Chuyên đề
MỘT SỐ CÂU HỎI - BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954
I. MỞ ĐẦU
Vấn đề phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các bộ môn nói chung
và môn lịch sử nói riêng là một trong những nhiệm vụ của người giáo viên ở trường
phổ thông. Hiện nay các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có trường THPT chuyên.
Mục tiêu đào tạo ở trường chuyên về cơ bản vẫn là mục tiêu đào tạo của trường THPT,
tức là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người”… và có thêm yêu cầu được phát
triển năng khiếu về môn học để chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên đại học, nhằm đào
tạo thành nhưng trí thức giỏi, cao hơn là những nhân tài cho đất nước.
Đối với môn lịch sử, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong nhận thức bộ
môn, ngoài yêu cầu người giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghế, phải thường
xuyên nâng cao năng lực chuyên môn, phải có năng lực sư phạm và biết kết hợp một
cách khéo léo các phương pháp như: phải xác định động cơ, hứng thú học tập Lịch sử
cho học sinh; sớm hình thành ở học sinh những năng lực học và làm bài thi môn lịch
sử; kĩ năng học, ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách hệ thống; phải biết
phát hiện và giải quyết vấn đề và kĩ năng làm bài thi môn lịch sử.
Nhưng kĩ năng đó không phải trong ngày một, ngày hai mà có được mà phải là
một quá trình. Nó phải được từng bước hình thành ngay từ khi các em học lớp 10 tại
trường THPT chuyên.
Để hình thành những kĩ năng học lịch sử nói trên, trong quá trình bồi dưỡng học
sinh giỏi, giáo viên nên tập trung cho các em làm bài tập lịch sử dưới nhiều dạng khác
nhau.
Trong khuôn khổ phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, tôi xin giới thiệu
một số câu hỏi bài tập nhằm bồi dưỡng các kĩ năng cơ bản cho học sinh, đáp ứng
những yêu cầu ngày càng cao của các kì thi học sinh giỏi và thi đại học.
1
2
- Trình bày được nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về
Đông Dương.
- Phân tích được nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp.
- Giải thích được các khái niệm, thuật ngữ lịch sử: Bình dân học vụ, tối hậu thư,
hiệp định, kháng chiến trường kì, tự lực cánh sinh, hậu phương, vùng tự do, vùng du
kích, vùng tạm chiếm, chiến dịch, tiến công chiến lược.
2. Một số dạng bài tập lịch sử thường gặp
- Dạng câu hỏi về diễn biến của sự kiện lịch sử.
Ví dụ: Hãy nêu diễn biến chính của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.
Để làm được câu hỏi dạng này, học sinh cần nắm vững và trình bày những diễn
biến chính của chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Câu hỏi xác định nguyên nhân thành công của một sự kiện lịch sử.
Ví dụ: Hãy nêu nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp 1945-1954.
- Dạng câu hỏi yêu cầu lập bảng niên biểu về các sự kiện lịch sử.
Ví dụ: Lập niên biểu những thắng lợi tiêu biểu của nhân dân ta trên các mặt trận
quân sự, chính trị - ngoại giao, kinh tế - tài chính trong kháng chiến chống thực dân
Pháp từ sau thu – đông 1950 đến trước đông-xuân 1953-1954 theo các nội dung:
Thời gian
Quân sự
Chính trị - ngoại
giao
đề có tính quy luật trong sự phát triển là sự tiếp nối logic giữa quá khứ-hiện tại-tương
lai.
Ví dụ: Qua trình bày những sự kiện chủ yếu trong phong trào cách mạng 19301931; 1936-1939 và phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945, nêu rõ các cuộc đấu
tranh này dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.
- Dạng câu hỏi tìm hiểu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời
đại hay một xã hội nói chung.
Kiểu câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải nắm bắt được phương pháp tư duy biện
chứng để đoán định sự phát triển tương lai của một sự kiện lịch sử trên cơ sở hiểu rõ
quá khứ và hiện tại.
Ví dụ: Tại sao nói, sau chiến thắng Biên giới thu – đông 1950, cuộc kháng chiến
của ta bước sang giai đoạn phát triển.
- Dạng câu hỏi tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện và rút ra bài học kinh nghiệm
lịch sử đối với các giai đoạn sau hoặc ngày nay.
