BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
============
TRẦN THỊ THU PHƢƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NGHI THỨC LỜI NÓI
CHO HS TIỂU HỌC
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số
: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Phương Nga
HÀ NỘI, NĂM 2015
Lời cảm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn
GS. TS. Lê Phương Nga, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn các khoa học
xã hội, Khoa Giáo dục Tiểu học, phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã góp ý, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân, những người đã
động viên, khích lệ tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua.
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 15
CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NGHI
THỨC LỜI NÓI (NTLN) TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HS TIỂU
HỌC ................................................................................................................ 15
1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 15
1.1. Khái niệm về NTLN................................................................................. 15
1.2. Lí thuyết hành vi ngôn ngữ và NTLN Tiếng việt .................................... 17
1.2.1. Nhận diện các NTLN Tiếng Việt dựa vào lí thuyết hành vi ngôn ngữ. . 17
1.2.2. Đặc điểm các NTLN Tiếng Việt và việc rèn luyện NTLN ở tiểu học .... 19
1.3.1. Kĩ năng xác định các nhân tố giao tiếp ................................................ 22
1.3.3. Kĩ năng sử dụng NTLN mở đầu và kết thúc cuộc thoại ........................ 23
1.3.4. Kĩ năng tạo lập quan hệ và duy trì giao tiếp ........................................ 24
1.4. Văn hóa giao tiếp và phép lịch sự thể hiện qua NTLN ............................ 25
1.5. Cơ sở tâm lí - ngôn ngữ học ..................................................................... 26
2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 27
2.1. Chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học NTLN cho HS tiểu
học ................................................................................................................... 27
2.1.1. Nội dung dạy học NTLN trong chương trình, sách giáo khoa và các tài
liệu dạy học ..................................................................................................... 27
2.1.2. Những đóng góp và những điểm nên điều chỉnh, bổ sung .................... 32
2.2. Thực trạng dạy học NTLN trong nhà trường ........................................... 36
2.2.1. Việc giảng dạy của GV.......................................................................... 36
2.2.2. Việc học tập của HS .............................................................................. 38
2.3. Thực trạng rèn luyện NTLN ở gia đình và xã hội ................................... 39
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 41
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NTLN CHO HS TIỂU HỌC
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT....................................................................... 44
2.1. Những nguyên tắc dạy học NTLN cho HS tiểu học trong môn Tiếng Việt
KẾT LUẬN .................................................................................................. 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 117
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới giáo dục toàn diện cho học sinh ( HS) tiểu học hiện
nay, việc đổi mới phương pháp dạy học ở bậc phổ thông, đặc biệt là đổi mới ở
tiểu học có một vai trò rất quan trọng. Một mặt nó tạo tiền đề cho các hoạt động
đổi mới giáo dục ở cấp học, mặt khác nó góp phần quan trọng trong việc tạo ra
một nền móng học vấn phổ thông cho người lao động Việt Nam trong bối cảnh
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế của chúng ta với kinh tế toàn cầu.
Dạy học nghi thức lời nói( NTLN) là một nội dung mới của chương trình
(CT) Tiếng Việt tiểu học năm 2000. Lần đầu tiên chương trình dạy học môn
Tiếng Việt đã đưa NTLN thành một nội dung học tập. Bản chất của dạy học
NTLN là hình thành và phát triển cho HS kĩ năng tiếp nhận và sản sinh ngôn
bản trong môi trường hoạt động của lứa tuổi, góp phần thực hiện mục đích
dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp mà chương trình tiểu học hiện
nay đã đề ra.
1.1. Hoạt động giao tiếp là hoạt động đặc trưng của con người. Dù ở
ngành nghề nào con người cũng tiến hành các hoạt động giao tiếp. Người ta
sử dụng ngôn ngữ một cách chọn lọc để diễn đạt ý của mình nhằm giúp
người khác biết và hiểu những thông tin đến đối tượng cần giao tiếp, nhằm
đạt đến thành công trong công việc. Vì vậy dạy tiếng không thể tách rời với
dạy giao tiếp. Bên cạnh đó dạy giao tiếp cũng chính là dạy tư duy. Chính vì
vậy dạy học Tiếng việt theo định hướng giao tiếp không chỉ là dạy tri thức
tiếng Việt mà bao gồm dạy cách học, cách nghĩ, thay đổi thái độ người học,
học những giá trị xã hội và thậm chí là thay đổi cá nhân người học. Theo
đó việc rèn kĩ năng sử dụng lời nói trong giao tiếp sẽ giúp học HS sử dụng
buộc quan tâm. Việc nói đúng tiếng Việt của mỗi HS được bắt đầu từ đâu?
