SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Người thực hiện: Lê Thị Bích
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2014 - 2015
đạo về đổi mới hình thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh Đại học –
Cao đẳng trong cả nước và cải cách chương trình sách giáo khoa thì việc đổi mới
phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên để bắt nhịp với nhu cầu đổi mới là rất
quan trọng. Đặc biệt, môn Ngữ văn lâu nay lại là môn thi bắt buộc trong kì thi tốt
nghiệp trung học phổ thông(THPT), thế nhưng đa số phụ huynh và học sinh lại
thường hướng vào chọn các môn tự nhiên ít có học sinh hứng thú học văn,
“bởi phần đông học sinh nghĩ rằng năng lực văn là năng lực tự nhiên của con
người xã hội, không học vẫn biết đọc, biết nói; học văn không thiết thực. Văn có
kém một chút, ra đời vẫn không sao, vẫn nói và viết được, còn không học ngoại
ngữ, không học khoa học kĩ thuật thì coi như chịu phép. Có thể đó là lí do làm cho
đa số học sinh không cố gắng học ngữ văn” (Giáo sư Trần Đình Sử). Đó là
khó khăn rất lớn đối với các thầy cô giáo dạy Văn. Vậy làm sao để khiến học sinh
hứng thú khi học văn? Đó là một nhiệm vụ quan trọng mà bản thân mỗi giáo viên
phải luôn trăn trở, tìm tòi, suy nghĩ.
Từ năm học 2013 – 2014 Bộ chỉ đạo đổi mới hình thức ra đề thi Ngữ văn,
khẳng định lại đây là môn thi bắt buộc thì nhiệm vụ đặt ra cho người thầy dạy môn
Ngữ văn THPT lại nặng nề hơn, đó là làm sao để các em vừa “thích” học văn, vừa
đạt điểm cao khi đi thi? Tôi nghĩ rằng tất cả những người dạy Văn đều đã, đang và
sẽ nỗ lực hết mình để tìm ra một những phương pháp dạy học thật hay, thật cuốn
hút để giúp các em “hứng thú” với môn Ngữ văn hơn và chắc chắn đã có những đề
tài tìm hiểu về cách gây hứng thú học Văn cho học sinh.
Đối với giáo viên môn Ngữ văn trường THPT Nguyễn Đình Chiểu chúng tôi
đa số là tuổi đời, tuổi nghề còn trẻ, kinh nghiệm chưa có nhiều nhưng qua 5 năm
công tác cùng với chị em trong tổ tôi nhận thấy rằng tất cả mọi người đã nỗ lực hết
mình để làm sao tạo được hứng thú học Ngữ văn cho học sinh toàn trường. Những
cố gắng đó đã được ghi nhận bằng những con số qua các kì thi nhất là kì thi tốt
nghiệp THPT(đạt chỉ tiêu của trường và Sở đề ra), học sinh đạt giải môn Văn trong
các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh và tôi thấy học sinh ngày càng yêu thích môn Văn
hơn, không còn hoặc chỉ còn số ít em có tâm lí “chán” môn Văn. Mặc dù đã có
rất nhiều ý kiến bàn về vấn đề này, nhưng trong phạm vi đề tài
có được sự say mê, thích thú con người sẽ làm việc có hiệu quả hơn, dễ thành công
và thành công nhanh hơn. Hứng thú có tác dụng rất lớn nó làm cho tâm trạng
chúng ta lúc nào cũng vui vẻ, phấn khích. Còn trong dạy học, bất kì môn học nào
cũng cần sự hứng thú ở học sinh bởi vì không có hứng thú thì học sinh không hợp
tác với thầy cô, cảm thấy uể oải trong giờ học; khi có hứng thú các em sẽ có động
cơ học tập, hay phát biểu kiến, hay thắc mắc, khám phá tri thức, chủ động, tự giác
hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên giao cho.
