ĐỀ CƯƠNG ôn THI lớp TRUNG cấp CHÍNH TRỊ môn kĩ NĂNG LÃNH đạo - Pdf 37

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI LỚP TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ
MÔN KĨ NĂNG LÃNH ĐẠO


BÀI 1: HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Khái quát về hoạt động lãnh đạo, quản lý và vai trò hoạt động lãnh đạo,
quản lý ở cơ sở.? Sự giống và khác nhau giữa hoạt động lãnh đạo và quản

- Khái niệm hoat động lãnh đạo:
+ Hoạt động lãnh đạo là hoạt động mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo
dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng lòng với người lãnh đạo thực
hiện đường lối, chủ trương hoặc hệ thống mục tiêu nào đó. Lãnh đạo tạo hiệu
ứng điều khiển, dẫn dắt người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu
chuẩn đạo đức, lý tưởng ... mà không mang tính cưỡng bức đối với người khác.
- Khái niệm hoat động quản lý:
+ Hoạt động Quản lý mang tính kỹ thuật, quy trình, được quy định rõ trong
khuân khổ các thể chế xác định.
- Mối quan hệ giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý.
+Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Điểm chung
của 2 loại hoạt động này là đều đạt đến mục đích mong muốn thông qua hành
động của người khác. Nói cách khác hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý là
hoạt động điều khiển con người.
+ Điểm khác biệt giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý là ở chỗ lãnh
đạo sử dụng uy tín và sự thuyết phục nhiều hơn, sử dụng quyền lực ít hơn; quản
lý sử dụng quyền lực nhiều hơn, sử dụng uy tín và sự thuyết phục ít hơn. Hoạt
động quản lý thường được thực hiện theo một quy chế , chuẩn mực, nguyên tắc
rõ ràng. Lãnh đạo ko dựa nhiều vào quy chế mà dựa vào sự thuyết phục và cảm
hóa mang tính nhận thức, tình cảm. Cán bộ nào cũng đồng thời thực hiện cả vai
trò lãnh đạo và vai trò quản lý. Vì thế người ta thường gọi chung là hoạt động
lãnh đạo, quản lý.
- Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Trong thực tế

- Hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở góp phần tạo dựng sức mạnh bền vững
của hệ thống chính trị. Nhờ có sự quản lý ở cấp cơ sở mà hoạt động của dân cư
và các tổ chức trên địa bàn đi vào nề nếp, kỷ cương, giảm nhẹ vai trò quản lý,
giám sát của cấp trên. Hơn nữa, sự chuyên nghiệp, linh hoạt và tận tâm của cán
bộ quản lý cấp cơ sở làm tăng uy tín của hệ thống chính trị. Ngược lại sự yếu
kém của cấp cơ sở, nhất là việc xử lý quan liêu, thiếu chuyên nghiệp của đội ngũ
cán bộ cơ sở không những làm cho hệ thống chính trị thiếu bền vững, mà còn
làm phai nhạt niềm tin của quần chúng vào hệ thống chính trị.
2: Nội dung hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở:
* Có 3 nội dung.
Nội dung thứ nhất: Xây dựng mục tiêu, phương hướng, kế hoạch hoạt động
ở cơ sở.
- Dự báo
+ Dự báo là phán đoán một cách có căn cứ khoa học xu hướng phát triển
của xã, huyện, tỉnh, cả nước trong thời gian trước mắt và lâu dài nhằm cung cấp
luận cứ cho việc xây dựng chủ trương, chính sách, kế hoạch, hành động của cơ
sở.
+ Nội dung của dự báo: bao gồm những biến động bên trong, bên ngoài
cấp cơ sở theo chiều hướng có lợi và không có lợi. Cụ thể là phải dự báo về sự
thay đổi của môi trường tự nhiên, kinh tế, xã, hội, chính trị ảnh hưởn đến cơ sở
như thế nào; dự báo về sự thay đổi của cơ sở về các phương diện, thẩm quyền,
nguồn lực, nhiệm vụ khó khăn, thuận lợi khi thực thi nhiệm vụ để có kiến nghị
đối phó thích hợp; dự báo về sự thay đổi mục tiêu của cơ sở do sự biến động
chung và riêng ...
+ Để có thể dự báo khoa học, cơ sở phải tổ chức điều tra, thu thập dữ liệu
và xử lý thông tin một cách hệ thống, theo các phương pháp khoa học. Phương
pháp dự báo khoa học là dựa trên các lý thuyết khoa học tiên tiến và cơ sở dữ
liệu thông tin đầy đủ. Cấp cơ sở cần sử dụng các dự báo của các tổ chức cung
cấp thông tin quốc gia như thông tin của các bộ chuyên ngành, thông tin của cấp
trên, thông tin của các tổ chức quốc tế. Cũng cần phải có cán bộ đảm trách công

