BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------------
Nguyễn Uy Đức
VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ VI MÔ ĐẾN
VĨ MÔ” LỚP 12 THPT BAN NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THẾ DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều phía.
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn.
Đầu tiên, tôi xin chân thành ảm
c ơn TS. Phạm
Thế Dân, người đã tận tình
thông lần này là: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ
thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển
nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…” [18, trang 3]
Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông
là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ
động của học sinh với sự tổ chức và hướng dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc
lập, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo
niềm tin và niềm vui trong học tập cho học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách đã được Đảng ta chỉ rõ trong nghị
quyết Trung ương (TW) 2 khoá VIII (12/1996), trong văn ki
ện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
(4/2001) và gần nhất là văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã khẳng định: “Đổi
mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp; ưu tiên
hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học; đổi mới phương pháp dạy và học; phát huy khả
năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh…”[7, trang 10]
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học , việc vận dụng một cách sáng tạo các chiến
lược dạy học tiên tiến trên thế giới vào thực tiễn giáo dục Việt Nam có thể là con đường thích hợp.
Tuy nhiên việc đổi mới theo phương pháp cụ thể nào thì phải lựa chọn cho phù hợp với từng đối
tượng con người và nội dung dạy học.
Môi trường tôi đang giảng dạy với đa số là các học sinh có sức học trung bình và yếu, các em
còn quen với cách dạy học truyền thống. Chính vì vậy tôi quyết định chọn lựa một phương pháp dạy
học theo quan điểm hiện đại nhưng không quá xa so với phương pháp dạy học truyền thống để học
sinh từng bước làm quen, thích ứng được với các phương pháp dạy học tích cực.
Qua quá trình tìm hiểu tôi nhận thấy rằng, dạy học theo chủ đề giúp học sinh tập trung sự chú
ý vào đối tượng, dễ dàng hiểu được các vấn đề giáo viên trình bày, định hướng tốt nội dung bài học,
dễ tiếp thu thông tin, do đó có thể rút ngắn được thời gian trình bày của giáo viên. Hơn thế nữa nếu
sử dụng dạy học theo chủ đề để giảng dạy chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban Nâng
cao _ một chương với những kiến thức rất trừu tượng về các hạt sơ cấp, hệ Mặt Trời, các thiên hà,
6- Nhiệm vụ nghiên cứu
− Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học.
− Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo chủ đề.
− Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Vật lí 12 THPT ban Nâng cao.
− Nghiên cứu khả năng ứng dụng một số phần mềm máy tính và Internet trong việc thiết kế chủ đề
học tập.
− Nghiên cứu, thiết kế chủ đề học tập chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban Nâng cao.
− Tiến hành thực nghiệm sư phạm dạy học chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban Nâng
cao theo phương pháp dạy học theo chủ đề tại trường THPT Chuyên NK TDTT Nguyễn Thị
Định Quận 8, TP.Hồ Chí Minh.
7- Phương pháp nghiên cứu
− Nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy
học.
+ Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học và phương pháp giảng dạy vật lý.
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề.
+ Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học.
+ Nghiên cứu chương trình vật lý 12 THPT.
+ Nghiên cứu, khai thác các tài liệu liên quan đến việc thiết kế các chủ đề học tập.
+ Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề chương “Từ vi mô đến vĩ mô” lớp 12 THPT ban
Nâng cao.
+ Nghiên cứu, thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ các chủ đề dạy học.
− Thực nghiệm sư phạm:
+ Chọn mẫu và dạy thực nghiệm tại trường THPT Chuyên NK TDTT Nguyễn Thị Định,
Quận 8, TP.HCM.
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và
kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm: nhóm
ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác
nhau để thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập môn Vật lý.
− Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến của vật lý, có kỹ năng lắp ráp và tiến hành các thí
nghiệm vật lý đơn giản.
− Biết phân tích, tổng hợp và xử lý các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự
đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, hoặc quá trình vật
lý, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra.
− Vận dụng được kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lý, giải
các bài tập vật lý và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ
phổ thông.
− Sử dụng được các thuật ngữ vật lý, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác
những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lý thông tin.
• Mục tiêu thái độ:
− Có hứng thú học vật lý, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng với những đóng góp của
Vật lý học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học.
− Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần
hợp tác trong việc học tập môn vật lý, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt
được.
− Có ý thức vận dụng các hiểu biết vật lý vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học
tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên.