Tóm lại, khi học sinh hứng thú với bài học, với môn học sẽ tạo không khí thi
đua học tập sôi nổi, tích cực, say mê nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi.... “Hứng thú, ham
mê học tập là một trong những nguồn gốc chủ yếu nhất của việc học tập có kết quả
cao, là con đường dẫn đến sáng tạo và tài năng.” (Viện KHGD - “ Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”.). Vì thế những người làm công tác giáo dục nói chung và người
thầy dạy Văn nói riêng phải không ngừng tìm ra các biện pháp gây hứng thú cho
học sinh trong mọi hoạt động học tập và giáo dục, có như vậy mới phát huy tính
tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, hướng trọng tâm vào học sinh, tạo tính
tự giác học tập, tự học, tự nghiên cứu trong học sinh, tăng cường khả năng vận
dụng kiến thức vào đời sống
2. Cơ sở thực tiễn
Thực tế trong thời gian qua thực hiện nhiệm vụ đổi mới của ngành giáo dục
chúng ta đã đạt được những kết quả đáng kể, tuy nhiên đối với môn Ngữ văn học
sinh vẫn chưa thật sự hứng thú, các em vẫn đua nhau tập trung vào những môn học
tự nhiên và ngoại ngữ nhiều hơn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, cả
4
chủ quan lẫn khách quan, có thể nêu ra đây những nguyên nhân cơ bản
- Xét về phía xã hội: thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công
nghệ, dễ hiểu là đại đa số học sinh chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ
thuật, kinh tế… “Tình trạng thờ ơ với các môn học, đặc biệt là môn Văn hiện đã
đến mức báo động”(Văn học và Tuổi trẻ - Số tháng 12(153), 2007).
nữa là trong buổi hội thảo đó chúng tôi được nghe thầy Nguyễn Trọng Hoàn(Vụ
Giáo dục THPT) nói chuyện về việc đổi mới việc dạy Văn, đổi mới về việc kiểm
tra đánh giá môn Văn thì tôi càng trăn trở hơn đó là làm sao tạo được hứng thú học
Văn của các em. Xuất phát từ thực trạng học tập môn Ngữ văn hiện nay, từ thực tế
giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp trường THPT Nguyễn Đình Chiểu tôi
mong rằng đề tài này sẽ được sự đón nhận của đồng nghiệp trong trường và cả
trường bạn và hy vọng phần nào sẽ cải thiện được thực trạng dạy và học Ngữ văn
hiện nay.
5
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Thực trạng trước khi thực hiện giải pháp: Theo kết quả điều tra của bản thân
tôi vào đầu năm học 2013 - 2014 bằng phiếu lấy ý kiến(đính kèm):
?Môn học yêu thích của em?
Toán
¨
Lí
¨
Hóa
¨
Ngữ văn
¨
TB ¨
Yếu ¨
Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 55 phiếu điều tra học sinh của lớp
11A8 và 10A6, trong đó: Thích môn Ngữ văn là 18 em; Năng lực: Giỏi: 0, Khá:
18, Trung bình: 22, Yếu: 15
Từ thực trạng đó tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài từ đầu năm
học 2013 – 2014 đến hết học kì I, năm học 2014 – 2015 bằng một số biện pháp gây
hứng thú trong giờ học Ngữ văn như sau:
1. Gây hứng thú bằng nghệ thuật lên lớp của giáo viên: Nghệ thuật lên lớp
của giáo viên được xem là yếu tố quan trọng nhất. Nghệ thuật lên lớp của giáo viên là:
1.1. Giáo viên phải tác động vào tình cảm, nhận thức học sinh: Đây là
khâu rất quan trọng để gây hứng thú học tập Ngữ văn bởi vì môn Văn khác với các
môn học tự nhiên không phải nhìn vào những con số để chỉ ra đúng – sai mà mọi
y nghĩa đều nằm bên trong con chữ. Muốn dạy được một tiết Văn hoàn chỉnh trước
tiên giáo viên phải xác định được mục tiêu về kiến thức và kỹ năng, có nghĩa là
dạy cái gì, dạy như thế nào và dạy để làm gì? Một tác phẩm nhà văn viết ra nó
chứa đựng những bài học to lớn về y nghĩa cuộc sống chứ phải là những con chữ
khô khan. Chính vì thế người thầy phải làm sao sau mỗi bài học học sinh biết yêu
cái đẹp, cái thiện; biết ghét xấu; đồng cảm với những số phận không may mắn; biết
sống như thế nào cho tốt đó là chúng ta đã tác động vào tình cảm và nhận thức của
các em
1.2. Xây dựng không khí lớp học: Tạo không khí lớp học sôi nổi, bám sát
nội dung bài học, học sinh thoải mái là điều không phải dễ trong tiết dạy Văn.