Có thể nói rằng, khi trẻ cất tiếng nói đầu tiên đã được cha mẹ, người thân
2
hướng dẫn cách nói. Nhưng việc hướng dẫn trẻ nói tiếng Việt đúng, chuẩn,có
phương pháp, có hệ thống thì trẻ mới được học khi trẻ bước vào trường học.
Khi đến trường, các em gia nhập vào một phạm vi giao tiếp mới có tổ chức: xã
hội- lớp học (giao tiếp với thầy cô giáo, với bạn bè). Các em không thể nói “ứ
ừ” hay lí nhí gật đầu như nói với bố mẹ. Hơn thế nữa, các em còn hiểu rằng có
những lời nói là hay, là đẹp và có những lời nói là không hay, không đẹp.
Để trả lời câu hỏi của cô giáo “Con học bài chưa?”, các em không được
nói “học rồi”. Các em phải hiểu và biết thực hiện nói thành câu và thể hiện sự
lễ phép “Thưa cô, con học bài rồi ạ!”. Hoặc trong giao tiếp với mọi người
xung quanh, các em phải biết rằng khi được ai giúp đỡ phải biết cảm ơn,
khimắc lỗi (hay phạm khuyết điểm) thì cần phải biết xin lỗi. Chính vì vậy
việc dạy sử dụng các NTLN được dạy từ rất sớm.
1.4.Việc rèn kĩ năng nói cho HS tiểu học nói chung và rèn luyện sử
dụng các NTLN được chương trình và sách giáo khoa hiện hành quan tâm
nhiều hơn so với chương trình và sách giáo khoa trước đây. Vì NTLN là
lần đầu tiên được dạy ở nhà trường theo chương trình và có tính hệ thống
nên các GV không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình tổ chức các
hoạt động dạy học.Bên cạnh đó,với vốn ngôn ngữ và vốn kinh nghiệm sống
còn ít ỏi, HS tiểu học rất khó khăn khi học nội dung này.Qua quá trình
quan sát việc sử dụng ngôn ngữ hội thoại hàng ngày và khả năng tương tác
hội thoại trong quá trình trực tiếp giảng dạy các em, tôi thấy khả năng giao
tiếp và sử dụng các NTLN của các em còn yếu. Các em mới chỉ sử dụng
được các khẩu ngữ theo thói quen và kinh nghiệm cá nhân. Thực tế này cho
thấy việc rèn kĩ năng nói nói chung và rèn luyện NTLN cho HS tiểu học
đề chung của NTLN và miêu tả, giải thích tương đối tỉ mỉ các công thức,
thành ngữ dùng trong các tình huống khác nhau. Đặc trưng của cuốn sách này
4
chính là giải thích cách dùng các đơn vị NTLN. Bên cạnh những vấn đề lí
thuyết, công trình này chủ yếu miêu tả cách dùng NTLN Nga trên các lĩnh
vực giao tiếp khác nhau.
Cuốn sách thứ hai là “Nghi thức lời nói Nga” - một tài liệu viết chung
của A.A. Akisina và N.I.Phơrơnopxkaia (1981). Mục đích của cuốn sách này
là giúp người học trau dồi thêm kĩ năng trong giao tiếp bằng cách liệt kê một
loạt các NTLN và đưa ra các tình huống thường được sử dụng lời nói đó.
Trong cuốn sách có nhiều bài tập tình huống đa dạng, phong phú, những biểu
bảng về cách diễn đạt các NTLN có thể giúp phát triển sắc thái, văn phong
ngôn ngữ và lời nói Nga.
Rải rác trên các tài liệu về hội thoại ngôn ngữ và nghiên cứu ngữ nghĩa
của các tác giả Anh -Mĩ như J.L.Austin, George Yule, H.P.Grice, J.Lyons,
J.R.Searls, W.J.Ball… có thể thấy nhiều chương mục có liên quan trực tiếp
hay gián tiếp đến đề tài NTLN.