mục tiêu chính trị, mục tiêu xã hội, mục tiêu văn hóa, mục tiêu an ninh quốc
phòng... Nếu xét theo chủ thể thực hiện mục tiêu thì còn có mục tiêu của UBND
xã, phường, thị trấn, mục tiêu của Đảng ủy xã, phường, thị trấn mục tiêu của
đoàn thanh niên xã , phường, thị trấn, mục tiêu Hội Phụ nữ, Hội nông dân xã,
phường, thị trấn...
- Lập kế hoạch, chương trình hành động thực hiện các mục tiêu:
+ Thứ nhất: xây dựng các chương trình hành động để thực hiện mục tiêu:
Chương trình hành động là tổng thể các nỗ lực của cấp cơ sở đi đôi với tổng
nguồn lực và phương thức sử dụng nguồn lực tương ứng để đạt đến mục tiêu.
Thông thường cấp cơ sở có các loại chương trình hành động theo lĩnh vực
(chương trình phát triển kinh tế, chương trình xây dựng trường học, trạm xá ...);
chương trình theo mục tiêu phân bổ (như chương trình xóa đói, giảm nghèo,
chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, chương trình nước sạch ....); chương
trình giải quyết vấn đề cấp bách của địa phương ...
+ Thứ hai, lập kế hoạch hành động cho từng mục tiêu, từng bộ phận, cá nhân và
theo thời gian.
Có hai loại kế hoạch cần phải xây dựng: một là, kế hoạch hoạt động
thường kỳ của cơ sỏ và hai là, kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu.


Kế hoạch thường kỳ là lịch trình thực hiện các chức năng ổn định của cơ
sở như kế hoạch 1 năm, kế hoạch 5 năm, chiến lược cho từng giai đoạn. Đây là
dạng kế hoạch sắp xếp hoạt động của cơ sở theo một tiến trình thời gian đi đôi
với sự phân bổ hợp lý nguồn kinh phí và biên chế đủ để hoàn thành nhiệm vụ
được giao. Nội dung của các kế hoạch này bao gồm 3 phương diện:
Hành động: các hoạt động cần hoàn thành trong kỳ kế hoạch được phân
bổ theo tiến độ thời gian cụ thể.
Kinh phí: là kế hoạch phân bổ kinh phí cho các hoạt động đi cùng chế độ
chi tiêu, quản lý rõ ràng.
Con người: mỗi hoạt động và kinh phí tương ứng phải giao cho tổ chức và

do một tổ chức nào đó tài trợ. Cán bộ quản lý, căn cứ dự toán đã được phê duyệt
để phân bổ kinh phi cho các lĩnh vực và hoạt động liên quan đúng với chế độ,
chính sách và định mức của nhà nước.; Khi phân bổ kinh phí cần chú ý đến tiến
độ giải ngân sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, tự
nhiện của từng hoạt động. Tiến độ cấp kinh phí phải phục vụ tốt cho việc hoàn