6
Trong các giờ dạy thời gian một tiết học là 45 phút nhưng có khi chúng ta dạy chỉ
Hương” phỏng thơ “Em đi chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp. Dạy bài “Chữ
người tử tù” của Nguyễn Tuân trong phần giới thiệu về nghệ thuật viết chữ thư
pháp có thể cho các em xem các bức tranh viết chữ thư pháp hoặc về Cảnh cho chữ
thì xem tranh minh họa cảnh Huấn Cao cho chữ:
Hoặc khi dạy phần Tiểu dẫn bài “Chữ người tử tù” đoạn tóm tắt nội dung tập
truyện “Vang bóng một thời” giáo viên có thể kể cho các em nghe thêm một số
truyện khác để thấy phong cách nghệ thuật văn chương Nguyễn Tuân là “đi tìm và
ca ngợi cái đẹp” như truyện “Chém treo ngành”. Dù học sinh thấy sợ về cách chém
đầu người của Bát Lê nhưng từ đó giáo viên có thể khẳng định lại cho các em biết
rằng đối với Nguyễn Tuân ông chỉ quan tâm đến cái tài, cái đẹp. Hay sự trân trọng
nét đẹp truyền thống cùng chủ đề với “Chữ người tử tù” đó là “Hương cuội”. Hoặc
phân vai đóng một đoạn kịch khi học bài “Tình yêu và thù hận”
Đối với môn Ngữ Văn 12, khi dạy bài “Sóng” của Xuân Quỳnh có thể cho
một em hát bài hát “Thuyền và biển”, Xem các bức ảnh về sông Đà khi dạy
“Người lái đò sông Đà”, về sông Hương thơ mộng khi dạy “Ai đã đặt tên cho dòng
sông”, hoặc dạy bài “Sóng” cho các em xem những bức ảnh về Xuân Quỳnh, về
cảnh dữ dội và dịu em của sóng. Khi củng cố bài học “Đàn ghi–ta của Lor-ca” cho
hai em lên biểu diễn: một em hát, một em chơi đàn Ghi –ta ,…
1.3. Phong phú, đa dạng và luôn đổi mới về phương pháp: Giáo viên
luôn thay đổi về phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học, tạo nên sự phong
phú đa dạng trong các hoạt động của quá trình dạy học sẽ làm cho học sinh cảm
thấy thoải mái, không bị ức chế về mặt tâm lí bởi sự nhàm chán, mệt mỏi vì sự đơn
điệu tẻ nhạt. Ví dụ: Khi dạy phần Tiểu dẫn của bài “ Chữ người tử tù” – Nguyễn
Tuân, sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập I, thay vì dùng phương pháp vấn đáp (hỏi và
ghi chép), giáo viên ghi sẵn trên bảng và bỏ ngỏ những ý chính sau:
1.Tác giả:
a. Cuộc đời:
8
bảo Cám ngồi xuống hố rồi giội nước sôi lên, Cám chết”; kết thúc thứ hai là
“Khi Cám chết Tấm làm thịt Cám, chặt ra từng miếng làm mắm rồi gửi về cho
dì ghẻ(lúc này bị đuổi về quê) ăn. Dì vừa ăn vừa khen ngon thì có con quạ bay
qua hót “Ngon gì mà ngon – Mẹ ăn thịt con có còn xin miếng”, dì nhìn xuống
thấy cái đầu lâu Cám và lăn đùng ra chết”. Khi kể xong hai cách kết thúc câu
chuyện giáo viên có thể hỏi học sinh “Em đồng y với cách kết thúc nào? Vì sao?