1.1.2. Những khó khăn gặp phải trong quá trình đổi mới PPDH Vật lý THPT [1], [2], [3]
Để thực hiện được mục tiêu đổi mới giáo dục, phải giải quyết đồng bộ rất nhiều mặt. Riêng
về mặt phương pháp giáo dục, những định hướng đổi mới PPDH đã được đề cập trong các nghị
quyết TW4 khoá VII (1/1993), TW2 khoá VIII (12/1996), trong luật giáo dục (12/1998), trong nghị
quyết của Quốc hội khoá X (12/2000), văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001), X
(4/2006), trong các chỉ thị và quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo … Tinh thần cơ bản của việc
đổi mới này là: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập.
- Cuối cùng là cách thức các cơ quan chỉ đạo và tập thể GV đánh giá việc giảng dạy của đồng
nghiệp cũng không thật thuận lợi cho việc đổi mới PPGD. Chẳng hạn, khi dự giờ thao giảng, nhiều
người chỉ chăm chú xem GV dạy chính xác hay không, có đặt nhiều câu hỏi hay không, có bị cháy
giáo án hay không?... Ít người c hú ý phân tích xem cách thức mà GV tổ chức cho HS hoạt động học
tập trong tiết học có phù hợp hay không? Hiệu quả dạy học của tiết học cao hay thấp?
Trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến trình đổi mới PPD H ở bậc THPT nói
chung và PPDH Vật lý THPT nói riêng. Có thể còn nhiều nguyên nhân khác nữa mà ta chưa nêu lên
được. Tuy việc đổi mới còn nhiều khó khăn và việc khắc phục các khó khăn không thể thực hiện
một cách dễ dàng trong một sớm một chiều nhưng tình thế vẫn buộc chúng ta phải tìm cách đổi mới
PPDH.
1.1.3. Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý THPT
[1], [2], [3]
1. Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của HS.
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các PPDH truyền thống, tuy nhiên
ta sẽ sử dụng các phương pháp đó theo tinh thần mới. GV phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược
nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong những tình
huống cụ thể.
Ví dụ: Phương pháp cho HS làm việc với SGK.
- Trong PPDH thụ động, việc cho HS đọc SGK chỉ nhằm mục đích ghi nhớ, thuộc lòng cả nội
dung và cách phát biểu những kết luận mà ta muốn chốt lại.
- Trong PPDH tích ự
c c, việc cho HS đọc SGK coi như một hoạt động thu thập thông tin.
Thông tin này, sau đó phải được HS xử lý để rút ra các kết luận cần thiết.
Trong việc dạy học truyền thống, GV thường hay sử dụng kết hợp nhiều phương pháp thuộc
Chúng ta cần tiến hành từng bước, đổi mới dần từng hoạt động trên lớp để không những GV
quen dần với PPDH dựa trên nguyên tắc tổ chức cho HS hoạt động, mà còn để HS chuyển dần từ
thói quen học tập thụ động sang thói quen học tập tích cực, sáng tạo.
3. Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác.
Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm và theo lớp là các hình thức học tập vẫn
được áp dụng trong các PPDH truyền thống. Trong các hình thức trên, hình thức học tập cá nhân lâu
nay vẫn được coi là hình thức học tập cơ bản, có hiệu quả nhất. Các hình thức học tập theo nhóm và
theo lớp là các hình thức hỗ trợ.
Theo tinh thần của các PPDH tích cực, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ
bản. Tuy nhiên, GV phải tìm cách kích thích được hứng thú học tập, làm cho HS học tập một cách
tự giác, chủ động, từ đó phát huy được tính sáng tạo của mỗi cá thể trong học tập. Các hình thức học
tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả hơn mà còn có tác
dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn
nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung. Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi
HS đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình. Điều này có tác
dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS.
Hiện nay, nảy sinh xu thế ngược lại là “Hội chứng hoạt động nhóm”. Điều này dẫn đến việc
dạy học theo nhóm một cách tràn lan, hình thức, lãng phí thời gian và không có hiệu quả. Cần chú ý
rằng trong mọi PPGD, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu giúp cho việc
phát triển năng lực của mỗi HS, các PPDH tích cực đều chỉ nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động nhận
thức của mỗi cá thể.
4. Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học.
Một đặc trưng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin. Những ứng dụng kỹ thuật hiện đại
của ngày hôm nay sẽ trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa. Vì những hiểu biết của chúng
ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội hiện đại phải biết cách cập
nhật thông tin. Một trong những cách khả dĩ là phải biết tự học.
Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải thực sự động não để tiếp thu
những điều cần học. Vì vậy, trong những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi
dưỡng phương pháp tự học cho HS. Việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp
giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn về mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi
lý kết quả. Hình thức này gọi là thí nghiệm với “giấy và bút chì”.