4
Ví dụ: 1. Có ý kiến cho rằng: Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương đã
chia Việt Nam thành hai quốc gia với đường biên giới là ĩ tuyến 17.
Căn cứ vào nội dung Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, hãy nhận
xét ý kiến trên.
2. Từ những nhân tổ chủ quan đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp ở Việt Nam (1945-1954), hãy lựa chọn một nhân tố cần phát huy
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Theo anh/chị, thanh niên Việt Nam cần làm
gì để góp phần củng cố và phát triển nhân tố đó.
3. Các câu hỏi ôn luyện
Câu 1. Tại sao nói, ngay sau khi thành lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”?
Gợi ý trả lời.
* Giặc ngoại xâm và nội phản:
+ Các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút ngày đêm
hoành hành.
=> Nước VNDCCH đứng trước tình thế hiểm nghèo. Vận mệnh dân tộc như ngàn cân
treo sợi tíc.
Câu 2. Trình bày đối sách của Đảng và Chính phủ ta nhằm chống thù trong
giặc ngoài để bảo vệ chính quyền, giữ gìn độc lập dân tộc. (Thành quả đạt được
trong năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết khó khăn của đất
nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945)
Gợi ý trả lời.
a. Chính trị - quân sự:
* Xây dựng chính quyền cách mạng:
- 6/1/1946 tiến hành tổng tuyển cử bầu quốc hội . Hơn 90% cử tri cả nước đi
bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH. Thắng lợi của Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa to lớn, thể hiện ý chí và quyết tâm của nhân dân VN
là xây dựng một nước VN thống nhất, độc lập; giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu
chia rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà
nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội và đối ngoại trong thời kì mới.
- Sau bầu cử QH, tại các địa phương ở Bắc bộ và Bắc trung bộ đã tiến hành Bầu
cử hội đồng nhân dân các cấp, thành lập ủy ban hành chính các cấp.
- 2/3/46, Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên,
thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và
lập ra ủy ban dự thảo Hiến pháp.
- 9/11/46, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc
hội thông qua.
6
* Xây dựng lực lượng vũ trang:
- 9/1945 Việt Nam giải phóng dân tộc thành vệ quốc Đoàn 5/46 đổi thành
thần dân tộc, dân chủ.
7
- Việc bài trừ các tệ nạn xã hội như mê tín, dị đoan được quần chúng nhân dân
hưởng ứng sôi nổi; kết hợp với xây dựng nếp sống văn hóa mới.
- Ý nghĩa: Góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, đẩy lùi các tệ
nạn xã hội, xây dựng đời sống mới.
d. Ý nghĩa: Những thành tựu bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách
mạng có ý nghĩa rất to lớn:
- Thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, thực sự là của dân do dân và vì dân
- Tăng cường sức mạnh cho dân tộc để đối phó với thù trong giặc ngoài.
- Tạo điều kiện để nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc sau này.
Câu 3. Hãy phân tích thái độ chính trị của mỗi thế lực ngoại xâm để xác
định kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam trong năm đầu tiên sau ngày Cách
mạng tháng Tám 1945 thành công.
Gợi ý trả lời.
- Chỉ sau 10 ngày sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, quân
đội các nước Đồng minh với danh nghĩa vào giải giáp quân đội Nhật, đã kéo vào nước
ta. Các lực lượng đế quốc tuy có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi, song do cùng chung
mục đích chống phá cách mạng, nên đều giúp Pháp trở lại chiếm đóng Việt Nam.
- Trung Hoa Dân quốc: từ Vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa
dân quốc vào nước ta, kéo theo bọn tay sai thuộc các tổ chức phản động (Việt Quốc,
Việt Cách), thực hiện âm mưu cướp chính quyền của ta. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh
chống Nhật kết thúc, lực lượng cách amngj Trung Quốc đang phát triển mạnh, trực tiếp
đe dọa đến lợi ích chiến lược của Trung Hoa Dân quốc. Vì thế sớm muộn họ cũng phải
rút về nước để đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc. Như vậy, Trung Hoa
Dân quốc không phải là kẻ thù nguy hiểm
- Đế quốc Mĩ: hiện tại Mĩ đang hậu thuẫn cho Trung Hoa Dân quốc để chiếm
quốc phải rút lực lượng về nước. Trong hoàn cảnh đó, Trung Hoa Dân quốc và Pháp đi
đến kí Hiệp ước Hoa - Pháp ngày 28/2/1946.