Lúc đó các em sẽ sôi nổi cùng bàn luận và đưa ra y kiến: Có em sẽ chọn kết
thúc trong sách giáo khoa vì em lí giải là nếu theo kết thúc cô kể thì Tấm không
còn hiền lành nữa mà giết người rồi làm mắm thì ác quá. Nhưng ngược lại em
khác sẽ đứng lên phản bác lại là em chọn kết thúc theo lời cô kể vì như thế mới
đúng với quan niệm của nhân dân ta “gieo nhân nào thì gặp quả ấy”, Cám giết
Tấm nhiều lần như thế nào là làm thịt chim vàng anh, nào là chặt cây xoan đào,
9
…. mà Tấm giết Cám chỉ một lần và làm mắm Cám thì mới trừng trị thích đáng
cái ác được. Sau khi các em tranh luận, chọn câu trả lời xong thì giáo viên mới
nhận xét và định hướng cách giải quyết. Hoặc cũng có thể đưa ra tình huống:
“Vì sao tác giả dân gian lại cho Tấm biến hóa nhiều lần như vậy?”.
Khi dạy “Hồi trống Cổ Thành”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Vì sao tác
giả lại cho Sái Dương dẫn quân xuất hiện khi Quan Công vừa nói với Trương
Phi “Nếu ta đến bắt em, tất phải đem quân mã chứ!”?”.
Khi dạy tác phẩm “Chí Phèo”- sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên đặt ra
những tình huống có vấn đề: -“Tại sao Nam Cao lại để cho ba con chó “lên tiếng”
đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo?” – “Tại sao Nam Cao lại xây dựng nhân vật thị
Nở xấu ma chê, quỷ hờn như vậy?”
Dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” – Sách Ngữ văn 11, tập II, giáo viên có thể đặt ra
tình huống có vấn đề: - “Hãy chỉ ra mạch cảm xúc liên kết ba khổ thơ tưởng chừng
như rời rạc?”
Tập luyện cho học sinh biết giải quyết các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp
nề nếp, học tập. Từ đó làm cho hoạt động trí học và hoạt động chân tay kết hợp
chặt chẽ với nhau, vận dụng được nguyên lí giáo dục kết hợp lí thuyết với thực
tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
1.6. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin
hợp lí vào dạy học Ngữ văn để gây hứng thú: Chúng ta đang sống trong thời
đại của công nghệ thông tin. Đây là một phương tiện giúp chúng ta thuận lợi
hơn trong mọi công việc. Nhất là ngày nay ở lứa tuổi học sinh từ khi còn ở bậc
tiểu học các em đà tò mò khám phá những điều thú vị từ công nghệ thông tin,
vậy thì đến bậc THPT các em còn hiểu biết nhiều hơn. Nếu bản thân giáo viên
biết ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì chắc hẳn môn Ngữ văn sẽ tác
động mạnh mẽ đến tâm hồn các em hơn, làm các em thấy môn học này gần gũi,
thú vị dễ khám phá và nắm bắt tri thức hơn; không còn bắt các em chỉ nhìn vào
phấn trắng, bảng đen đơn thuần nữa. Những đoạn phim, những tranh ảnh, những
lời ca tiếng hát...không những nói hộ giáo viên nhiều điều mà còn làm cho các
em say mê, hứng thú hơn môn học này. Ví dụ: Khi dạy bài “ Tấm Cám” chúng
ta có thể cho các em xem tranh ảnh, trích một số đoạn phim về nội dung câu
chuyện. Khi dạy “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” có thể cho các
em nghe một bài hát, một làn điệu dân ca nào đó. Với “ Hồi trống Cổ Thành”
