Khóa luận quản trị văn phòng: Kỹ năng giao tiếp của công chức bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (qua khảo sát tại một số UBND cấp huyện trên địa bàn thành phố hà nội) - Pdf 37

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Sinh viên

Nguyễn Thu Hiền

SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

1

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

LỜI CẢM ƠN
Để có điều kiện thực hiện Khóa luận tốt nghiệp cũng như hoàn thành
chương trình học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, em đã nhận được những sự
chỉ dạy tận tình, những bài học, kinh nghiệm quý báu từ quý thầy, cô Khoa Quản
trị văn phòng cùng toàn thể thầy, cô đang công tác và giảng dạy tại Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Ban Giám hiệu cùng toàn thể thầy, cô Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã
tạo cho em một môi trường học tập tích cực.
- Th.S. Nguyễn Mạnh Cường – Trưởng khoa Quản trị văn phòng cùng toàn
thể thầy, cô Khoa Quản trị văn phòng đã truyền dạy cho em những kiến thức chuyên

Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

3

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác giải quyết các thủ tục hành chính là một trong trong những hoạt
động quan trọng của các cơ quan hành chính nhà nước. Nó vừa giúp thể hiện quyền
làm chủ của nhân dân cũng như giữ mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước và nhân
dân. Do đó, làm tốt công tác này là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi công chức,
góp phần phát huy bản chất của nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng như giải
quyết nhanh chóng công việc cho từng người dân, tạo lòng tin cho nhân dân.
Đối với hoạt động công vụ của công chức, giao tiếp là một hoạt động không
thể thiếu trong các hoạt động nghiệp vụ tại bộ phận Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
nói riêng và của UBND cấp huyện nói chung hiện nay. Do đó, kỹ năng giao tiếp
được coi là một trong những kỹ năng tiêu chuẩn cơ bản nhất của công chức. Vì vậy,
nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của người công chức là cơ sở để đánh giá hiệu quả
hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp là một hướng nghiên cứu mới. Hơn nữa,
đây là một vấn đề mà Đảng và Nhà nước cũng như toàn thể nhân dân đặc biệt quan
tâm. Do đó, nghiên cứu về vấn đề này trở nên cần thiết và có tính ứng dụng cao
trong thực tế.
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Kỹ năng giao tiếp của công chức

thị xã Trà Vinh” của Tô Vinh Hạnh và Nguyễn Chí Tâm, lớp CA07QVA, Trường
Đại học Trà Vinh.
(3) Luận án tiến sỹ “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức” của Nguyễn
Phương Huyền, Học viên khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Trong đó, nghiên cứu (1) và (2) có nội dung nghiên cứu chủ yếu về công tác
tiếp dân của công chức. Nghiên cứu (3) đề cập khá chi tiết về kỹ năng giao tiếp của
công chức được nghiên cứu tại một số cơ quan nhà nước, đề tài tập trung nghiên
cứu về các kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu, kỹ năng sử dụng có hiệu quả các phương
tiện giao tiếp và kỹ năng điều khiển cảm xúc.
Như vậy, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của công
chức vẫn chưa được thực hiện nhiều. Vì vậy, khóa luận này đi sâu vào nghiên cứu
kỹ năng giao tiếp với công dân của công chức tại bộ phận một cửa, trên cơ sở đó
đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của công chức Bộ
phận một cửa tại một số UBND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.
SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

5

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

3. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của công chức bộ phận
một cửa tại một số UBND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đề xuất
biện pháp nâng cao hiệu quả kỹ năng giao tiếp của công chức bộ phận một cửa tại
một số UBND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.


+ Phạm vi nghiên cứu về địa bàn: Khóa luận tập trung nghiên cứu trên
khách thể là công chức đang làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; nhân dân
đến giải quyết công việc tại một số UBND cấp huyện trên địa bàn huyện Đan
Phượng, huyện Phúc Thọ, thị xã Sơn Tây và quận Nam Từ Liêm.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất công chức. Giao tiếp
với công dân là một hoạt động thường xuyên, liên tục của công chức trong cơ quan

SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

7

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

hành chính nhà nước hiện nay. Giao tiếp với công dân ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu
quả giải quyết công việc cũng như xây dựng hình ảnh người công chức mẫu mực,
thân thiện. Tuy nhiên, việc hình thành kỹ năng chuẩn mực trong giao tiếp của người
công chức hiện nay chưa được quan tâm, dẫn tới tình trạng có một bộ phận công
chức chưa có kỹ năng giao tiếp đúng đắn, lệch chuẩn, ảnh hưởng tới hình ảnh của
người công chức và cơ quan. Do đó, việc nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của công
chức để tìm ra những biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp của người công chức là
rất cần thiết.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

dạng, trở nên cần thiết hơn bao giờ.
Giao tiếp là khái niệm được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, Do
những đặc trưng khác nhau của các ngành khoa hoc mà người ta hiểu về giao tiếp
cũng khác nhau và do đó có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp.
Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về giao tiếp, song nội dung đề
hàm chứa những dấu hiệu đặc trưng như: là hoạt động đặc thù của con người, được
con người ý thức tạo nên, và giao tiếp có tính mục đích, nội dung và sự trao đổi
thông tin.
Dựa trên những quan điểm nêu trên, cùng với phạm vi nghiên cứu của đề tài
này có thể hiểu khái niệm về giao tiếp như sau: Giao tiếp là hoạt động xác lập, vận
hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những nhu
cầu nhất định” (B-1)
1.1.1.2. Bản chất của giao tiếp
Dù đứng ở góc độ, mục đích nghiên cứu nào, khi đưa ra những quan niệm về
giao tiếp đều có những điểm chung nhất định thuộc về bản chất của giao tiếp. Do
đó, có thể phân tích bản chất của giao tiếp gồm 2 nội dung sau:
(1) Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa mọi người
SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

9

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giao tiếp là một quá trình truyền tải, chia sẻ thông tin giữa hai hay nhiều
người. Số lượng người tham gia và chia sẻ thông tin tuỳ thuộc vào nội dung, nhu
cầu của người nhận tin nhằm đảm bảo cho thông tin đáp ứng được cả người cho và

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi hoạt động của đời sống
xã hội và của mỗi con người, thể hiện:
(1) Vai trò đối với xã hội
Giao tiếp là điều kiện của sự tồn tại và phát triển xã hội. Xã hội là tập hợp
những mối quan hệ giữa người và người với nhau. Do đó, giao tiếp là một phần của
xã hội, gắn liền với xã hội.
(2) Vai trò đối với cá nhân
Về bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nhờ có giao tiếp
mà con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập cộng đồng,
phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và rút kinh nghiệm cho chính bản
thân mình.
Giao tiếp thoả mãn nhiều nhu cầu của con người như nhu cầu thông tin, nhu
cầu được thừa nhận, được mọi người xung quanh quan tâm, chú ý, ...
(3) Vai trò trong công việc
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc trao đổi thông tin để giải quyết
công việc thông qua những thông tin hai chiều trong quá trình giao tiếp giúp công
việc được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả.
Giao tiếp có vai trò trong quá trình ra quyết định, bởi ra quyết định đó là giải
pháp trong trường hợp khó khăn nhất được các bên tham gia giao tiếp chấp nhận
thông qua mong muốn của mỗi bên.
1.1.3.2. Nguyên tắc của giao tiếp
Muốn hoạt động giao tiếp có hiệu quả thì cần phải đảm bảo các tắc cơ bản
sau đây:
(1) Đảm bảo sự hài hoà về mặt lợi ích giữa các bên tham gia giao tiếp
Nguyên tắc này dựa trên tính quy luật về mặt tâm lý của con người đó là khi

không hề đơn giản và dễ dàng. Mong muốn của các bên trong giao tiếp thì nhiều
nhưng đáp ứng và thoả mãn những mong muốn đó là có hạn. Do đó, việc một trong
các bên tham gia vào quá trình giao tiếp không đạt được mong muốn là bình
thường.
Để giải quyết vấn đề trên, khi tham gia vào quá trình giao tiếp, mỗi bên cần ý
thức rõ lợi ích của mình và của đối tác đồng thời dự kiến những cách thức khác
nhau để có lợi ích và mang đến một sự lựa chọn các giải pháp tối ưu.
Khi giao tiếp các bên tuân thủ nguyên tắc này, sẽ dễ dàng tìm thấy những
mục tiêu và lợi ích chung, trên cơ sở đó có thể cung nhau tìm ra những giải pháp có
thể làm hài lòng tất cả các bên.
(4) Tôn trọng các giá trị văn hoá
Giá trị văn hoá là một phạm trù rộng lớn, ở góc độ nguyên tắc giao tiếp phải
tôn trọng giá trị văn hoá. Vì vậy, ứng xử trong giao tiếp phải mang tính dân tộc và

SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

12

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

phản ánh truyền thống tốt đẹp, với người Việt Nam, nét văn hoá trong giao tiếp thể
hiện: Tác phong, thái độ cởi mở, tế nhị và chu đáo; tôn trọng, lịch sự với đối tượng
giao tiếp. Vì giao tiếp là sự tương tác xã hội luôn luôn chứa đựng yếu tố con người
và yếu tố tình cảm.
1.1.4. Chức năng của giao tiếp
(1) Chức năng thông tin

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1.1.5. Phân loại các hình thức giao tiếp
(1) Theo cách tiếp xúc của giao tiếp
Có giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) và giao tiếp gián tiếp (thông qua các
phương tiện trung gian như văn bản viết, thư từ, sách báo.
(2) Theo tính chất của giao tiếp
Theo cách này có thể chia thành:
Giao tiếp chính thức theo qui định của pháp luật, theo một qui trình được thể
chế hoá (hội họp, mít tinh, học tập...)
Giao tiếp không chính thức tức là trong giao tiếp không có sự ràng buộc bởi
những qui định có tính pháp lí nhưng tuân theo những tập quán xã giao ví dụ: giao
tiếp giữa bạn bè với nhau, thủ trưởng trò chuyện riêng tư với nhân viên.
(3) Dựa vào tâm thế của giao tiếp
Tâm thế của một người đối với người khác sẽ có khả năng chi phối những
hành vi trong giao tiếp của họ. Do đó, cần điều chỉnh tâm thế của mình một cách
linh hoạt tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể.
Tâm thế của giao tiếp được chia thành: giao tiếp ở thế vững mạnh, giao tiếp
ở thế yếu và giao tiếp ở thế cân bằng.
(4) Căn cứ vào phương tiện giao tiếp
Giao tiếp bằng ngôn ngữ: là giao tiếp được sử dụng hệ thống tín hiệu ngôn
ngữ con người. Đây là loại giao tiếp phổ biến và có hiệu quả vì đảm bảo được ý
nghĩa của thông tin.
Giao tiếp phi ngôn ngữ: là giao tiếp thông qua các hệ thống tín hiệu không
phải là ngôn ngữ. Hệ thống tín hiệu này thường được gọi là ngôn ngữ cơ thể .Các
tín hiệu bao gồm: cử chỉ, nét mặt, điệu bộ được tạo ra bởi các bộ phận của cơ thể;
hệ thống các âm điệu, cường độ lời nói và các tín hiệu kèm theo với lời nói (cười,
khóc… ); Không gian và thời gian giao tiếp: Khoảng cách không gian giữa hai bên

SV. Nguyễn Thu Hiền

(7) Căn cứ vào mối quan hệ giữa các thành viên tham gia giao tiếp
Giao tiếp truyền thống, là giao tiếp trên cơ sở các mối quan hệ giữa những
người hoặc cùng huyết thống hoặc trong một cộng đồng đã hình thành lâu dài trong
quá trình phát triển xã hôi. Trong các cơ quan hành chính giao tiếp truyền thống tồn
tại đan xen với các loại giao tiếp khác, được thể hiện ở việc xưng hô theo tuổi đời.

SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

15

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giao tiếp tự do được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc không phụ thuộc vào chức
nghiệp hay quan hệ huyết thống.
Giao tiếp chức năng là hoạt động giao tiếp được thực hiện trong hoạt động
nghiệp vụ. Loại giao tiếp này có tính chuyên môn hoá, ngôn ngữ giao tiếp được quy
chuẩn. Trong giao tiếp này, nội dung công việc là mục tiêu của quá trình giao tiếp.
Tóm lại, có nhiều cách phân loại giao tiếp trong quản lý hành chính, những
cách phân loại trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Song dù theo cách phân loại nào, giao
tiếp cũng nhằm thực hiện các công việc thuộc lợi ích của tổ chức.
1.2. Một số kỹ năng trong giao tiếp của công chức với công dân
1.2.1. Kỹ năng nghe
Nghe là một trong những kỹ năng quan trọng của quá trình giao tiếp. Quá
trình giao tiếp trở nên tốt hơn nếu như các bên tham gia vào giao tiếp biết lắng
nghe.
Kỹ năng nghe là khả năng của con người trong việc nắm bắt các phương

