skkn một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh tiểu học - Pdf 37

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến tỉnh Ninh Bình.
Chúng tôi:
T
T

Họ tên

Ngày
tháng
năm
sinh

1

Trần Thị Kiều Phương

1963

2 Hoàng Thị Thu

1972

3 Lương Thị Oanh

1970


Phó HT

Đại học

25

Phó HT

Đại học

25

Phó HT

Đại học

25

Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp
giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh tiểu học”
I. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Phương pháp dạy học tiểu học.
II. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Các tác giả sáng kiến
III. THỜI GIAN ÁP DỤNG: từ tháng 8/2015.
IV. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

Giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh là một trong những nội
dung thực hiện giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh. Nhân cách con người
được hình thành và phát triển trong quá trình sống, giao tiếp, học tập, lao động.
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách chịu sự chi phối của nhiều yếu tố,
trong đó tính tích cực của cá nhân giữ vai trò quyết định.

lớp. Tài liệu là cuốn “Bài tập thực hành kĩ năng sống” của nhà xuất bản Đại học
Sư phạm. Một số nội dung lồng ghép vào môn đạo đức và một số bài có nội
dung liên quan ở các môn học khác.
Tài liệu kĩ năng sống ở tiểu học, sách bài tập soạn thảo mỗi khối từ 6 đến
8 chủ đề, mỗi chủ đề dạy trong 2 tiết, dạy 1 tiết/tuần vào tiết tự học.
Cách thức tiến hành: giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành các bài tập
dưới hình thức hoạt động cá nhân, hoạt động theo nhóm và một số trò chơi. Học
sinh trình bày kết quả từng bài tập, nêu ý kiến nhận xét, bổ sung. Giáo viên tổng
hợp nội dung bài và nhắc học sinh vận dụng trong thực tế cuộc sống. Ở các môn
học khác, tùy vào nội dung từng bài và yêu cầu tích hợp để hướng dẫn dưới
dạng câu hỏi hoặc nêu luôn nội dung cần truyền đạt.
Ưu điểm của giải pháp cũ:
Là phương pháp giáo dục dễ thực hiện vì tài liệu đã có sẵn; Phòng Giáo
dục và Đào tạo thành phố Ninh Bình đã có công văn hướng dẫn cách thức thực
hiện, giáo viên không cần chuẩn bị thêm về nội dung và hình thức tổ chức giờ
trên lớp nên việc giảng dạy khá thuận lợi.
2


Việc quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống đã tác động đến nhận thức của
các em, phần nào phát huy được tính tự giác, chủ động, độc lập khi học tập;
mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
Một số hạn chế, bất cập và nhược điểm của giải pháp cũ:
+ Về nội dung chương trình:
Việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh được thực hiện trong
quá trình giảng dạy kĩ năng sống, nhìn chung còn nặng về lí thuyết, tính thực
hành không cao nên mới chỉ tác động được đến nhận thức, chưa kiểm soát được
đến hành vi trong thực tiễn.
Phạm vi của nội dung giáo dục hẹp, chưa mang tính thực tiễn của từng địa
phương. Do đó hạn chế sự sáng tạo của giáo viên và học sinh.

trong tình hình đất nước hiện nay.
b) Giải pháp mới
* Mô hình hóa:
GIẢI PHÁP
1
Nâng cao
nhận thức để
hình thành
thói quen suy
nghĩ tích cực

