BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
TRƢƠNG THỊ THÙY
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở
HUYỆN QUAN HÓA -TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
Chuyên ngành:
Triết học
Mã số:
60220301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đăng Sinh
Hà Nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Trần Đăng Sinh - Người
thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Em xin cảm ơn bác Cao Bằng Nghĩa – Thành viên mạng lưới Bảo tồn
văn hóa Thái Thanh Hóa đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình làm
luận văn.
1.2.3. Sự cần thiết bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở
huyện Quan Hóa hiện nay ............................................................................... 56
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 58
Chương 2. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
THÁI Ở HUYỆN QUAN HÓA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP .............................................................................................................. 60
2.1. Thực trạng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái ở huyện
Quan hóa hiện nay ........................................................................................... 60
2.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hoá của người Thái ở huyện Quan Hóa hiện nay ........................................... 12
2.1.2. Những kết quả và hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc Thái.............................................................................................. 82
2.2. Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở huyện Quan Hóa hiện nay ............................ 88
2.2.1. Phương hướng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của người Thái ở
huyện Quan Hóa hiện nay ............................................................................... 89
2.2.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá người Thái ở huyện
Quan Hóa hiện nay ......................................................................................... 94
Kết luận chương 2 ........................................................................................ 107
KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 113
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc
văn hóa khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc
Việt Nam. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho nên đã
vấn đề mang ý nghĩa quốc tế và được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan
tâm. Ở Việt Nam, các Hội nghị về Thái học do Chương trình Thái học thuộc
Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa (nay là Viện Việt Nam
học và khoa học phát triển thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) tổ chức vào các
năm 1991, 1998, 2002, 2006 và 2009; trên thế giới, các Hội nghị quốc tế về
Thái học được tổ chức trong những thập kỷ gần đây (năm 1981 ở Ấn Độ, năm
1984 ở Thái Lan, năm 1987 ở Ôxtrâylia, năm 1990 ở Trung Quốc, năm 1993
ở Anh, năm 1996 ở Thái Lan, năm 1999 ở Hà Lan, năm 2002 ở Thái Lan,
năm 2005 ở Mỹ và năm 2008 ở Thái Lan) đã chứng minh điều đó.
So với toàn bộ cư dân Thái ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc, người
Thái ở Việt Nam không nhiều: 1.328.725 người, nhưng do địa bàn bị chia cắt,
lại chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa từ nhiều hướng, cũng như văn
hóa của các tộc người cư trú xen kẽ, nên sự khác biệt giữa các nhóm địa
phương là điều không tránh khỏi. Nhiệm vụ của giới nghiên cứu khoa học
nước ta hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống tất cả các nhóm cư
dân Thái trên địa bàn cả nước, cũng như ở các địa phương. So với toàn bộ cư
dân Thái ở Việt Nam, người Thái ở miền núi Thanh Hóa và huyện Quan Hóa
có nhiều nét tương đồng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt, nên việc nghiên
cứu người Thái ở đây vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
với mong muốn vận dụng những kiến thức lý luận đã tiếp thu trong thời gian
học tập tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Huyện Quan Hóa - tỉnh Thanh
Hóa hiện nay " làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Triết học.
2
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các vấn đề về văn hóa, bản sắc văn hóa cũng như văn hóa các dân tộc đã
cổ tích; 2. Truyện thơ, trường ca, trò diễn, dân ca; 3. Một số luật lệ của người
Thái ở mường Ca Da( nay thuộc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa)
Vi Văn Biên(2006): “Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và
Nghệ An” ( Nxb văn hóa dân tộc). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Khái quát
về tộc người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An; 2. Văn hóa ẩm thực; 3. Làng
bản- nhà cửa; 4. Trang phục; 5. Công cụ lao động và phương tiện vận chuyển.
Lê Huy Dũng(2000): “Tín ngưỡng dân gian của người Thái ở Thường
xuân Thanh hóa” (Luận văn Cử nhân Sử học, chuyên ngành Dân tộc học, Đại
học KHXH&nhân văn Hà nội). Đây là luận văn cử nhân chuyên nghành dân
tộc học, nội dung chính của luận văn trình bày về quan niệm và vai trò của
các hình thức tín ngưỡng dân gian trong đời sống của người Thái...