7. Đổi mới cách soạn giáo án.
Quan niệm về giáo án ngày nay đã thay đổi, giáo án theo quan niệm mới được thiết kế dựa
trên những hoạt động học tập của HS. Sau đây là sự so sánh giữa hai quan niệm cũ và mới về cách
soạn giáo án.
Bảng 1.1. So sánh hai quan niệm cũ và mới về cách soạn giáo án.
Quan niệm cũ
Quan niệm mới
Giáo án được coi như một “kịch bản” về Giáo án được coi như một “kịch bản” về
những hoạt động của GV trên lớp.
những hoạt động của HS dưới sự điều
khiển của GV.
Mục đích yêu cầu.
Mục tiêu.
Nêu những mức độ kiến thức và kỹ năng Nêu những biểu hiện cần thiết ở HS
cần truyền cho HS.
chứng tỏ các em đã có được kiến thức và
kỹ năng đúng theo yêu cầu của chương
trình chuẩn mà Bộ đã ban hành.
Nội dung giáo án.
- Thí nghiệm.
GV.
- Các câu hỏi chính.
- Bài tập.
- Những điều kiện cần chuẩn bị.
1.2. Tổng quan về dạy học theo chủ đề
1.2.1. Khái niệm dạy học theo chủ đề [5], [6], [7], [9]
Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và mô hình dạy học
hiện đại, nó là một trong nhiều chiến lược dạy học cụ thể hoá của mô hình dạy-tự học và quan điểm
“lấy người học làm trung tâm”. GV không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ tri thức mà chủ yếu là
hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa
thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề là một trong các mô hình dạy học có khả năng đáp ứng được mục tiêu
giáo dục của thời kì đổi mới. Mô hình dạy học mới này thay thế cho mô hình dạy học truyền thống
bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính chất tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực,
với trung tâm tập trung vào HS và nội dung được tích hợp thành những chủ đề mang tính thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề ở cấp THPT là sự cố gắng tăng cường sự tích hợp kiến thức, làm cho
kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều, là sự tích hợp vào nội dung học những ứng dụng kỹ
thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn.
1.2.2. Dạy học theo chủ đề và dạy học truyền thống [5], [6], [7], [8], [9]
• Điểm tương đồng:
Dạy học theo chủ đề và dạy học truyền thống vẫn coi trọng việc lĩnh hội một nội dung kiến
thức nền tảng, vì thế dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học có thể vận dụng vào thực tiễn hiện nay
dễ dàng hơn các mô hình khác.
sát, thu thập dữ liệu, xử lý, suy luận và
áp dụng thực tiễn.
4- Dạy theo từng bài theo một thời lượng 4- Dạy theo một chủ đề thống nhất được
cố định dành cho từng bài.
tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một
phần chương trình học.
5- Kiến thức thu được chỉ có mối liên hệ 5- Kiến thức thu được là các khái niệm
tuyến tính một chiều theo sự thiết kế trong mối liên hệ mạng lưới với nhau.
chương trình học.
6- Trình độ nhận thức sau quá trình học 6- Trình độ nhận thức có thể đạt được ở
tập thường phát triển tuần tự và thường mức độ cao: phân tích, tổng hợp, đánh
chỉ dừng lại ở mức độ hiểu, biết và vận giá ngay trong quá trình ực
th hiện các
dụng.
nhiệm vụ học tập.
7- Kết thúc một chương, HS không có 7- Kết thúc một chủ đề, HS có một tổng
một tổng thể kiến thức mới mà có kiến thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và
thức từng phần riêng biệt, hoặc có hệ khác với tổng thể nội dung trong sách
thống kiến thức liên hệ tuyến tính theo giáo khoa.
trật tự các bài học.
8- Kiến thức khá xa rời thực tiễn mà 8- Kiến thức gần gũi với thực tiễn mà
người học đang sống do sự kém cập nhật HS đang sống hơn do yêu cầu cập nhật
của nội dung trong SGK.
của thực tiễn. Do đó, dạy học chủ đề còn hướng đến các mục tiêu tích cực khác:
- Phát triển hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng của một tiến trình khoa
học.
- Phát triển tư duy bậc cao, nhằm phát triển khả năng suy luận, tổ chức kiến thức và tiếp nhận
thông tin một cách chọn lọc, có phê phán.