Thay
đổi
cách
nhìn
nhận
tích
cực
về
mọi
vấn
đề

Hình
thành

suy
nghĩ
thể
hiện


Vì sao
phải
kiềm
chế
cảm
xúc và
không
phán
xét
người
khác

Cần
làm gì
để
kiềm
chế
cảm
xúc và
không
phán
xét
người
khác

4

Gần gũi,
đồng cảm và

trì và
phát
huy
thái
độ
tích
cực
của
học
sinh

Ghi
nhận,
khích
lệ và
khen
ngợi
kịp
thời
hành
vi
ứng
xử
tích
cực

Tăng
cường

tổ

cuộc sống đòi hỏi mỗi người cần có nghị lực, tinh thần vượt khó để đối mặt hoặc
vượt qua các trở ngại, nếu mỗi cá nhân có suy nghĩ tích cực sẽ hình thành niềm
tin, tinh thần phấn chấn, tâm trạng vui tươi để giải quyết khó khăn, thách thức.
Trước tiên, giáo viên giúp học sinh thay đổi cách nhìn nhận tích cực về
mọi vấn đề.
Hướng dẫn học sinh cách suy nghĩ tích cực về những tình huống xảy ra,
khai thác ý nghĩa tích cực ở từng chi tiết, từng điểm tốt đẹp mà sự việc đó mang
lại. Việc hướng dẫn được thực hiện ở tất cả các tiết học và chương trình ngoại
khóa, đặc biệt qua bài tập thực hành kĩ năng sống (BTTHKNS) lớp 2 chủ đề 5;
lớp 3 chủ đề 4; lớp 4 chủ đề 5; lớp 5 chủ đề 3 và 4. Vào tiết sinh hoạt lớp, giáo
viên kết hợp kể “Câu chuyện cái bình nứt” (Nguồn ngoisao.net - Phần phụ lục).
Giúp học sinh hiểu: tất cả mọi người ưa chuộng sự toàn mĩ. Chiếc bình
nứt luôn mang trong người mặc cảm khi tự so sánh nó với chiếc bình lành. Thật
vậy, có biết bao khiếm khuyết khiến chúng ta mặc cảm về bản thân mình.
Nhưng đằng sau những khiếm khuyết ấy, mỗi người vẫn luôn có giá trị riêng.
Giống như nước chảy ra từ khe nứt của chiếc bình không lành lặn kia đã gieo
mầm sống cho những cây hoa đẹp đẽ bên đường.
Đối diện với những khiếm khuyết của chính mình, mỗi người cần học
cách chấp nhận, đồng thời hướng đến những điều tốt đẹp của bản thân. Bởi vì
cuộc sống của mỗi chúng ta đều có thể như chiếc bình, dù không hoàn toàn lành
lặn nhưng vẫn có ích cho đời, làm cho cuộc sống phong phú hơn.
Tiếp theo, giáo viên giúp học sinh hình thành những suy nghĩ thể hiện
thái độ tích cực trong mọi hoàn cảnh.
5


Giáo viên kể chuyện về tấm gương Nguyễn Ngọc Ký, dù liệt hai tay
nhưng vẫn đi học và học giỏi; câu chuyện về một người bị kẹt trong thang máy
đã cố gắng xoay sở để tìm sự giúp đỡ;... Qua đó, học sinh hiểu: Khi gặp khó
khăn trở ngại, cần bình tĩnh, tự tin cố gắng hết khả năng của mình để giải quyết.

6


2. Giải pháp 2: Kiểm soát cảm xúc và không vội vàng phán xét
Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người đối với sự vật, hiện
tượng trong cuộc sống. Cảm xúc có tính tích cực và tiêu cực, là động lực cho
mọi hành vi diễn ra. Khi không kiểm soát được cảm xúc, con người thường có
phản ứng tiêu cực mà biểu hiện cơ bản nhất là đổ lỗi và phán xét người khác.
Phán xét có thể bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, bằng cử chỉ, thái độ,
có khi chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Phạm vi phán xét rất rộng, đa dạng về nhiều
mặt như: ngoại hình, tính cách, hành động, tình cảm, tư tưởng,... Thông thường,
khi không kiểm soát được cảm xúc, nhất là những cảm xúc tiêu cực, con người
rất dễ buông lời phán xét tiêu cực.
Giáo viên giúp học sinh hiểu vì sao cần thay đổi thói quen phán xét. Khi ai đó
mắc sai lầm, gặp rắc rối, có cá tính hay hình dáng đặc biệt,... cái họ cần là sự
giúp đỡ, cảm thông chứ không phải là phán xét, chê bai. Nỗi sợ bị phán xét tạo
nên tâm lí bất an và cảm xúc lo lắng, dẫn đến những ứng xử mang tính tiêu cực.
Ví dụ: Trong trích đoạn truyện “Cô bé bán diêm” (BTTHKNS lớp 4, chủ
đề 6 - Kĩ năng kiểm soát cảm xúc)
Câu chuyện kể về em bé mồ côi mẹ phải đi bán diêm trong đêm giao thừa
rét buốt. Chẳng dám về nhà khi chưa bán hết diêm vì sợ bố mắng, em đành ngồi
nép vào góc tường, liên tục quẹt diêm để sưởi và hi vọng vào những ảo ảnh. Đói
rét, đau buồn, em bé chết trong giấc mơ cùng bà nội lên trời.
Ngoài giá trị nhân văn sâu sắc mà câu chuyện mang lại, câu chuyện còn
mang ý nghĩa giáo dục khác. Giá như ông bố trong câu chuyện biết kiểm soát
cảm xúc, không hay nóng giận và đánh mắng em; giá như em bé kiềm chế được
nỗi sợ hãi để tìm giải pháp tích cực;... câu chuyện đã không có cái kết đau lòng.
Câu chuyện “vết thương” (BTTHKNS lớp 4, chủ đề 6 - Kĩ năng kiểm soát
cảm xúc) cho chúng ta thấy: Khi giận dữ, chúng ta dễ có những lời nói, hành
động không tốt. Nếu đó là những lời phán xét thiếu suy nghĩ, nó sẽ làm thương

