứng rắn về nguyên tắc, mềm
dẻo về phương pháp, biết lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, không cho chúng tập trung
lực lượng chống ta…) đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng
bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Xây dựng và củng cố được chính quyền cách mạng từ trung ương đến
16
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

địa phương – lực lượng chỉ đạo kháng chiến sau này.
- Xây dựng và củng cố được lực lượng kháng chiến (vệ quốc đoàn, dân
quân, tự vệ).
- Xây dựng được cơ sở kinh tế - xã hội phục vụ kháng chiến.
- Thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết toàn dân.
- Củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng.
1.5.2. Bài học kinh nghiệm được rút ra từ cuộc đấu tranh bảo vệ chính
quyền thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946:
+ Bài học về việc biết dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân, biết phát
huy cao độ sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân.

đồng tâm”... để chống “giặc đói”.
- Kí sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ (8/9/1945) và kêu gọi
toàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù chữ để chống “giặc dốt”.
- Phát động phong trào “tuần lễ vàng”, xây dựng “quỹ độc lập”. Đầu
năm 1946, Hồ Chủ tịch kí sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam. Khó khăn về tài
chính được giải quyết.
- Tháng 9/1945, kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bùng nổ, cùng với
Trung ương Đảng và Chính phủ, Hồ Chủ tịch phát động phong trào ủng hộ Nam
Bộ kháng chiến.
- Ngày 6/3/1946, Hồ Chủ tịch kí bản Hiệp định Sơ bộ, tạm hòa với Pháp
để đẩy 20 vạn quân Trung Hoa dân Quốc cùng tay sai ra khỏi nước ta, giành
thêm thời gian hòa bình củng cố chính quyền.
- Tháng 5/1946, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh đổi tên Vệ quốc quân thành Quân
đội quốc gia Việt Nam.
- Ngày 14/9/1946, Hồ Chủ tịch đã kí bản Tạm ước nhân nhượng Pháp một
số quyền lợi về kinh tế - văn hóa và tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian chuẩn
bị bước vào kháng chiến.
- Như vậy, trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta giải
quyết nhiều khó khăn đối nội, đối ngoại và tích cực chuẩn bị lực lượng về mọi
mặt. Ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đã phát động cuộc kháng chiến toàn quốc
chống Pháp.
1.7. Sử dụng những kiến thức trên để giải quyết các câu hỏi thi:
1. Tại sao nói từ sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính quyền cách mạng Việt Nam
lâm vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”? Trước những khó khăn trên, Đảng và
chính phủ đã có những đối sách gì về đối nội?
18
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm

tộc, khắc phục những nhược điểm trước mắt của ta về vật chất, kĩ thuật; vừa
đánh vừa bồi dưỡng sức dân, khiến ta càng đánh càng mạnh, làm thay đổi tương
quan lực lượng giữa ta và địch để cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn.
19
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

- Đường lối kháng chiến đó được thể hiện một cách sinh động và phong
phú trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả mọi hoạt động và
ngày càng hoàn chỉnh hơn trong quá trình kháng chiến lâu dài và gian khổ.
Các chủ đề cần giải quyết.
2.1. Thứ nhất, Tại sao Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ?
Chúng ta muốn hòa bình xây dựng đất nước, nên phải nhân nhượng kí
hiệp định sơ bộ 6/3 và tạm ước 14/9. Nhưng thực dân Pháp bội ước, từng bước
lấn tới xâm lược nước ta. Chúng tiến đánh vùng tự do ở Nam bộ và Nam trung
bộ, rồi tiến công Hải Phòng, Lạng Sơn … Ở Hà Nội, chúng chiếm một số cơ
quan của ta (Bộ tài chính, Bộ giao thông), phá các công sự của ta và gây ra vụ
thảm sát ở Phố Hàng Bún, Phố Yên Ninh, cầu Long Biên …, trắng trợn hơn,
chúng gửi tối hậu thư đòi ta phá bỏ các chướng ngại công sự, giải tán lực lượng
tự vệ ,…lịch sử đặt ra cho ta 2 con đường mà phải chọn 1: một là đầu hàng chịu
trở lại làm nô lệ, hai là toàn dân phải đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giữ
vững độc lập, chủ quyền tự do của tổ quốc.Vì vậy, Đảng, Chính phủ đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh họp hội nghị mở rộng (ngày 18, ngày 19 tháng 12 năm
1946) quyết định phát động cả nước đứng lên kháng chiến.