giáo viên cũng có thể cho các em xem phim về đoạn trích. Khi dạy“ Chí Phèo”Sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên cho học sinh xem một vài đoạn phim nhỏ nói
về hình ảnh Chí Phèo cùng với tiếng chửi, hình ảnh của thị Nở cùng với bát
cháo hành, hình ảnh chí Phèo hiền lành sau khi ăn cháo hành... Với đoạn trích
“Hạnh phúc của một tang gia” có thể cho các em xem một số đoạn phim, như
cảnh đám ma, cảnh hạ huyệt cậu Tú Tân chụp hình,… Khi dạy bài “ Phong cách
ngôn ngữ báo chí” thay vì tìm hiểu “chay” những thể loại và đặc điểm của
chúng thì giáo viên có thể tận dụng công nghệ thông tin đưa một bản tin thời sự,
một đoạn phóng sự ngắn, hay đoạn quảng cáo,…Hoặc bài “Phong cách ngôn
ngữ sinh hoạt” chúng ta cũng có thể tận dụng đưa lên trình chiếu đoạn hội thoại
trong sách giáo khoa hoặc cho các em xem một đoạn phim có sử dụng ngôn ngữ
sinh hoạt. Đối với những bài thơ có thể cho các em nghe những bài ngâm của
10, tập 1, giáo viên yêu cầu học sinh điền tiếp vào sau các từ mở đầu Thân em
như... và Chiều chiều... thành những bài ca dao trọn vẹn.
Lớp chia thành hai dãy và chuẩn bị nội dung đã bốc thăm
- Dãy 1: Chủ đề “ Thân em như...”
- Dãy 2: Chủ đề “ Chiều chiều...”
Mỗi nhóm lần lượt cử đại diện lên trình bày. Các em luân phiên đọc diễn
cảm các bài ca dao và bình giá trị nghệ thuật cũng như nội dung các bài ca dao vừa
đọc. Học sinh nào trong thời gian ngắn nhất mà vừa đọc diễn cảm bài ca dao, vừa
bình tốt giá trị nội dung và nghệ thuật thì giáo viên ghi nhận và cho điểm.
3. Giáo án minh họa:
Giáo án trước khi áp dụng đề tài:
Tiết 17, 18: Đọc văn
TẤM CÁM
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột trong truyện và sự biến
hoá của Tấm.
- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích thần kì qua một truyện cụ thể.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Những mâu thuẫn, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ
quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và
niềm tin của nhân dân.
- Kết cấu của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn
nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì.
2. Kĩ năng
- Tóm tắt văn bản tự sự.
- Phân tích một truyện cổ tích thần kì theo đặc trưng thể loại.
12
loại tự sự. Cho HS tìm hiểu các chú thích.
GV chốt lại các chú thích tiêu biểu.)
(Cách đọc:
- Đọc theo đặc trưng, thể loại tự sự chú ý 1. Cách đọc
giọng điệu câu từng nhân vật trong cách nó.
- Chú ý các chi tiết tình tiết thể hiện sự xung
đột giữa các nhân vật.
- Chú thích: Bụt, Trầu cánh phượng, Áo mớ
ba GV yêu cầu HS
?Hãy tóm tắt lại cốt truyện?
2. Tóm tắt cốt truyện
Học sinh kể tóm tắt lại câu chuyện, có thể gọi
những em khác nhận xét, bổ sung các chi
tiết, sự kiện còn thiếu. Sau đó GV kể lại câu
chuyện.
Gv cho học sinh trả lời theo từng câu hỏi
II. Phân tích
1. Hoàn cảnh đẫn đến mâu
thuẫn giữa Tấm và mẹ con
Cám
1.Cuộc đời và số phận bất hạnh của Tấm a. Thân phận của Tấm
được miêu tả như thế nào?
- Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ.
13
- Không bao lâu cha mất Tấm ở
với dì ghẻ độc ác.
Tấm đi xem hội đổ thóc trộn lẫn
gạo bắt nhặt.
- Khi thấy Tấm thử giày, mụ dì
ghẻ bĩu môi tỏ vẻ khinh miệt.