Cầm Trọng - Phan Hữu Dật (1995): “Văn hóa Thái ở Việt Nam”(Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Văn hóa của
người Thái ở Việt Nam; 2. Văn hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông
Nam Á; 3. Văn hóa Thái - một loại hình văn hóa thung lũng; 4. Văn hóa Thái
- một loại hình văn hóa kỹ thuật tiền công nghiệp; 5. Văn hóa thiết chế xã hội;
6. Hệ thống tư tưởng và tri thức; 7. Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn
hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơ Me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở
miền Bắc Việt Nam. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu công phu
nghiêm túc, trình bày văn hóa của người Thái. Cuốn sách là một nguồn tư liệu
quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về người Thái
Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng(1999): “Luật tục của người Thái ở Việt
Nam”(Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội). Nội dung cuốn sách trình bày: 1. Người
Thái và luật tục Thái; 2. Các văn bản luật tục Thái ở Tây Bắc. Cuốn sách là
một tư liệu quý, một tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu phương thức
tổ chức và quản lý xã hội của người Thái.
4
Thứ hai, hiện nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu
về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái ở huyện Quan Hóa,
tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng bản sắc văn hóa của người Thái ở huyện
Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, luận văn đưa ra phương hướng, giải pháp góp
phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa ấy trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu từ góc độ triết học bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở
huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nét văn hóa đặc trưng tạo nên giá trị văn hóa
người Thái ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ 1986 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích - tổng hợp; logic -lịch sử; so sánh, thống kê, phương
pháp nghiên cứu liên nghành triết học - văn hóa.
Trên cơ sở nghiên cứu về bản sắc văn hóa của người Thái ở huyện Quan
Hóa, tỉnh Thanh Hóa, phân tích thực trạng và từ đó đưa ra phương hướng giải
pháp góp phần giữ gìn và phát huy tốt hơn nữa bản sắc văn hóa ấy trong giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
5.1. Những luận điểm cơ bản
Một là, phân tích các nét văn hóa của người Thái ở huyện Quan Hóa và
chỉ ra bản sắc văn hóa đặc trưng của người Thái ở huyện Quan Hóa.
6
có hàng trăm cách quan niệm, định nghĩa về văn hoá. Tuỳ theo từng giai
đoạn, từng quốc gia, dân tộc và dưới các góc độ về động cơ, mục đích, đối
tượng, cách tiếp cận văn hoá mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau
về văn hoá.
Thuật ngữ "văn hóa" xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại
(xuất phát từ gốc chữ La tinh "Cultura" - có nghĩa là trồng trọt, canh tác). Về
sau được vận dụng và chuyển thành "vun trồng trí tuệ". Như vậy, có thể hiểu
từ "Cultura" theo nghĩa bóng, đó là chăm nom, giáo dục, đào tạo khả năng
con người về mọi mặt. Tuy nhiên, đến nửa sau thế kỷ XVIII, thuật ngữ
"Cultura" mới thực sự trở thành một quan niệm, một thuật ngữ với tính cách
khoa học. Xuất phát từ những góc độ tiếp cận, nghiên cứu khác nhau, những
quan niệm ấy cũng có sự biến đổi theo thời gian và theo tiến trình lịch sử xã hội.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nghiên cứu và có nhiều kiến giải
sâu sắc và đặt nền móng cho quan niệm Mác - xít về văn hóa. C.Mác,
Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việc khẳng định con người vừa là chủ thể,
vừa là sản phẩm của quá trình phát triển văn hóa. Thông qua hoạt động thực
tiễn, con người đã tạo ra văn hóa, đồng thời tạo ra chính bản thân mình, phát
8
triển năng lực tiềm tàng của bản thân. Văn hóa gắn với năng lực sáng tạo của
con người và sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động hay chính là sự thăng hoa
của sản xuất vật chất, hành vi trên của con người là văn hóa, các vật phẩm do
con người làm ra đều mang dấu ấn của con người và đến lượt nó, nó tác động
trở lại bồi đắp tính người. C.Mác viết: "Một tác phẩm nghệ thuật, cũng như
mọi sản phẩm khác tạo một công chúng nghệ thuật và có khả năng thưởng
thức cái đẹp. Bởi vậy, sản xuất không chỉ sản xuất ra vật phẩm cho chủ thể
mà còn sản xuất ra chủ thể vật phẩm" [5, tr.50]. Trong triết học, mỹ học Mác
- xít, khái niệm văn hóa được xác định trong mối quan hệ biện chứng với con
giai đoạn cụ thể và luôn hướng tới xây dựng một nền văn hóa phục vụ nhân
dân. Cuốn Đề cương văn hóa của Đảng ra đời năm 1943 đã khẳng định đường
lối văn hóa của Đảng đó là nền văn hóa mang nội dung: dân tộc, khoa học và
đại chúng. Đảm bảo tính dân tộc tức là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền
thống của văn hóa dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt
quá trình tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa. Tại Hội nghị Trung ương
5 khóa VIII quan điểm đó được cụ thể hóa trong Nghị quyết "Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Đến Đại
hội XI, Nghị quyết Đại hội một lần nữa khẳng định: "Xây dựng nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển xã hội".