1.2.3. Kỹ năng đọc
Đọc là một kỹ năng quan trọng trong giao tiếp hành chính. Đọc đem lại
nhiều lợi ích: có thông tin, biết được những ý tưởng mới, nâng cao sự hiểu
biết.Trong hoạt động hành chính đọc có nhiều mục đích:
+ Đọc để cập nhật thêm thông tin
+ Đọc để nắm bắt thông tin và phản hồi thông tin
+ Đọc để biết và ghi nhớ thông tin phục vụ công việc
+ Đọc để biết, ghi nhớ, giải quyết công việc, hướng dẫn người khác
thực hiện
+ Đọc để biết, phân tích, dự đoán, định hướng, xây dựng kế hoạch
1.2.4. Kỹ năng viết
Viết là một kỹ thuật quan trọng trong giao tiếp, thể hiện hình thức giao tiếp
gián tiếp thông qua ngôn ngữ viết trên cơ sở văn phong.
Khi viết cần đảm bảo phải chính xác, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, không dùng
các thuật từ, thuật ngữ, mỹ từ, mị từ, hạn chế việc dùng các thuật ngữ chuyên môn
trừ những trường hợp cần thiết. Tránh lan man bởi các thông tin phụ, các vấn đề dẫn
dắt quá dài không cần thiết.

SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

17

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1.2.5. Kỹ năng giao tiếp qua điện thoại
Giao tiếp qua điện thoại là một dạng giao tiếp gián tiếp, qua đó các đối tượng

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

(6) Yếu tố văn hóa: Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức được điều
chỉnh bởi những nguyên tắc mang tính tổ chức cao nhưng nó vẫn bị ảnh hưởng rất
lớn của văn hóa cá nhân, văn hóa tổ chức và văn hóa cộng đồng.
1.4. Mối quan hệ trong giao tiếp của đội ngũ cán bộ, công chức.
Giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính ở Việt Nam thường thể hiện
trong hai mối quan hệ: Quan hệ trong nội bộ cơ quan hành chính; quan hệ với công
dân và tổ chức doanh nghiệp trong xã hội.
Quan hệ trong nội bộ cơ quan hành chính: Giao tiếp nội bộ được thực hiện
trong quan hệ công việc có tính hành chính, tính mệnh lệnh, các báo cáo bằng văn
bản và báo cáo miệng của cấp dưới với cấp trên, các trao đổi, phối hợp công việc
một cách chính thức hoặc không chính thức.
Quan hệ giữa đội ngũ công chức với công dân, tổ chức và doanh
nghiệp: Bao gồm tất cả các hoạt động như can thiệp, điều chỉnh và cung ứng dịch
vụ công ra xã hội theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt
động của nhà nước và cơ chế giám sát của nhân dân.
CHƯƠNG 2. KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA CÔNG CHỨC BỘ PHẬN
TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ TẠI MỘT SỐ ỦY BAN NHÂN DÂN
CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Tổng quan về Ủy ban nhân dân cấp huyện và một số huyện khảo sát
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện
Được quy định chi tiết, cụ thể tại Luật tổ chức HĐND&UBND năm 2003, có
thể khái quát như sau:
2.1.1.1. Chức năng của UBND cấp huyện
Ủy ban nhân dân huyện là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp
huyện, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội

Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương,đào tạo đội ngũ công
chức, viên chức nhà nước và cán bộ cấp xã, công tác bảo hiểm xã hội theo sự phân
cấp của Chính phủ.
Và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác được quy định chi tiết tại Luật tổ
chức HĐND&UBND năm 2003.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của UBND cấp huyện
UBND cấp huyện do HĐND cấp huyện cùng cấp bầu ra, gồm Chủ tịch, Phó
Chủ tịch và Ủy viên. Chủ tịch UBND cấp huyện phải là đại biểu HĐND, các thành
viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND.
Kết quả bầu thành viên của UBND cấp huyện phải được Chủ tịch UBND cấp
tỉnh phê duyệt.
SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

20

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND cấp huyện được xây dựng trên cơ sở cơ cấu
chung của UBND cấp huyện. Tùy vào từng huyện, sẽ có thêm, bớt một số bộ phận
các phòng, ban, đơn vị.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND cấp huyện nói chung (Phụ lục 1)
2.1.3. Tổng quan về một số quận, huyện tiến hành khảo sát
* Thị xã Sơn Tây
Thị xã Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội với toạ độ địa lý 210
vĩ bắc và 1050 kinh đông, cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây bắc, nằm trong
vùng đồng bằng trung du bắc bộ, là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả vùng,