- Theo Hiệp định, Trung Hoa Dân quốc được Pháp trả lại các tô giới và nhượng
địa của Pháp trên đất Trung Quốc. Đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay quân
Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.
b. Sách lược của Đảng trước tình thế do Hiệp ước đặt ra.
- Hiệp ước Hoa - Pháp đã đặt nhân dân Việt Nam trước hai lựa chọn: hoặc cầm
súng chiến đấu chống thực dân Pháp không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc hòa
hoãn, nhân nhượng với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng
một lúc.
- Để tránh tình trạng phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng họp đã chon giải pháp “Hòa để tiên”. Chiều 6/3/1946 Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với G. Xanhtơni –
đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ.
- Nội dung hiệp định:
9
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia
tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp, có chính phủ riêng, nghị viện riêng…
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra bắc làm nhiệm vụ giải
giáp quân Nhật và số quân này rút dần trong 5 năm.
+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền nam để đi đến cuộc đàm phán chính
thức.
Do thái độ hiếu chiến của Pháp nên các cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-blo bị
thất bại. Quan hệ Pháp - Việt ngày càng căng thẳng, có nguy cơ nổ ra chiến tranh. Với
nỗ lực cứu vãn nền hòa bình, ngày 14/9/46, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Cính phủ
Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng cho Pháp thêm một số quyền lợi về kinh tê, văn hóa.
- Việc kí các Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9, ta đã tránh được cuộc chiến
quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.
Câu 6. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đối phó với
cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Việt Nam của thực dân Pháp (từ sau 2/9/1945
đến ngày 6/3/1946) như thế nào?
Gợi ý trả lời.
a. Chủ động kháng chiến
- Ngày 23/9/1945 được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh
úp trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược
Việt Nam lần 2.
- Ngày 23/9/1945, Xứ ủy Nam Kì đã tổ chức cho nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn
cùng nhân dân Nam Bộ đứng lên chống quân xâm lược. Lực lượng vũ trang của ta đột
nhập sân bay tân Sơn Nhất, phá kho tàng, triệt phá nguồn tiếp tế, dựng chướng ngại vật
trên đường phố…bao vây và tấn công quân Pháp trong thành phố.
- Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến
kiến quốc, vạch rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là
giải phóng dân tộc. Bản Chỉ thị xác định: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân
Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.”
- Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước hướng về
Nam Bộ. Đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng
chiến tranh ra cả nước. Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và
Nam Trung Bộ kháng chiến.
- Cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ đã ngăn chặn được bước tiến công đầu
tiên của địch, giữ vũng và mở rộng lực lượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến
đấu, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện để cả nước
chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về sau.
b. Chủ động đàm phán và kí kết Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946).
- Chính phủ Pháp với Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa-Pháp
(2/1946), thỏa thuận việc quân Pháp ra Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc làm
nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ
thù, Ban Thường vụ Trung Ương Đảng họp, do Hồ Chí Minh chủ trì, đã chọn giải pháp
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra bắc làm nhiệm vụ giải
giáp quân Nhật và số quân này rút dần trong 5 năm.
+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam để đi đến cuộc đàm phán
chính thức.
c. Ý nghĩa và tác dụng của Hiệp định
12
- Đảng và Chính phủ ta đã lợi dụng mâu thuẫn về quyền lợi giữa quân Trung
Hoa Dân quốc và Pháp để đẩy nhanh 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay
sai ra khỏi nước ta.
- Có thêm thời gian hòa bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực
lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau.
- Về mặt pháp lí, Chính phủ Pháp phải thừa nhận nước ta là một nước tự do,
không còn là thuộc địa của Pháp.
- Đây là một biện pháp cực kì sáng suốt được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta
như một mẫu mực trong nguyên tắc ngoại giao về “lợi dụng mâu thuẫn trong hang ngũ
kẻ thù và sự nhân nhượng có nguyên tắc”.
d. Bài học cho chính sách đối ngoại của Đảng ta trong xu thế hội nhập hiện
nay
- Xu thế chính trong quan hệ quốc tế hiện nay là đối thoại hợp tác cùng tồn tại
hòa bình, các quốc gia dân tộc đều hướng đến hội nhập quốc tế. Tuy nhiên quan hệ
quốc tế vẫn diễn ra hết sức phức tạp, chằng chéo, đan xen giữa lợi ích kinh tế, chính trị,
quốc phòng an ninh với giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ…
Trong bối cảnh đó, những bài học ngoại giao từ trong lịch sử vẫn còn nguyên giá trị.