- Giết Tấm và giết cả những
kiếp hồi sinh của Tấm.
-> Mâu thuẫn chủ yếu trong tác
phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm
mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với
dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn.
Mâu thuẫn này phát triển từ thấp
đến cao : ban đầu chỉ là những
hơn thua về vật chất, tinh thần,
sự ganh ghét mẹ ghẻ con
chồng,... Khi đó, Tấm luôn là
người nhường nhịn, chịu thua
thiệt. Càng về sau, mâu thuẫn
chuyển thành sự đố kị, một mất
một còn, tiêu diệt lẫn nhau.
=> Đây là những mâu thuẫn
trong gia đình phụ quyền thời cổ
nhưng trên hết là mâu thuẫn
giữa thiện và ác trong xã hội.
Mâu thuẫn này được tác giả dân
gian giải quyết theo hướng thiện
thắng ác.
2. Cuộc đấu tranh không
khoan nhượng để giành lại
hạnh phúc
chất của từng tuyến nhân vật
được nhấn mạnh, tô đậm.
- Có nhiều yếu tố thần kì song
vai trò của yếu tố thần kì cũng
khác nhau trong từng giai đoạn.
- Kết cấu quen thuộc của truyện
cổ tích : người nghèo khổ, bất
hạnh trải qua nhiều hoạn nạn
cuối cùng được hưởng hạnh
phúc.
III. Tổng kết
* Hoạt động 3 : Tổng kết
- Ghi nhớ Sgk
- Gv yêu cầu học sinh đọc ghi nhớ SGK.
- Ý nghĩa văn bản
- Gv nêu ý nghĩa văn bản
Truyện Tấm Cám ngợi ca sức
sống bất diệt, sự trỗi dậy mạnh
mẽ của con người và cái thiện
trước sự vùi dập của kẻ xấu, cái
ác, đồng thời thể hiện niềm tin
của nhân dân vào công lí và
chính nghĩa.
15
* Hoạt động 4: Luyện tập
IV. Luyện tập
Gv hướng dẫn học sinh làm luyện tập.
Hãy chọn và phân tích những chi tiết tiêu
quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và
niềm tin của nhân dân.
- Kết cấu của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn
nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì.
2. Kĩ năng
- Tóm tắt văn bản tự sự.
- Phân tích một truyện cổ tích thần kì theo đặc trưng thể loại.
16
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định, kiểm tra
- Ổn định lớp: kiểm tra sĩ số
- Kiểm tra bài cũ : Em có cảm nhận gì về con người Ra-ma qua đoạn trích “
Ra-ma buộc tội”?
2. Tiến trình tổ chức dạy học bài mới
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung
* Hoạt động 1:
- Tạo tâm thế: giới thiệu bài
I. Tiểu dẫn
- Tìm hiểu tiểu dẫn
Cho học sinh đọc phần tiểu dẫn trong SGK.
1. Thể loại
Học sinh kể tóm tắt lại câu chuyện theo từng
bức ảnh, các em khác nhìn, nghe xem bạn kể
đúng chưa để nhận xét, bổ sung các chi tiết,
sự kiện còn thiếu. Sau đó GV kể lại câu
chuyện.
Gv cho học sinh trả lời theo từng câu hỏi:
1. Cuộc đời và số phận bất hạnh của Tấm
được miêu tả như thế nào?
2. Qua đó em suy nghĩ gì?
3. Tác giả dân gian đã miêu tả diễn biến
truyện như thế nào để dẫn đến xung
đột giữa Tấm và mẹ con Cám? Mâu
thuẫn phát triển ra sao?
18
II. Phân tích
1. Hoàn cảnh đẫn đến mâu
thuẫn giữa Tấm và mẹ con
Cám
a. Thân phận của Tấm
- Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ.
- Không bao lâu cha mất Tấm ở
với dì ghẻ độc ác.
- Phải làm lụng vất vả từ sáng
đến tối: “Hàng ngày…việc
phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm
mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với
dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn.