Holte đã nói: “Nếu trẻ sống với sự phê bình, thì trẻ sẽ học cách chỉ trích”.
3. Giải pháp 3: Gần gũi, đồng cảm và ứng xử khoan dung, nhân ái
Gần gũi và đồng cảm giúp cho con người thấu hiểu và hòa nhập với thực
tại. Đồng cảm để hiểu cảm xúc của người trong cuộc, ứng xử tinh tế, phù hợp
với từng hoàn cảnh. Từ đó, học sinh biết chia sẻ, giúp đỡ những người xung
quanh và tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Giáo viên cần có sự đồng cảm, thiện chí trong giao tiếp với học sinh;
thông cảm với việc bộc lộ cảm xúc hồn nhiên, ngây thơ, đôi khi thiếu kiểm soát
của học sinh, đặc biệt là học sinh đầu lớp 1. Cách ứng xử của giáo viên trước
học sinh cũng chính là giúp học sinh học bằng trải nghiệm thực tế.
Giáo viên có thể thay một số bài tập tình huống trong sách bằng tình
huống thực tiễn. Ví dụ: “Bạn Vũ Anh Kiệt lớp 4E bị mắc bệnh tự kỉ. Hãy hình
dung cách ứng xử của các bạn trong trường với bạn Kiệt và trình bày trước lớp
theo hình thức tiểu phẩm”. Học sinh cần hiểu rõ tính cách, suy nghĩ, hành động
của nhân vật mình đóng vai, tìm ra điểm tốt hoặc chưa tốt của nhân vật. Chia sẻ
trung thực những suy nghĩ, cảm nhận, quan điểm cá nhân.
8


Khi đóng vai, giáo viên hướng dẫn học sinh các bước như sau:
- Bước 1: Tìm hiểu nội dung tiểu phẩm.
- Bước 2: Phân tích tiểu phẩm: Làm việc theo nhóm, thảo luận thể hiện ý
tưởng, nội dung. Phân vai, độc thoại hoặc đối thoại.
- Bước 3: Các nhóm lên đóng vai.
- Bước 4: Phát biểu ý kiến, cảm nhận cá nhân. Học sinh khái quát những
nội dung đã học, viết bài học rút ra từ tiểu phẩm.
Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai: Để lựa chọn cách ứng xử này,
em đã suy nghĩ như thế nào?
Cả lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử đã phù hợp hay chưa phù hợp?
Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?

trong tất cả các hoạt động ngoại khóa, giờ nghỉ giải lao, lúc ăn trưa,... giáo viên
thường xuyên theo dõi, kịp thời giúp đỡ, khuyến khích các em thể hiện lối sống
khoan dung, nhân ái. Đó cũng là một biểu hiện của hành vi ứng xử tích cực.
1.2.4. Giải pháp 4: Rèn thói quen ứng xử tích cực trong mọi tình huống
Rèn thói quen ứng xử tích cực là việc làm rất cần thiết được thực hiện
trong quá trình lâu dài và liên tục với vai trò quan trọng của người giáo viên.
Thứ nhất, giáo viên cần duy trì và phát huy thái độ tích cực của học sinh.
Học sinh tiểu học thường hay bắt chước, học theo hành động của người
mà mình yêu mến, quý trọng. Các em luôn xem giáo viên là “thần tượng”,
“chuẩn mực tuyệt đối”. Vì vậy ngoài việc thực hiện 3 giải pháp nêu trên, bằng
những hành động, cử chỉ, lời nói cách cư xử hàng ngày, giáo viên tác động liên
tục đến nhận thức, tình cảm và hành vi của mỗi học sinh. Những gì giáo viên
thường xuyên làm quan trọng hơn nhiều so với những gì giáo viên nói. Muốn
học sinh có hành vi ứng xử tích cực, giáo viên hãy làm như thế. Nếu những
người xung quanh có thái độ không nhất quán và tiêu cực, các em cũng sẽ học
theo với thái độ tương tự. Do đó, giáo viên kết hợp với gia đình học sinh để tạo
môi trường thuận lợi cho việc hình thành thói quen ứng xử tích cực cho các em.
Thứ hai, giáo viên ghi nhận, khích lệ và khen ngợi kịp thời hành vi ứng
xử tích cực; nhắc nhở, điều chỉnh hành vi ứng xử chưa phù hợp của học sinh.
Giáo viên nên khen ngợi đúng lúc và thiết thực ngay khi học sinh có hành
vi tích cực. Khi khen học sinh, để đạt được kết quả tốt nhất, giáo viên cần:
- Thể hiện cảm xúc khi khen học sinh: nhìn khích lệ, mỉm cười, gật đầu,...
- Sử dụng nhiều hình thức khen ngợi. Khen bằng lời kết hợp với hành vi
cử chỉ có tính khích lệ, động viên: “Thật đáng ngạc nhiên!”, “Thật tuyệt!”
“Đúng là một niềm vui to lớn!”,... hoặc đơn giản hơn như: tốt, tốt lắm, tuyệt,...
Ví dụ: BTTHKNS, chủ đề 1 lớp 1 và 3: Phần thực hành học sinh đạt kết
quả tốt, giáo viên khích lệ bằng lời khen: “Hôm nay cả lớp đã sắp xếp đồ dùng
cá nhân rất gọn gàng. Điều đó thật tuyệt vời. Cô rất tự hào về các em!”.
- Tập trung vào các việc học sinh làm tốt. Nếu có cả hành vi tốt và không
tốt, giáo viên tập trung vào việc tốt, không nên trách mắng hay phản ứng ngay.