- Từ ý nghĩa, tác dụng của Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) có thể rút ra bài học sau:
+ Nguyên tắc giữ vững chủ quyền, đảm bảo quyền tự quyết, không lệ thuộc
nước ngoài.
+ Tăng cường quan hệ với đối tác trên tinh thần “thêm bạn bớt thù” cần mềm
* Đường lối kháng chiến thể hiện qua 3 văn kiện
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946)
+ Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng
(12/12/1946)
+ Được giải thích cụ thể trong “Tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi” của
Trường Chinh (9/1947)
* Nội dung đường lối kháng chiến: toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực
cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
- Xác định mục đích kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành
độc lập tự do “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”
- Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc,
từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện toàn dân đánh
giặc bằng mọi vũ khí có trong tay… có lực lượng toàn dân mới thực hiện được kháng
chiến toàn diện và tự lực cánh sinh
- Kháng chiến toàn diện: kháng chiến trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao, nhằm làm thất bại mọi thủ đoạn của thực dân
Pháp. Mặt khác phải xây dựng hậu phương kháng chiến toàn diện. Có như vậy nhân
dân ta mới phát huy được khả năng của mình trong kháng chiến.
- Kháng chiến lâu dài: vì so sánh lực lượng lúc đầu chưa có lợi cho cuộc kháng
chiến; cần có thời gian để vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; chống lại chiến lược “đánh
14
nhanh thắng nhanh” của địch; từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành
thắng lợi quyết định.
- Tự lực cánh sinh: Ta rất coi trọng sự giúp đỡ của các nước nhưng vẫn luôn
đảm bảo phương châm kháng chiến tự lực cánh sinh. Vì có nỗ lực chủ quan mới phát
huy được hết sức mạnh của mình. Nếu không dựa vào sức lực của mình thì không thể
- Kết quả: sau 2 tháng (60 ngày đêm), quân và dân Hà Nội đã chiến đấu gần 200
trận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giam chân địch trong thành phố. Ngày 17/2/47,
Trung đoàn thủ đô rút về hậu phương để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
- Ở các đô thị Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Huế, Đà Nẵng… quân dân ta
chiến đấu kiên cường, gây nhiều khó khăn cho địch: vây hãm địch trong thành phố
Nam Định (12/46 – 3/47); buộc địch ở Vinh phải đầu hàng…
* Kết quả, ý nghĩa: tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, giam chân chúng trong
thành phố, làm thất bại một bước kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng, tạo
điều kiện cho cả nước đi vào kháng chiến lâu dài.
Câu 10. Chiến dịch phản công giành thắng lợi đầu tiên của ta trong kháng
chiến chống Pháp (1945-1954) là chiến dịch nào? Nêu hoàn cảnh, diễn biến, kết
quả và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch đó.
Gợi ý trả lời.
Chiến dịch công giành thắng lợi đầu tiên của ta trong kháng chiến chống Pháp
(1945-1954) là chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.
* Hoàn cảnh lịch sử.
- 3/1947 tướng Bô-le-éc sang làm cao ủy Pháp ở Đông Dương, thay cho Đắcgiăng-li-ơ. Bô-la-éc thực hiện kế hoạch tiến công căn cứ đại Việt Bắc nhằm nhanh
chóng kết thúc chiến tranh.
- Âm mưu: xóa bỏ căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân
chủ lực; triệt đường liên lạc quốc tế; tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc và
nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
- Ngày 7/10/1947 P huy động 12.000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương
chia thành 3 cánh tấn công lên Việc Bắc.
* Quân ta chiến đấu chống cuộc tiến công Việt Bắc của Pháp.
- Ta đoán đúng tình hình và đã tích cực, chủ động chuẩn bị. Đảng ta đã đưa ra chỉ
thị “Phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”
* Diễn biến:
- Bao vây tiến công địch ở Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã, buộc Pháp
phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã (cuối tháng 11/1947)
đời, tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam tiếp xúc với các nước trong phe xã hội chủ
nghĩa.