dân đánh giặc, đánh lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
+ Bản chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ trung ương
Đảng, ngày 12/12/1946, vạch rõ mục đích, tích chất, phương châm cơ bản và
chương trình của kháng chiến.
+ Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Tổng Bí thư Trường
Chinh, viết năm 1947, nhằm giải thích rõ đường lối kháng chiến của Đảng và
chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Đường lối này thể hiện tính chất cuộc kháng chiến của nhân dân ta:
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc chiến tranh cách mạng chính
nghĩa, chống lại một cuộc chiến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp.
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm mục đích giành độc lập và
thống nhất tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân dân.
+ Trong cuộc kháng chiến này dân tộc Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu
mình, vừa đấu tranh cho hòa bình thế giới. Cuộc kháng chiến của Việt Nam, do
đó, là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, vì dân chủ hòa bình.
2.3. Thứ ba, nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến được thể hiện
ở các điểm nào?
2.3.1. Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến
21
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

- Đánh lâu dài:
+ Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt của Đảng ta, dựa trên sự vận
dụng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh của nước ta trong cuộc kháng



Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

- Tự lực cánh sinh:
+ Ta rất coi trọng những thuận lợi và sự giúp đỡ của bên ngoài, nhưng
bao giờ cũng theo đúng phương châm kháng chiến của ta là tự lực cánh sinh, vì
bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải do sự nghiệp của bản thân quần chúng.
Lấy sức mình là chính, sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ thêm vào.
+ Có nỗ lực chủ quan mới sử dụng và phát huy hết sức mạnh của mình.
Nếu không dựa vào sức mình là chính thì không thể đánh lâu dài để giành thắng
lợi cuối cùng.
2.3.2. Đường lối kháng chiến của Đảng được thực hiện một cách sinh
động và phong phú trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả
mọi hoạt động, đã đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.
+ Về quân sự, ta động viên toàn dân tham gia xây dực lực lượng vũ trang.
Thanh niên nô nức tham gia phong trào tòng quân giết giặc; lực lượng ba thứ
quân được hình thành và phát triển: dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, bộ đội
chính quy. Trải qua chiến đấu, quân đội ta trưởng thành về mặt số lượng, vũ khí,
trang bị đến cách đánh. Từ chiến thuật du kích đã chuyển lên lối đánh công kiên,
đánh vận động. Với phương châm đánh lâu dài, ta đã phá tan chiến lược đánh
mau, thắng mau của địch. Từ sau chiến thắng Biên giới, ta đã vươn lên giành
quyền chủ động trên chiến trường chính. Đặc biệt qua các chiến dịch đều có sự
phối hợp chặt chẽ giữa tiền tuyến và hậu phương, có sự hỗ trợ giữa chiến trường
chính và các chiến trường khác trong toàn quốc. Đường lối kháng chiến đúng
đắn đã tạo sức mạnh cho quân đội ta chiến thắng kẻ thù.
+ Về Kinh tế: chúng ta đã kịp chuyển nền kinh tế thời bình sang thời
chiến. Ta đã tích cực đấu tranh kinh tế với địch để ngăn chặn Pháp phá hoại nền
kinh tế của ta. Mặt khác, ta đã chăm lo xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân,

chống Pháp do Đảng ta đề ra trong những năm 1946 – 1947.
2. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng, chính phủ và chủ
tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong các văn kiện nào? Phân tích nội dung
một văn kiện có tính chất hiệu triệu toàn dân đứng lên chống Pháp xâm lược.
3. Vì sao trong cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân ta phải
thực hiện phương châm đánh lâu dài ?
4. Hãy dùng các sự kiện lịch sử cụ thể để minh họa câu nói của Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng
chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn lướt tới, vì chúng quyết
tâm cướp nước ta một lần nữa”.
24
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013

Giáo viên: Hoàng Văn Tâm


Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954

3. Vấn đề 3: Quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược.
Đây là một vấn đề tổng hợp về giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến
toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954). Không đi sâu chi tiết
diễn biến chiến sự nhưng giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chọn lọc, sử
dụng các sự kiện lịch sử chủ yếu làm nổi bật các bước phát triển cơ bản nhất
(thông qua các giai đoạn) của cuộc kháng chiến, cần làm rõ:
- Âm mưu và thủ đoạn cụ thể của thực dân Pháp trong từng giai đoạn, thể
hiện qua chiến lược chiến tranh và âm mưu, thủ đoạn của chúng. Qua đó thấy
được tính hiếu chiến, ngoan cố, tàn bạo của địch trong quá trình xâm lược nước
ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status