- Rèn luyện các kỹ năng sống và làm việc của con người trong thời đại ngày nay: giao tiếp,
hợp tác, quản lí, tự quyết định, tự đánh giá, tự điều chỉnh, …
- Chú trọng mục tiêu phát triển nhân cách đa dạng của cá nhân hơn là việc đạt tới các mục tiêu
chung, cứng nhắc, bắt buộc, khuôn mẫu, áp đặt.
1.2.3.2. Vai trò của GV [5], [7], [8]
• Dạy: dạy cho mọi người biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo.
Trong dạy học theo chủ đề, GV tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy- tự học. Thầy không còn
là nơi độc quyền cung cấp kiến thức cho người học mà thầy luôn tạo ra cơ hội ch o phép người học
tự do theo đuổi những tư tưởng, khái niệm, kỹ năng, dưới sự tư vấn của thầy và thầy là người luôn
tin cậy và tôn trọng họ, dạy họ cách tìm ra chân lí.
Thầy không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung trên lớp mà cố gắng khai thác tối đa kiến
thức, kinh nghiệm, kỹ năng sẵn có của HS, giúp họ tự mình lĩnh hội kiến thức. Ngoài ra, GV trong
chiến lược dạy học này không phải là người quyết định toàn bộ chiến lược học tập của HS, vì nhiều
nhiệm vụ học tập được giao cho HS mà HS phải tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ đó.
Trong dạy học theo chủ đề, HS giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế mà vai trò của GV bị
giảm sút, nó chỉ thay đổi ý nghĩa: GV trở thành người cộng tác, tổ chức, hướng dẫn HS, là người
trọng tài sáng suốt giúp HS xác định được chân lí, phát triển nhân cách và biết mình phải làm gì và
tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.
1.2.3.3. Vai trò của HS [5], [7], [8]
• Học: tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo.
Người học là một chủ thể tích cực, chủ động tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của
chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy, học mọi người. Trong dạy
học theo chủ đề cũng như các chiến lược dạy học tích cực khác, quan niệm “lấy người học làm
mọi người, không phân biệt lứa tuổi, học tốt nhất bằng cách: thu thập thông tin mới, suy nghĩ về nó,
và làm việc theo nhiều cách khác nhau. Những hướng dẫn trực tiếp được giảm tối thiểu, thay vào đó
là tạo cơ hội cho người học thăm dò, thí nghiệm, chia sẻ ý kiến. Tạo cơ hội và cung cấp các tài liệu
khác nhau để HS xây dựng hiểu biết của mình).
Trong mô hình dạy học này và nhiều mô hình dạy học tích cực khác, người ta không dành
nhiều thời gian cho việc cung cấp kiến thức mà thời gian học chủ yếu dành cho việc giải quyết vấn
đề, thực hiện các nhiệm vụ học tập của các nhóm HS. Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách
đúng lúc trong quá trình HS giải quyết vấn đề thực tiễn được giao, hoặc được giới thiệu trong một
khoảng thời gian ngắn thích hợp theo cách dạy truyền thống trước khi HS giải quyết vấn đề, hoặc
thông qua tài liệu hỗ trợ do GV cung cấp, chỉ dẫn. Nói cách khác, các mô hình dạy học tích cực phổ
biến hiện nay thường ưu tiên việc sử dụng kiến thức (thông tin) vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt
ra, HS học được tiến trình khoa học và kỹ năng tiến trình khoa học từ việc giải quyết vấn đề chứ
không phải từ việc tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạy học truyền thống quen thuộc.
1.2.3.6. Hình thức tổ chức dạy học [5], [7], [9]
Dạy học theo chủ đề vẫn là sự kết hợp cách tổ chức học theo lớp truyền thống với học theo
nhóm hợp tác, nhưng chủ yếu là theo nhóm. Dạy học theo nhóm với đặc trưng là HS hợp tác, cùng
nhau “khám phá” lại tri thức của nhân loại, HS có cơ hội chia sẻ những suy nghĩ của mình với bạn
học; với phương thức học thầy, học bạn sẽ phát huy tính năng động, tư duy sáng tạo của HS, đồng
thời khắc phục được hoạt động độc diễn của thầy trong lớp đông HS.
Không gian ọch không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn
(cả không gian ảo: thế giới online).
Thời gian học một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà có thể kéo dài trong
một, vài tuần tùy ý nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăn của chủ đề.
1.2.3.7. Phương tiện dạy học [5], [7], [9]
Sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học như: phấn, bảng, thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, máy
vi tính, máy chiếu, băng hình, các phần mềm hỗ trợ dạy học,… hay những vật dụng trong cuộc sống
hàng ngày đáp ứng được yêu cầu về mặt dạy học.