Ở trong nước, vấn đề NTLN là một vấn đề còn nhiều mới mẻ, tuy nhiên
nó cũng đang được quan tâm đúng mực trong một số công trình nghiên cứu
ngôn ngữ học, văn hoá học. Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ
Hữu Châu ( 1987) đã đưa ra bảng phân loại các chức năng của tín hiệu bao
gồm: Chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn và chức
năng cú học. Cách phân loại này giúp chúng ta phân xuất được các phát ngôn
NTLN trong toàn bộ thông điệp. Đặc biệt,trong công trình “Đại cương ngôn
ngữ học”, với chương 3 “Hành vi ngôn ngữ”, Đỗ Hữu Châu đã phân tích các
điều kiện (điều kiện may mắn) của một số hành vi ngôn ngữ. Đây cũng là một
sự gợi ý cho chúng tôi trong quá trình miêu tả, phân loại các NTLN gắn với
2001), “Sự kiện lời nói xin phép” (Đào Nguyên Phúc – 2003), “Hành vi cho,
tặng trong sự kiện lời nói cho, tặng” (Chử Thị Bích – 2001), “Một số đặc
điểm ngôn ngữ - văn hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt”
(Nguyễn Phương Chi – 2005), “Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao
6
tiếp tiếng Việt” (Dương Tuyết Hạnh – 2007), “Sự kiện lời nói cam kết trong hội
thoại” (Vũ Tố Nga – 2010), “Hành động ngôn từ giao tiếp và sự tri nhận” (Đặng
Thị Hảo Tâm – 2010)… Nhìn vào thực tế trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên
cứu các NTLN trong hoạt động giao tiếp còn khá mới mẻ, không chỉ ở Việt Nam
mà cả trên thế giới, như tác giả Nguyễn Quang đã từng nhận xét:
“Điều dễ nhận thấy là, do ảnh hưởng của vốn kiến thức nền khác nhau,
với cách tiếp cận khác nhau, với chủ đích nghiên cứu khác nhau…các công
trình này đều ở các mức độ khác nhau, mang tính cục bộ hoặc nhấn mạnh vào
một khía cạnh nào đó, hoặc trình bày một cách ít nhiều tản mạn không hệ
thống, hoặc chỉ là “quãng giữa” của quá trình nghiên cứu nhằm đạt đến đích
nghiên cứu”.
Do NTLN trong các ngôn ngữ đậm đặc tính văn hóa dân tộc nên chúng
đã được nhiều nhà nghiên cứu khai thác. Trong nhiều tài liệu, các tác giả đã
miêu tả, nhận diện các khuôn mẫu NTLN, hiện thực hóa những hành vi ngôn
ngữ trên các phạm trù giao tiếp thông thường, trên bình diện ngôn ngữ học,
ngữ nghĩa và ngữ dụng học. Các công trình này xuất phát từ phổ niệm “ngôn
ngữ - tư duy – hiện thực khách quan”, lấy đối chiếu là cơ sở, tiếng Anh (hoặc
tiếng Nga – Nhật) hoặc ngôn ngữ các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam là tiếng
được đối chiếu, tiếng Việt là tiếng đối chiếu. Do đó, các công trình không chỉ
dừng lại ở việc miêu tả, phân loại một số phát ngôn lời nói đối thoại trên bình
diện tổ chức cú pháp, các khuôn mẫu tương ứng và không tương ứng trong
hai ngôn ngữ, mà còn xem xét đến những điều kiện dùng của chúng, những
Ví dụ, ở Hàn Quốc, chuẩn cần đạt kĩ năng nói đối với HS lớp 1 là:“Biết dùng
các từ ngữ để giới thiệu một cách đơn giản về bản thân trong đời sống hàng
ngày. Biết nói những câu chào đơn giản với bạn bè, với các thành viên trong
gia đình, những người quen, các thầy cô giáo và những người khác trong đời
sống hàng ngày”, đối với HS lớp 4 là “Sử dụng các từ ngữ dùng để thể hiện
sự ủng hộ, sự từ chối, hoặc sự hòa giải, lưu tâm đến tình huống / hoàn cảnh
8
của người nghe”[13]. Ở Trung Quốc, Chính phủ yêu cầu đưa vào chương
trình giáo dục cơ sở các tiết học về “cách cư xử văn minh”. Một trong số
những bài học chính cho HS tiểu học là phải nói năng lịch sự, tuân thủ quy tắc
giao thông, tôn trọng người già và cộng đồng người thiểu số. Trẻ lớn tuổi hơn