việc và cởi mở trong việc tiếp nhận phê bình. Để phát triển ý thức trách nhiệm
thành thói quen tốt, học sinh cần chủ động đặt mục tiêu và chủ động thực hiện.
Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể hoặc
hướng dẫn các em tự đảm nhận, từ nhiệm vụ đơn giản đến nhiệm vụ phức tạp,
khó khăn hơn như: trực nhật lớp, hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động nhóm,...
Khi giao nhiệm vụ, giáo viên lưu ý: ngoài giao việc trực tiếp, giáo viên có
thể giao việc theo cách gián tiếp để tránh gây áp lực cho học sinh và có thể kiểm
tra sự tiến bộ trong việc thể hiện thái độ tích cực của mỗi cá nhân.
11


Ví dụ: Để giúp các em rèn ý thức tự giác bảo vệ môi trường, giáo viên có
thể thực hiện theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Rèn ý thức bảo vệ môi trường.
Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với Liên đội, giao nhiệm vụ cụ thể: 5 phút
sạch trường. Học sinh toàn trường vệ sinh trường trong 5 phút. Chia sẻ cảm xúc,
nêu biện pháp rèn ý thức trách nhiệm của mỗi học sinh với môi trường.
Bước 2: Hình thành ý thức tự giác bảo vệ môi trường.
Sau một vài tuần thực hiện bước 1, giáo viên giao nhiệm vụ gián tiếp:
Trong giờ ra chơi, ngoài việc tham gia các trò chơi thật vui vẻ, các em hãy quan
sát và cho biết nhận xét của em về vấn đề vệ sinh trong trường.
Sau giải lao, học sinh tự do chia sẻ: “Nêu nhận xét về vệ sinh sân trường
và việc em đã làm (nếu có) để làm sạch sân trường”. Có thể có nhận xét sau
(Giáo viên ghi nhanh nhận xét và số lượng học sinh có nhận xét đó lên bảng):
- Sân trường sạch sẽ.
- Còn có giấy rác do một số bạn ăn sáng không bỏ rác đúng nơi quy định.
- Thấy bạn vứt vỏ kẹo ở sân, em phê bình và nhắc bạn bỏ rác vào thùng.
- Có giấy ăn ở gần cổng trường. Nhóm em đã nhặt và bỏ vào thùng rác.
Đề nghị:
- Tự giác giữ vệ sinh trường, lớp, khu vệ sinh;

quả như nhau ở tất cả các đối tượng. Do đó, giáo viên cần kiên trì áp dụng để tác
động đến đồng thời các quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành
vi - thói quen ứng xử, tạo cơ hội cho các em vận dụng tự nhiên và linh hoạt vào
các tình huống thực trong cuộc sống.
VI. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Trong năm học qua, nhờ áp dụng sáng kiến, chúng tôi đã nhận được sự
ủng hộ nhiệt tình từ phía phụ huynh và thu được kết quả đáng khích lệ. Cụ thể:
- Học sinh tích cực hơn trong mọi hoạt động, đồng thời hiệu quả giáo dục ở
tất cả các môn học ngày càng được nâng cao, góp phần tạo nên lớp thanh niên
nhiệt tình, năng động, tích cực vươn lên trong cuộc sống.
- Việc áp dụng sáng kiến sẽ giảm bớt thời gian giáo viên tự học, tự nghiên
cứu và kinh phí cho việc tập huấn cho đội ngũ giáo viên tiểu học.
Do đó, hiệu quả kinh tế sáng kiến mang lại rất lớn, khó có thể tính toán.
Một số hiệu quả cụ thể của sáng kiến:
1. Khắc phục được một số hạn chế, bất cập của nội dung, chương trình
và tài liệu kĩ năng sống cấp tiểu học
Việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh đã được thực hiện
song song giữa lí thuyết và thực hành tác động được đến tất cả quá trình nhận
thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi - thói quen ứng xử. Giáo viên kiểm
soát được hành vi của học sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho phù hợp.
13