+ Đầu 1950, Trung Quốc, Liên Xô, các nước XHCN khác lần lượt công nhận và
đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, viện trợ vật chất cho
nhân dân Việt Nam.
+ Phong trào kháng chiến ở Lào và Campuchia phát triển mạnh, buộc thực dân
Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó.
-
Khó khăn:
17
+ Mĩ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương
+ Nhờ sự giúp sức của Mĩ, 5/1949, Pháp đề ra kế hoạch Rơ-ve, tăng cường hệ
thống phòng thủ trên đường số 4, lập hành lạng Đông – Tây: Hải Phòng – Hòa Bình –
Sơn La, chuẩn bị tấn công lên Việt Bắc lần 2 để nhanh chóng kết thúc chiến tranh
* Chủ trương của Đảng và Chính phủ:
Từ bối cảnh lịch sử trên, để dưa cuộc kháng chiến tiến sang giai đoạn mới,
6/1950, Đảng, Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu hao một bộ
phận sinh lực địch; khai thông đường sang Trung Quốc và thế giới; mở rộng và củng
cố căn cứ địa Việt Bắc; đồng thời tạo những thuận lợi mới thúc đẩy cuộc kháng chiến
tiến lên.
b. Diễn biến của chiến dịch
- Ta mở màn chiến dịch bằng trận đánh Đông Khê (16/9/50)
- Mất Đông Khê, quân địch ở Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập. Trước
nguy cơ bị tiêu diệt, quân Pháp rút lui khỏi Cao Bằng theo đường số 4.
- Ta tổ chức chặn đánh địch ở nhiều nơi trên đường số 4, tiêu diệt và bắt sống
toàn bộ hai cánh quân của địch. Từ 8/10 đến 22/10/50, quân Pháp phải rút khỏi hàng
loạt vị trí trên đường số 4.
huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nava đề ra một kế hoạch quân sự mới hi
vọng trong 18 tháng giành lấy một thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong
danh dự”
b. Nội dung: chia thành 2 bước
- Bước 1: từ thu đông 1953 - xuân 1954: giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc
Bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung bộ và Nam Đông Dương, đồng thời tăng
cường xây dựng quân đội tay sai, tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến
lược mạnh.
- Bước 2: từ thu - đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực
hiện tiến công chiến lược, cố giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc Việt Minh phải
đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Pháp, nhằm kết thúc chiến tranh.
- Thực hiện kế hoạch: từ thu-đông 1953, Nava tập trung lực lượng quân cơ
động ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn (trong tổng số 84 tiểu đoàn cơ động trên toàn
Đông Dương), mở rộng hoạt động thổ phỉ biệt kích ở vùng rừng núi, biên giới, mở
cuộc tiến công lớn vào vùng giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa.
Kế hoạch Nava và sự câu kết giữa Pháp và Mĩ làm cho cuộc kháng chiến của ta
gặp những khó khăn mới.
* Nhận xét:
- Kế hoạch Nava ra đời trong thế bị động, nó mâu thuẫn giữa vấn đề tập trung
hay phân tán, đây là điểm yếu nhất của kế hoạch này.
19
- Thông qua kế hoạch, Mĩ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương
và muốn mở rộng, kéo dài cuộc chiến tranh Đông Dương có lợi cho Mĩ.
Câu 13. Hãy trình bày phương hướng chiến lược của ta trong đông-xuân
1953-1954. Việc thực hiện phương hướng chiến lược trong đông-xuân 1953-1954
đã đạt được kết quả nhue thế nào?
Gợi ý trả lời.
Phủ làm khâu chính.
- Thắng lợi trong Đông -Xuân 1953-1954 đã chuẩn bị về vật chất và tinh thần
cho quân dân ta mở cuộc tiến công quyết định vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Câu 14. Tại sao cả ta và Pháp quyết định chọn Điện Biên Phủ là điểm
quyết chiến chiến lược? Nêu diễn biến chính, kết quả của chiến dịch.
Gợi ý trả lời.
a. Cả ta và Pháp đều chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược.