sẽ được học về phép xã giao khi nói chuyện điện thoại, viết thư và cách trò
chuyện lịch sự với cả người Trung Quốc lẫn người nước ngoài. Còn ở bang
California - Mĩ, trẻ em ngay từ khi còn nhỏ đã rất tự tin trong việc trình bày
bằng lời nói những suy nghĩ, ý tưởng của mình trước người khác bởi các em
đã được rèn luyện kĩ năng nghe và nói ngay từ những năm học đầu tiên và kĩ
năng nói có mặt ở 3 trong 4 yêu cầu cần đạt của các lớp bậc tiểu học: chiến
lược nghe và nói, nghe hiểu, tổ chức và trình bày, thực hành nói. Trong chiến
lược nghe và nói vấn đề ngữ điệu lại rất được quan tâm và chú ý. HS phải biết
kết hợp lời nói, điệu bộ, cử chỉ, động tác với việc trình bày suy nghĩ, ý tưởng
của mình.
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho HS nói chung và giáo
dục rèn luyện NTLN nói riêng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Những
tài liệu nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến phương pháp dạy học NTLN ở
nhà trường phổ thông theo chúng tôi còn ít. Tìm hiểu tình hình nghiên cứu về
vấn đề dạy học NTLN, đến nay chúng tôi được biết đến cuốn sách “Một số
vấn đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí. Tác
tiểu học, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện
tập. Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói
như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nói độc thoại, nói hội thoại trong đó có
kĩ năng sử dụng NTLN cho HS tiểu học.
Xét về phạm vi tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể
trên đã bàn đến mục tiêu, nội dung, biện pháp phát triển NTLN hoặc rèn kĩ
năng sử dụng NTLN cho HS song các NTLN và cách sử dụng các NTLN ấy
mới chỉ được nói một cách khái quát ở chương cuối của các công trình hoặc
10
chỉ được đề cập có giới hạn về một vài khuôn mẫu trong các bài viết mà chưa
được đặt thành một vấn đề lớn để hình thành nên một công trình nghiên cứu
về rèn luyện NTLN cho HS một cách hoàn chỉnh. Do vậy, việc nghiên cứu để
tìm biện pháp nâng cao hiệu quả kĩ năng sử dụng NTLN cho HS tiểu học là
một việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ cho GV trong quá trình dạy học nội dung
mới này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích đề xuất được một số biện pháp
dạy học NTLN cho HS tiểu học, nhằm góp phần nâng cao năng lực sử dụng
tiếng Việt trong giao tiếp cho các em.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản về NTLN, hoạt động giao tiếp, văn
hóa giao tiếp và phép lịch sự trong dạy học NTLN Tiếng Việt ở tiểu học.
- Tìm hiểu thực tiễn tổ chức các hoạt động rèn kĩ năng sử dụng NTLN
đồng thời tìm hiểu thực trạng sử dụng các NTLN trong thực tế giao tiếp của
HS tiểu học.
- Xây dựng các nguyên tắc dạy học NTLN, đề xuất một số phương pháp
học tiếng mẹ đẻ... và kết quả khảo sát thực trạng sử dụng NTLN của HS tiểu
học trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội hiện nay.
- Đề xuất được một số biện pháp dạy học các kiểu bài rèn luyện NTLN
hiệu quả hơn so với biện pháp dạy học của GV tiểu học hiện nay. Đồng thời
xây dựng và hệ thống hóa các bài tập rèn luyện NTLN nhằm tăng cường cơ
hội rèn luyện các NTLN cho HS.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ giúp GV tiểu học nâng cao hiệu
quả dạy học NTLN theo CT và SGK hiện nay. Hy vọng luận văn này sẽ góp một
ý kiến nhỏ bé trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học NTLN trong
chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học trong tương lai.