Mâu thuẫn này phát triển từ thấp
đến cao : ban đầu chỉ là những
hơn thua về vật chất, tinh thần,
sự ganh ghét mẹ ghẻ con
chồng,... Khi đó, Tấm luôn là
người nhường nhịn, chịu thua
thiệt. Càng về sau, mâu thuẫn
chuyển thành sự đố kị, một mất
một còn, tiêu diệt lẫn nhau.
=> Đây là những mâu thuẫn
trong gia đình phụ quyền thời cổ
nhưng trên hết là mâu thuẫn
giữa thiện và ác trong xã hội.
Mâu thuẫn này được tác giả dân
gian giải quyết theo hướng thiện
thắng ác.
5. Quá trình biến hoá của Tấm diễn ra như 2. Cuộc đấu tranh không
khoan nhượng để giành lại
thế nào? { Cho Hs vẽ sơ đồ và nhận xét }.
- Chim vàng Anh → xoan đào → khung cửi hạnh phúc
→ quả thị → người (xinh đẹp hơn xưa).
6. Vì sao tác giả dân gian lại cho Tấm biến
hóa nhiều lần như vậy?
- Các em sẽ lần lượt thay nhau phát biểu y
kiến để trả lời câu hỏi có vấn đề, đó là cô
Tấm hiền lành, nết na như thế không thể chết
một cách dễ dàng mà phải có những yếu tố
cái đầu lâu Cám và lăn đùng ra chết”.
?Em đồng ý với cách kết thúc nào? Vì sao?
Cho HS thảo luận nhóm: trình bày suy nghĩ
về những quan điểm, cách đánh giá khác
nhau về kết thúc câu chuyện: Có thể chọn kết
thúc trong sách giáo khoa vì nếu theo kết
thúc cô kể thì Tấm không còn hiền lành nữa
mà giết người rồi làm mắm thì ác quá.
Nhưng ngược lại có em khác sẽ phản bác lại
là em chọn kết thúc theo lời cô kể vì như thế
mới đúng với quan niệm của nhân dân ta
“gieo nhân nào thì gặp quả ấy”, Cám giết
Tấm nhiều lần như thế nào là làm thịt chim
vàng anh, nào là chặt cây xoan đào,…. mà
Tấm giết Cám chỉ một lần và làm mắm Cám
thì mới trừng trị thích đáng cái ác được.
Sau khi các em tranh luận, chọn câu trả lời
xong thì giáo viên mới nhận xét và định
hướng cách giải quyết
- Ý nghĩa việc trả thù của Tấm:
8. Từ đó nêu ý nghĩa việc trả thù của Tấm ở là hành động của cái thiện trừng
cuối truyện?
trị cái ác. Nó phù hợp với quan
niệm "ở hiền gặp lành", "ác giả
ác báo" của nhân dân.
9. Nêu những đặc điểm nghệ thuật nổi bật 3. Nghệ thuật
trong truyện
- Xây dựng những mâu thuẫn,
xung đột ngày càng tăng tiến.
- Xây dựng nhân vật theo hai
* Hoạt động 4: Luyện tập
IV. Luyện tập
Gv hướng dẫn học sinh làm luyện tập.
Hãy chọn và phân tích những chi tiết tiêu
biểu trong truyện Tấm cám để chứng tỏ rằng:
“Truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp” của
nhân dân lao động.
D. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP Ở NHÀ
1. Hướng dẫn học bài
- Đọc (kể) bằng giọng phù hợp với đặc điểm nhân vật : Tấm hiền thục, Cám
chanh chua, Bụt nhân từ, dì ghẻ độc ác.
- Tại sao nói Tấm Cám rất tiêu biểu cho đặc điểm nghệ thuật của thể loại
truyện cổ tích nhất là truyện cổ tích thần kì ?
2. Hướng dẫn soạn bài
Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học tập làm văn “Chọn sự việc, chi tiết tiêu
biểu trong bài văn tự sự”.
Gợi ý:
- Thế nào là sự việc, chi tiết tiêu biểu?