* Về phía Pháp:
- Khi kế hoạch Nava bước đàu bị phá sản, phát hiện quân chủ lực của ta tiến
quân lên Tây Bắc, Nava quyết định co lực lượng về giữ Điện Biên Phủ.
- ĐBP là một thung lững nằm ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới
Lào, cách Hà Nội 300 km. ĐỐi với Pháp đây là vị trí chiên sluowcj then chốt, có thể
trở thành một căn cứ lục quân và
* Ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ vì:
- Do kế hoach Nava không thực hiện được theo dự kiến, Pháp quyết định xây
dựng ĐBP thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với lực lượng lúc cao
nhất lên đến 16.200 quân, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49
cứ điểm. Cả Pháp và Mĩ đều coi ĐBP là pháp đài bất khả xâm phạm. Như vậy từ chỗ
không có trong kế hoạch, ĐBP trở thành trung tâm của kế hoạch Nava. Vì vậy muốn
kết thúc chiến tranh thì chúng ta phải đạp tan kế hoạch Nava và muốn đập tan kế hoạch
Nava tất yếu phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
* Chủ trương của ta
- Đầu 12/1953, BCT TƯ Đảng quyết định mở chiến dịch ĐBP với mục tiêu là:
tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào.
Giành thắng lợi quyết định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để
kết thúc chiến tranh.
- Ta huy động một lực lượng rất lớn gồm (4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn pháo
binh, nhiều tiêu đoàn công binh…) Đầu 3/1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến
dịch đã hoàn tất.
b. Diễn biến chiến dịch: chia làm 3 đợt
bằng đường hàng không và tổng công kích vào khu trung tâm của chúng.
Câu 17. Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ
năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Gợi ý trả lời.
a. Hoàn cảnh kí kết Hiệp định
22
- Thắng lợi của ta trong đông-xuân 1953-1954 đã mở ra khả năng giải quyết
cuộc chiến tranh bằng con đường hòa bình.
- Tháng 1/1954, Ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp họp, thống nhất
triệu tập một hội nghị quốc tế ở Giơnevơ để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Triều Tiên
và Việt Nam.
- Ngày 8/5/1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc. Phái đoàn ta do
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn được mời họp. Hội nghị diễn ra rất
căng thẳng vì phía Pháp - Mĩ không có thiện chí. Đến ngày 21/7/1954 Hiệp định
Giơnevơ được kí kết.
b. Nội dung của Hiệp định
- Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của 3
nước Đông Dương, không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước.
- Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông
Dương.
- Các bên tham chiến thực hiện cuộc tập kết, chuyển quân chuyển giao khu vực.
Ở VN quân đội Nhân dân VN và quân Pháp tập kết ở 2 miến Bắc - Nam lấy vĩ tuyến
17 làm ranh giới quân sự tạm thời. Ở Lào, lực lượng kháng chiến tập kết ở 2 tỉnh Sầm
Nưa và Phongxalì. Ở Campuchia lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, không có
vùng tập kết.
- Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí nước ngoài vào các nước
Đông Dương.
quân sự đúng đắn, sáng tạo: toàn dân, toàn diện, trường kì, và tự lực cánh sinh, kết hợp
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến phù hợp với điều kiện nước ta. ĐƯờng
lối đó đã phát huy tối da được chỗ mạnh căn bản và khắc phục được nhược điểm, làm
cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển từ yếu sang mạnh, dần dần tiến lên giành
thắng lợi.
- Toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù
trong lao động sản xuất.
- Có chính quyền DCND trong cả nước, mặt trận dân tộc thống nhất được củng
cố và mở rộng, lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, hậu phương rộng lớn, vững
chắc về mọi mặt.
- Được tiến hành trong liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương,
được sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc, Liên Xô và các nước
Dân chủ nhân dân, của nhân dân PHáp và loài người tiến bộ.
b. Ý nghĩa lịch sử
- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của
thực dân Pháp trong gần một thế kỉ trên đất nước Việt Nam.
- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN, tạo cơ
sở để nhân dân ta giải phóng miền Nam.
24
- Giáng đòn nặng vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế
quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc các
nước châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ Latinh.
Câu 19. Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
để kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam.
Gợi ý
- Để làm thất bại kế hoạch quân sự Nava, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng họp tháng 9/1953, chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân
1953-1954, đánh vào những nơi có tầm quan trọng về chiến lược nhưng địch tương đối