12
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện bằng một số phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau: thống kê - phân loại ; điều tra - khảo sát ; phân tích- tổng hợp
7.1. Phương pháp thống kê – phân loại được sử dụng trong quá trình tìm
hiểu nội dung, phương pháp dạy học qua sách giáo khoa tiếng Việt tiểu
học, hoặc điều tra năng lực giao tiếp của HS.
7.2. Phương pháp điều tra khảo sát được sử dụng trong quá trình dạy
học, dự giờ hoặc thông qua viêc khảo sát các bài tập làm văn của HS để
nhận xét thục tiễn dạy học về NTLN ở tiểu học. Kết quả điều tra, khảo sát là
cơ sở của những phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng NTLN cho HS tiểu
học được sử dụng trong đề tài.
7.3.Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng khi phân tích, lí
giải những vấn đề lí luận và thực tiễn đã đề cập trong đề tài như: lí thuyết
hội thoại, mối quan hệ của NTLN và tính lịch sự trong giao tiếp, bản sắc văn
hóa và phong tục tập quán được thể hiện trong NTLN,ưu điểm và tồn tại của
việc dạy học NTLN ở tiểu học .... Kết quả phân tích các hiện tượng cụ thể sẽ
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NGHI
THỨC LỜI NÓI (NTLN) TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HS TIỂU HỌC
1. Cơ sở lí luận
1.1. Khái niệm về NTLN
Trước đây, khi ngành ngữ dụng học còn ở giai đoạn phôi thai, giao tiếp,
quá trình giao tiếp, đặc biệt là mô hình giao tiếp được rất nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm như Shannon và Weaver (1949), Roman Jakobson (1960), John
Lyon (1978)… còn nghi thức giao tiếp nói chung và NTLN nói riêng lại là
một vấn đề còn bỏ ngỏ. Ngữ dụng học với cách xác định đối tượng là ngôn
ngữ trong hành chức đã mở ra một triển vọng lớn cho việc nghiên cứu ngôn
ngữ trong bối cảnh giao tiếp. Bối cảnh giao tiếp giờ đây không còn bó hẹp
trong phạm vi ngữ cảnh, tức là sự chi phối giữa các đơn vị ngôn ngữ, mà
được mở rộng đến các yếu tố trước đây vẫn được xem là vùng ngoại vi của
ngôn ngữ học.Và cùng với sự xuất hiện của hàng loạt cách tiếp cận liên
ngành, tất cả đều phản ánh một kì vọng chung là muốn nhận thức sâu sắc hơn,
toàn diện hơn vấn đề ngôn ngữ và con người, mà cốt lõi, suy cho cùng, là bản
thể của sự giao tiếp xã hội. Đây là vấn đề phức tạp bởi vì ngôn ngữ với tư
cách là phương tiện liên giao và liên nhân không còn là hệ thống tĩnh tại mà là
một hoạt động mang tính tương tác. Trong điều kiện đó, nghi thức giao tiếp
đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến.
Nghi thức giao tiếp là “những yêu cầu đòi hỏi có tính ước lệ cao trong cư
xử lẫn nhau của xã hội loài người được các thành viên trong một xã hội, một
nhóm người, một giai cấp nào đó chấp nhận và thực hiện khi giao tiếp” [1].
Mỗi dân tộc đều có các nghi thức giao tiếp riêng biệt mà các thành viên trong
cộng đồng phải chấp nhận và thực hiện đồng nhất.Việc tạo ra một phát ngôn
15
Như vậy có thể thấy, NTLN là những quy tắc và quy ước ứng xử bằng lời
trong những tình huống giao tiếp mang tính nghi thức, có liên quan đến đặc
điểm dân tộc, sự quy định của xã hội, thói quen, phong tục tập quán lưu hành
trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Với cách hình dung này, có thể kể các
hành động ngôn ngữ như chào, giới thiệu, cám ơn, xin lỗi. yêu cầu, khen, chê,
từ chối... đều thuộc về NTLN. Số lượng hành động ngôn ngữ mang tính nghi
thức là rất lớn và việc tìm hiểu về NTLN Tiếng Việt cũng còn nhiều vấn đề
cần nghiên cứu, Đúng như GS.TS Lý Toàn Thắng đã nhận xét: “Vấn đề NTLN
là một trong những vấn đề thuộc loại khó nhất của Việt ngữ học”.