Như vậy, văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa, hai cấp
độ khác nhau: Ở phạm vi hẹp, văn hóa của dân tộc đồng nghĩa với văn hóa
của một tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người là một phạm vi
của văn hóa nói chung. Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của
cả cộng đồng người sống trong cùng một quốc gia.
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng
như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ
của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán
riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó. Ở các quốc gia đa
12
dân tộc, văn hóa các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau nên nét chung của
văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có
những giá trị riêng của nó.
Giá trị văn hóa “ là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so
sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để
xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống,
đạo đức, các quy chuẩn thẩm mỹ làm thành những nét đặc thù trong văn hóa
của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, mỗi nền văn hóa bao giờ cũng tàng chứa
những tố chất đặc sắc, tạo nên nét riêng của mình đó là bản sắc. Cái bản sắc
đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng ngàn đời của dân tộc, là căn cước
để nhận dạng nó trong hàng trăm ngàn nền văn hóa, là bộ gien để di truyền
bản sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau. Bản sắc văn hóa là cái
bảo đảm cho thế ổn định và trường tồn của một nền văn hóa.
Như vậy, có thể hiểu bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, nội dung, bản chất
của một nền văn hóa riêng vốn có của một nền văn hóa của một dân tộc.
Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và
tinh thần, vật thể và phi vật thể. Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính
điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn
khác nhau của một dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trải qua
những thăng trầm biến cố của lịch sử nó cũng không những không mất đi, mà
cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù hợp của
văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho dân tộc mình, làm
cho nó luôn là nó chứ không phải cái khác.
Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc. Nó là
hạt nhân bền vững nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này
sang đời khác. Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình. Bởi
vậy, khi đề cập đến vấn đề bản sắc văn hóa của một dân tộc, một quốc gia nào
đó chúng ta cần phải nhận thấy nó ở sự thống nhất giữa cái đặc thù và cái phổ
14
biến, cái chung và sắc thái riêng trong tiến trình phát triển lịch sử. Bản sắc
văn hóa cũng là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng( văn
hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại). Mỗi dân tộc trong quá trình
giao lưu văn hóa sẽ cống hiến những gì là đặc sắc của mình vào kho tàng văn
hóa chung. Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị của mình,
cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động
kinh tế. Vì thế, hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu như một
khái niệm mở và phát triển. Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời
sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ, các dân tộc Việt Nam. Nghị
quyết hội nghị BCHTW khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:“ Bản sắc dân tộc bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và
giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc. Bản
sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân
tộc độc đáo”[19, tr.90].
Bản sắc văn hóa là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sứ sống của
từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa. Truyền thống văn
hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát
huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa
các dân tộc. Khi đã được hình thành và trở thành truyền thống bản sắc văn
hóa mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh
hành vi của cá nhân và của cộng đồng. Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa
không phải là bất biến, cố định, hoặc khép kín mà nó luôn vận động và mang
tính lịch sử cụ thể. Bản sắc cũng vận động như bất cứ một hiện tượng nào, nó
không đứng im trong thời gian mà sẽ bổ sung những yếu tố nào đó một cách
rất tự nhiên. Do đó, ta bảo vệ bản sắc nhưng cũng không bảo thủ với bản sắc.