Qua trặng đường hình thành và phát triển trên có thể nói Thị xã Sơn Tây là
một đô thị cổ của vùng đất Xứ Đoài ngàn năm văn hiến, có quá trình hình thành và
phát triển lâu đời, xứng đáng là vùng đất địa linh, nhân kiệt, xứng đáng là thành
phố, là cửa ngõ phía tây của Thủ đô Hà Nội.
* Huyện Phúc Thọ
Huyện Phúc Thọ nằm phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, thuộc hữu ngạn sông
Hồng và sông Đáy, cách trung tâm Thủ đô khoảng 35km; giáp với các huyện Đan
Phượng, Quốc Oai, Thạch Thất và Thị xã Sơn Tây. Huyện có diện tích tự nhiên
117km2, dân số trên 17,5 vạn người, gồm 22 xã và 01 Thị trấn, chia làm 2 vùng
(vùng đồng và vùng bãi); có Quốc lộ 32, Tỉnh lộ 417, 418, 421; có 3 sông chảy qua
là sông Hồng, sông Đáy vµ sông Tích; là vùng đất có truyền thống lâu đời và bề dày
lịch sử, cái tên huyện Phúc Thọ đến nay đã có 191 năm; nhân dân sống chủ yếu là
dựa vào sản xuất nông nghiệp; sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ
lẻ.
Phúc Thọ là vùng đất hiếu học, nhiều người đỗ đạt, thành danh; nhân dân
hiền hòa, giàu tình yêu quê hương, đất nước; là địa phương có truyền thống cần cù,
sáng tạo trong lao động, bền bỉ trong cải tạo thiên nhiên, dũng cảm trong đấu tranh
phòng chống thiên tai; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Đặc biệt trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân
Phúc Thọ đã đóng góp nhiều cả về nhân lực và vật lực, góp phần vào thắng lợi
chung của toàn dân tộc. Toàn huyện có 189 Mẹ Việt Nam anh hùng, 3471 liệt sỹ,
1077 thương binh. Huyện có 06 cá nhân và 07 xã, thị trấn được phong tặng “Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Năm 2000 Đảng bộ và nhân dân huyện Phúc
Thọ được Nhà nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân”, năm 2011 được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì.
Hiện nay, huyện Phúc Thọ được thành phố Hà Nội quy hoạch là vùng sinh
thái, phát triển du lịch và nông nghiệp sạch, chất lượng cao. Hy vọng trong thời gian
tới, Huyện sẽ có bước phát triển mới và là điểm đến của các nhà đầu tư và khách du
lịch.



thuộc

về



Sơn

Bình,

lúc

thuộc

về

tỉnh



Tây…

đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, theo Nghị quyết 15-NQ/QH của Quốc hội, huyện
Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội.
Là mảnh đất nằm ở cửa ngõ của kinh thành Thăng Long, Huyện Đan Phượng
được biết đến là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, một địa bàn chiến lược quan
trọng trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nhân dân Đan Phượng có
truyền thống đoàn kết, hiếu học, lao động cần cù sáng tạo, giàu tình yêu quê hương
đất nước và ý chí kiên cường cách mạng. Mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều người

Nhân dân Từ Liêm nói chung, nhân dân quận Nam Từ Liêm nói riêng có
lòng yêu nước nồng nàn, bản chất cần cù, sáng tạo, trong lịch sử luôn có những
đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Thủ đô,
đất nước
2.2. Khái quát về cơ chế một cửa và bộ phận tiếp nhận, trả kết quả của
UBND cấp huyện
Theo quy định tại Quyết định số 93 /2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ban hành ngày 22 tháng 6 năm 2007 ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một
cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước.
2.2.1. Cơ chế một cửa và Bộ phận tiếp nhận, trả kết quả
Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc
trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công
khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được
SV. Nguyễn Thu Hiền
Trường: Đại học Nội Vụ Hà Nội

24

GVHD. Ths. Đỗ Thị Thu Huyền


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành
chính nhà nước.
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành
chính, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn
hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức.
2.2.2. Mục đích và nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa
2.2.2.1. Mục đích thực hiện cơ chế một cửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status