1.2. Lí thuyết hành vi ngôn ngữ và NTLN Tiếng Việt
1.2.1. Nhận diện các NTLN Tiếng Việt dựa vào lí thuyết hành vi ngôn ngữ.
Các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và các thao tác của nó chịu sự
kiểm tra ngặt nghèo cũng như chịu ảnh hưởng từ các nguyên tắc thẩm mĩ và
các quy ước xã hội. Xã hội đặt ra những hình thức nghi lễ ứng xử (trong đó có
cả những ứng xử lời nói) mỗi khi thiết lập và duy trì sự tiếp xúc với người đối
thoại và đòi hỏi những người bản ngữ phải tuân thủ các quy tắc ấy. Để giao
tiếp được với nhau, con người phải tuân theo những nghi thức nhất định theo
quy ước của xã hội, chẳng hạn như trước khi vào câu chuyện thì phải chào
hỏi, khi nhận ân huệ từ người khác thì phải cám ơn, khi mắc lỗi thì phải xin
lỗi… NTLN chính là nơi bộc lộ rõ rệt nhất tính riêng biệt của văn hóa, tâm lí
dân tộc, bởi tính quy ước chặt chẽ, nghiêm ngặt của nó. NTLN với tư cách
hành vi giao tiếp xã hội, “thực hiện các hành vi nói năng dưới các hình thức
đối thoại, độc thoại với những tham số về ngôn ngữ và tâm lí”. Trong NTLN,
“tính xã hội” của ngôn ngữ vô cùng đậm nét, bởi người giao tiếp không hành
động cho riêng mình mà cho quan hệ của họ với người xung quanh.
NTLN gắn chặt với lí thuyết hành vi ngôn ngữ, còn gọi là lí thuyết hoạt
động lời nói, mà người mở đầu là J.L.Austin và sau đó là J.Searle.
17
(5)Expositives: trình bày (khẳng định, phú định, nhận xét, báo cáo ý
kiến, tranh luận)
Mỗi một hành vi ngôn ngữ là một đơn vị giao tiếp. Đó là một chỉnh thể
gồm lời kích thích lời ứng đáp. NTLN nếu có trong một hành động ngôn ngữ
thì đó chỉ là một bộ phận góp phần làm đầy nội dung giao tiếp. NTLN là
những khuôn mẫu, khuôn hình có sẵn. Nhưng mỗi lần giao tiếp, người nói lại
tái lập, thiết kế, nhào nặn nó sao cho phù hợp với những điều kiện sau đây:
- Đúng chỗ nhất với hoàn cảnh giao tiếp.
- Thích hợp nhất với các nhân vật giao tiếp
- Quen thuộc nhất và ưa dùng nhất đối với người nói theo những dấu
hiệu, điều kiện khu biệt xã hội và cá nhân của mình
1.2.2. Đặc điểm các NTLN Tiếng Việt và việc rèn luyện NTLN ở tiểu học
Ở tiểu học, các em được học hầu hết các NTLN của Tiếng Việt. Các
NTLN cơ bản trong Tiếng Việt là các nghi thức phát ngôn. Nó xuất hiện
thường xuyên hàng ngày, gần gũi với chúng ta. Chúng ta nói chuyện gì, với ai
cũng rất cần những nghi thức đó.
Ví dụ: Cảm ơn, xin lỗi, hứa hẹn, chúc mừng, mời, động viên an ủi, tán
thành, chào hỏi….. NTLN có mặt trong giao tiếp hàng ngày. Nó rất đa dạng
và phong phú. Đối với mỗi cuộc giao tiếp đều có hoàn cảnh giao tiếp riêng,
nhân vật giao tiếp riêng, có hiện thực nói tới riêng với một nội dung giao tiếp
riêng thì đều có một NTLN riêng. Nói với người trên phải kính trọng, lễ phép
có NTLN khác với NTLN với bạn bè. Tùy tình huống giao tiếp phải có cách
nói năng cho phù hợp .
Dạy NTLN trong trường tiểu học tức là đưa HS tiếp cận với thực tế, giúp
các em thực hành, giải quyết các vấn đề thiết thực trong cuộc sống. Có rất
nhiều em lúng túng khi nói chuyện với người khác (người lớn, bạn bè, em
nhỏ…). Đặc biệt là có những em không biết nói gì, có em dùng từ sai, nói sai,