Tích hợp công nghệ vào dạy và học, các nguồn thông tin và phương tiện hỗ trợ khai thác, xử
được rằng: không những có thể thực hiện tốt mục tiêu chương trình học hiện nay mà còn có thể đạt
được một số mục tiêu tích cực khác cần thiết cho sự phát triển hiểu biết, phát triển trí tuệ của HS
hơn, như rèn luyện kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống , … thì cũng có nghĩa là việc vận dụng
sáng tạo chiến lược dạy học này vào thực tiễn đã đạt được chất lượng và hiệu quả hơn so với kiểu
dạy học truyền thống.
Cần lưu ý rằng, khả năng áp dụng dạy học theo chủ đề vào chương trình học của chúng ta
hiện nay có thể dẫn đến thực tế là một chủ đề học tập (thường là một chương) không bao quát hết
mọi nội dung kiến thức mà chỉ có những nội dung trọng tâm của chương được thực hiện trong một
chủ đề. Tuy nhiên, điều này có thể khắc phục được vì dạy học theo chủ đề giúp GV tiết kiệm thời
gian nên phần thời gian còn lại có thể sử dụng để dạ y các kiến thức khác trong chương trình bằng
các phương pháp thích hợp.
Yếu tố đảm bảo thành công của việc áp dụng sáng tạo một chiến lược dạy học mới trong bản
thân mô hình dạy học truyền thống đang phổ biến hiện nay đó là sự chuyển đổi từng bước mục tiê u
dạy học, nội dung, hình thức tổ chức cũng như cách thức kiểm tra đánh giá và nó cũng phù hợp với
quan điểm và định hướng đổi mới PPDH vật lý THPT ở nước ta. Việc áp đặt nguyên mẫu bất cứ
chiến lược dạy học tích cực, hiện đại nào dù nó đã được thực nghiệm và thành công vào mục tiêu
dạy học truyền thống đều có thể thất bại.
1.2.5. Vận dụng ý tưởng thiết kế bộ câu hỏi định hướng vào dạy học theo chủ đề [6], [7],
[8], [9]
Phương pháp thiết kế bộ câu hỏi định hướng cho việc dạy và học một chủ đề là ý tưởng v ận
dụng sáng tạo chiến lược dạy học dựa trên dự án vào kiểu dạy học này.
Đối với GV và HS, mục tiêu của việc dạy và học sẽ trở nên cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện hơn
nếu ta biết được rằng việc dạy học cần giúp HS trả lời những câu hỏi khó đến mức độ nào, trong
một chủ đề cụ thể phải làm được những công việc gì cụ thể. Do đó, một bộ câu hỏi định hướng cho
một chủ đề cụ thể giúp ta có cơ sở đối chiếu với mục tiêu để biết rằng việc dạy có bám sát mục tiêu
đặt ra hay không, việc học có đạt đến mục tiêu hay không.
vận dụng, phân tích, tổng hợp. Trả lời câu hỏi bài học là hướng tới mục tiêu phát triển tư duy bậc
cao và phát triển khả năng tổ chức kiến thức của HS.
Cần phân biệt giữa CHKQ và CHBH, chúng không rạch ròi, bản thân câu hỏi không xác định
liệu nó là CHKQ hay CHBH, nó phụ thuộc vào việc chúng ta sử dụng nó như thế nào. Nhưng cả hai
đều có mục đích là: định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ
thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và hướng dẫn khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan
trọng của chủ đề. Nếu không có những câu hỏi như vậy thì HS sẽ phải đối mặt với những hoạt động
rời rạc, không đúng trọng tâm và việc dạy học khó lòng thực hiện được mục tiêu đề ra.
• Câu hỏi nội dung: Là các câu hỏi mà từng nội dung trong một bài học có thể trả lời thấu đáo
bằng một đáp án đúng. Trả lời câu hỏi nội dung thể hiện các yêu cầu nắm vững từng nội dung học
cụ thể, cũng là các mục tiêu chủ yếu của chương trình hiện nay mà chúng ta hướng tới.
Mỗi CHND có thể trả lời bằng một nội dung cụ thể, nó không cần phải xử lí một tổng thể nội
dung hay suy luận từ nội dung đã có. Tuy nhiên, việc HS trả lời được một tập hợp các CHND là cơ
sở để trả lời các CHBH trên nền tảng nắm vững các nội dung cụ thể đó.
1.2.6. Các bước chuẩn bị và thực hiện dạy học theo chủ đề [5], [6], [7], [8], [9]
1. Chọn nội dung có thể tổ chức theo dạy học theo chủ đề.