- Ý nghĩa của việc lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu?
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi đã tiến hành một loạt các
biện pháp nghiên cứu hứng thú học tập môn Văn ở lớp mình giảng dạy. Các biện
pháp nghiên cứu đã mang đến những kết quả như sau:
1. Kết quả từ quan sát thực tế
Cùng với thăm dò tôi cũng đã quan sát thực tế từ hai 4 lớp tôi đang trực
tiếp giảng dạy trong năm học 2014 – 2015 là: 10A1, 10A2, 10A3, 11A7 và dự
21
giờ, tham khảo y kiến từ các lớp dạy của các thầy cô trong tổ dạy lớp 12.
22
27
Số HS
2013-2014
Cuối năm
31
Trong học kì I năm học 2014-2015, tôi đã tiếp tục vận dụng sáng kiến kinh
nghiệm này vào thực tế giảng dạy. Qua điều tra thăm dò của 2 lớp 11A7, 10A3 mà
tôi phụ trách giảng dạy như sau:
Năm học
Số HS
khảo sát
Hứng thú
với giải
pháp của
đề tài
Hứng thú
bộ
môn(Thích)
2014-2015
Trên cơ sở những điều đã đạt được của đề tài nghiên cứu, tôi xin đề xuất một
số ý kiến sau:
* Đối với nhà trường:
- Ban Giám hiệu nên thường xuyên dự giờ các giáo viên để đánh giá cùng
với giáo viên trong tổ. Tổ chức nhiều hơn các buổi hội thảo để các tổ trao đổi nhiều
hơn kinh nghiệm giảng dạy, nhất là thời gian tới thực hiện chủ trương cải cách giáo
dục về sách giáo khoa và thi cử.
- Cần đầu tư thêm tài liệu tham khảo về môn Ngữ văn để giáo viên và học
sinh dễ dàng tiếp cận với tri thức mới.
* Đối với tổ chuyên môn:
- Đa dạng hơn về nội dung trong sinh hoạt tổ chuyên môn, trao đổi, thảo
luận về những bài dạy còn nhiều tranh cãi hay khó dạy.
- Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa sinh động, hấp dẫn, đa dạng cho
học sinh nhằm gây hứng thú cho học sinh đối với bộ môn Ngữ văn.
* Đối với giáo viên Ngữ văn:
- Thường xuyên học hỏi, tìm tòi nghiên cứu các phương pháp dạy học Văn
mới để ngày càng tạo được hứng thú cho học sinh học môn Văn, nhất là việc sử
dụng công nghệ thông tin.
Trong quá trình xây dựng đề tài, do hạn chế về năng lực, tư liệu và vốn
sống, ắt hẳn không tránh khỏi những thiếu sót nhưng hi vọng đề tài này sẽ góp
phần làm thay đổi không khí lớp học, làm cho học sinh ngày càng yêu mến và
hứng thú học tập môn Ngữ văn hơn. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp
của quý đồng nghiệp để đề tài sáng kiến kinh nghiệm này đầy đủ hơn và có thể áp
dụng có hiệu quả trong quá trình dạy và học môn Ngữ văn.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1+2 - NXBGD, 2006
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1+2 - NXBGD, 2006
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1+2 - NXBGD, 2006
3. Chuẩn kiến thức - kĩ năng Ngữ văn 10, 11, 12 - NXBGD, 2010
4. Từ điển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2005
24
Năm học: 2014 - 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú trong giờ học Ngữ văn cho học sinh trường THPT
Nguyễn Đình Chiểu
Họ và tên tác giả: Lê Thị Bích
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Văn, trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục
¨
Phương pháp dạy học bộ môn ¨
Phương pháp giáo dục ¨
Lĩnh vực khác
¨
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng tại: Tại đơn vị ¨Trong ngành ¨
1. Tính mới
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn ¨
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn ¨
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình nay
tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị ¨
2. Hiệu quả
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao ¨
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả
cao ¨
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao ¨
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao ¨
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình nay