Phạm vi của nội dung giáo dục mang tính thực tiễn cao do sử dụng tình
huống xảy ra hàng ngày, do đó phát huy triệt để kĩ năng đã học của học sinh.
Việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực diễn ra thường xuyên, liên tục nên
thuận lợi cho việc hình thành thói quen ứng xử tích cực cho học sinh.
Phát huy được tư duy sáng tạo của giáo viên. Học sinh nhận thấy việc rèn
thói quen ứng xử tích cực là thiết thực nên chủ động trong mọi hoạt động.

8

8

11

0

6

4

5

1 HS đạt Huy chương
Đồng cấp Quốc gia

4

3

6

18

1 HS đạt Huy chương
Vàng cấp Quốc gia

11


14


+ Học sinh có ý thức xây dựng môi trường học tập thân thiện, bảo vệ môi
trường sống, biết giữ gìn và bảo vệ đồ dùng cá nhân, tài sản của lớp, của trường.
Trên đây là sáng kiến mà chúng tôi đã áp dụng khi thực hiện công tác giáo
dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh trường tiểu học Lê Hồng Phong và đã
mang lại những kết quả thiết thực. Với những kết quả đạt được, chúng tôi hy
vọng có thể áp dụng kinh nghiệm này với tất cả giáo viên, ở bất cứ lớp nào cấp
Tiểu học để thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay. Chúng
tôi rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, các thầy cô và đồng
nghiệp để sáng kiến của chúng tôi được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự
thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật./.
Ninh Bình, ngày 28 tháng 4 năm 2016
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Hoàng Thị Thu

ĐỒNG TÁC GIẢ

Trần Thị Kiều Phương

Lương Thị Oanh

Đỗ Thị Như Thanh

TRƯỜNG TH LÊ HỒNG PHONG - THÀNH PHỐ NINH BÌNH

Xác nhận

- Suốt hai năm qua, do vết nứt của tôi mà nước đã bị rò rỉ trên đường về nhà, ông
đã phải làm việc chăm chỉ nhưng kết quả mang lại cho ông đã không hoàn toàn như
ông mong đợi - Cái bình nứt đáp.
Với lòng trắc ẩn của mình, người gùi nước rất thông cảm với cái bình nứt,
ông ta nói: "Khi chúng ta trên đường về nhà, ta muốn ngươi chú ý đến những bông
hoa tươi đẹp mọc bên vệ đường".

Chiếc bình luôn mặc cảm với vết nứt của mình...
Quả thật, cái bình nứt đã nhìn thấy những bông hoa tươi đẹp dưới ánh nắng
mặt trời ấm áp trên đường về nhà và điều này khuyến khích được nó đôi chút.
Nhưng khi đến cuối đường mòn, nó vẫn cảm thấy rất tệ bởi nước đã chảy ra rất
nhiều, một lần nữa nó lại xin lỗi người gùi nước.
Người gùi nước liền nói: "Ngươi có thấy rằng những bông hoa kia chỉ nở
một bên vệ đường, chỉ phía bên ngươi không? Thật ra, ta đã biết rất rõ về vết nứt
của ngươi, và ta đã lấy điểm yếu đó để biến nó thành điều có ích. Ta đã gieo một số
hạt hoa ở vệ đường phía bên ngươi, và mỗi ngày trong khi ta gùi nước về nhà, ta đã
tưới chúng từ những chỗ rò rỉ của ngươi. Giờ đây, ta có thể hái những bông hoa
tươi tắn ấy để trang trí nhà cửa của ta. Không có vết nứt của ngươi, ta đã không có
những bông hoa duyên dáng để làm đẹp ngôi nhà của mình".
(Theo ngoisao.net)

16


2. Một số hình ảnh về giáo dục hành vi ứng xử tích cực ở trường Tiểu
học Lê Hồng Phong, thành phố Ninh Bình

Cán bộ, giáo viên và học sinh trường tiểu học Lê hồng Phong
tham gia nhận giải “Tài năng Tiếng Anh”cấp toàn quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status