16
Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu để tạo lập
những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại. Truyền thống cũng
không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm
cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó,
năng, đứng vững lâu dài trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và
tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Hiện nay, quan điểm về bảo tồn và phát huy đang chiếm vị trí chủ đạo
trong giới học thuật cũng như giới quản lý văn hóa ở nhiều nước phát triển
trên thế giới. Các quan điểm không chú trọng vào việc tranh cãi nên bảo tồn
nguyên vẹn như thế nào, hay nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm
vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống
hiện đại.
Những phân tích trên cho thấy bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa là
mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, với Chủ tịch Hồ Chí Minh việc bảo tồn và phát huy không chỉ
đơn giản là lưu giữ lại không để mất đi giá trị văn hóa dân tộc mà còn phải là
sự kế thừa, phát huy cái cũ mà tốt đồng thời loại bỏ cái cũ mà xấu: “Cái gì cũ
mà xấu thì phải bỏ; cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi
cho hợp lý; cái gì mà tốt thì phải phát triển thêm; cái gì mới mà hay thì phải
làm thế nào để cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn” [3, tr.15 –
17]. Như vậy, trong vấn đề bảo tồn và phát huy luôn nảy sinh mối quan hệ
giữa cái “cũ” và cái “mới”. Muốn làm tốt công tác này cần phải tránh việc
“phục cổ”, “nệ cổ” mà phát triển cái mới, hớp lý trên cơ sở kế thừa những cái
cũ mà tốt thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế vững chắc, một nền tảng
văn hóa bền vững.
Từ năm 1943 cho đến Đại Hội IX và Đại Hội X, với chủ trương xây dựng
nền văn hóa mới, nền văn hóa Dân tộc – Khoa học – Đại chúng. Đảng ta đã
thực hiện một cách nhất quán đường lối văn hóa và luôn đề cao tính chất dân
18
tộc của văn hóa. Điều đó thể hiện rõ trong các văn bản được ban hành về vấn
đề nội dung bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
Nguồn gốc dân tộc
Theo những ghi chép trong các tập sử thi, người Thái thì họ thiên di cư từ
Tây Nam, Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt Nam với nhiều đợt kể từ thế
kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIV. Trong đó, có ba đợt thiên di lớn vào thế kỷ thứ
IX đến thế kỷ thứ XI.
Có ý kiến cho rằng, ngành Thái Trắng và bộ phận Thái Đen ở Mường
Thanh có nguồn gốc bản địa, tổ tiên của họ là người Tày - Thái cổ. Vào đầu thế
kỷ I sau công nguyên, tổ tiên của người Tày - Thái cổ đã từng tham gia vào
việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của Thục An Dương Vương, sau đó một bộ
phận di cư sang phía Tây, tách khỏi bộ phận gốc là người Tày hiện nay.
Còn bộ phận Thái đen có mặt đầu tiên tại Mường Lò (Văn Chấn - Yên
Bái), là con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần, gốc từ Vân Nam (Trung
Quốc) di cư sang. Vì vậy, người Thái Đen ở Thuận Châu luôn coi Mường
Lò là "quê cha đất tổ". Đến thế kỷ thứ XII, thủ lĩnh Lạng Chương, cháu
Tạo Xuông đưa quân từ Mường Lò tràn qua lưu vực sông Đà, sông Mã và
sông Nặm U, đánh chiếm và làm chủ Mường Thanh. Trong thời kỳ này,
trung tâm Thái Đen Mường Muổi (Thuận Châu) cũng phát triển quy tụ hai
thế lực Thái, Mường Lay và Mường Sang. Bắt đầu từ thế kỷ XV - XVI,
vùng Tây Bắc đã có 16 Châu Mường, nên được mang tên là "mười sáu
Châu Thái" (xíp hốc chụ tay). Sau hiệp ước Pháp - Thanh năm 1884, 6
Châu Mường đã bị cắt và nhập vào tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chỉ còn
lại 10 Châu Mường, nên xuất hiện tên gọi "thập châu" (xíp chụ tay).
Về tên gọi, người Thái tự gọi mình là Phủ tay hay Côn Tay đều có nghĩa
là người Thái. Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Thái ở Việt Nam có
1.550.423 người chiếm 1,8% dân số cả nước, riêng tỉnh Thanh Hóa tính đến
20
tháng 4 năm 2009 có 223.165 người chiếm 35,6 % trong các dân tộc thiểu số ở