thành công việc được giao. Để tránh hai xu hướng ko tốt trong phân bổ kinh phí
( cố tình làm chậm quá trình cấp kinh phí để vụ lợi và khoán trắng cho cán bộ
phụ trách công việc), cần kiểm tra giám sát việc thực hiện kinh phí, thậm chí cần
điều chỉnh nếu thấy cần thiết. Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ với kho bạc nhà
nước về thông tin kế hoạch, về tiến độ thực hiện để giảm thiểu những trở ngại
trong khâu giải ngân.
+Huy động, bố trí sử dụng vật tư, thiết bị.
Việc sử dụng tài sản đã đầu tư thường theo chế độ chính sách của nhà
nước và việc huy động các nguồn lực này phải theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu
quả với chế độ duy tu, bảo dưỡng và thay thế hợp lý.
Lĩnh vực cần chú ý là đầu tư mới và mua vật tư, thiết bị bổ sung, về
nguyên tắc các khoản đầu tư và mua lớn phải thông qua đấu thầu theo quy định
của nhà nước. Tuy nhiên do năng lực thực hiện dự án của các cấp cơ sở thấp
nên tốt nhất là sử dụng dịch vụ tư vấn và quản lý đầu tư.
Các khoản mua sắm khác cần được giám sát nhằm phòng tránh hiện
tượng chuyển giá.
- Thiết lập và củng cố, đổi mới bộ máy tổ chức, quản lý
+ Thiết lập mới bộ máy lãnh đạo, quản lý.
Bộ máy quản lý là một chính thể các bộ phận quản lý có chức năng,
nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng chung nhau mục tiêu là lãnh đạo, quản lý đơn
vị hoàn thành nhiệm vụ. Các bộ phận cấu thành bộ máy quản lý gồm cấp và
khâu quản lý.
Cấp quản lý là các nấc thang khác nhau trong hệ thống phân cấp quản lý.

Ưu điểm của phương pháp này là vừa tận dụng được kinh nghiệm đã tích lũy
trong quá khứ, vừa phát huy tính sáng tạo của các chuyên gia từ đó lựa chọn
được cơ cấu tổ chức quản lý tối ưu. Nhược điểm là tốn kém, khó áp dụng nếu
thiếu chuyên gia giỏi, chuyên nghiệp.
Ba là, Xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý mới dựa trên kỹ thuật phân tích công
việc, định mức lao động và hệ thống các chức danh phù hợp với đơn vị. Đây là
phương pháp hiện đại , thích hợp với việc xây dựng mọi loại hình cơ cấu tổ chức
quản lý . Tuy nhiên nó đòi hỏi khoa học tổ chức lao động đã khá phát triển, đã
hình thành được hệ thống định mức công việc bao trùm hết các chức danh của
cơ cấu tổ chức quản lý mà điều này ko phải ở địa phương nào cũng có.
- Củng cố, đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy cũ
Quy trình củng cố, đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý của cơ sở thường trải
qua 3 bước:
Bước 1, Phân tích: Nếu muốn sửa chữa một cơ cấu cũ thì trong bước phân
tích người ta phải tìm ra được điểm yếu, điểm mạnh, điểm phù hợp và chưa phù
hợp của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý cũ với yêu cầu của chức năng , nhiệm
vụ mới.
Bước 2,Thiết kế: Xác định cụ thể số cấp, khâu quản lý với quyền hạn và
trách nhiệm từng cấp, từng khâu rõ ràng. Xây dựng quy chế vận hành đơn vị.
Xác định biên chế và tiêu chuẩn cán bộ cho từng chức danh.
Bước 3: Vận hành cơ cấu tổ chức quản lý mới. Tuyển chọn, đào tạo và bổ
nhiệm cán bộ vào các chức danh. Ban hành quy chế. Vận hành thử, điều chỉnh
sái sót và chính thức công nhận cơ cấu tổ chức quản lý mới (phê chuẩn của cấp
có thẩm quyền).
- Hoạt động đối ngoại.
Đối ngoại được hiểu ở đây là thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, tổ
chức ngoài đơn vị. Cấp cơ sở có 2 luồng quan hệ đối ngoại cần chú trọng điều
chỉnh.
Thứ nhất, quan hệ công tác với cấp trên. Đây là mối quan hệ chủ đạo. Cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở không những phải cập nhật thông tin từ cấp trên

+ Điều chỉnh kế hoạch, chương trình hành động khi cần thiết là hoạt động
ko thường kỳ, nhưng khá quan trọng của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở. Do kế
hoạch được xây dựng trên cơ sở.
Do kế hoạch được xây dựng trên cơ sở dự báo với nhiều tham số chưa thể
kiểm soát nên kế hoạch có thể không hoàn toàn trùng khớp với diễn biến thực tế.
Khi những thay đổi trong thực tế vượt quá mức dự phòng của kế hoạch thì cán
bộ lãnh đạo, quản lý phải điều chỉnh kế hoạch. Hoặc cũng có thể điều chỉnh thay
thế một số chi tiết nào đó nếu dự báo là không chính xác. Trong điều hành hết
sức tránh tư tưởng trì trệ, ko thích sự thay đổi cho dù thay đổi là sự cần thiết.
Ngược lại cũng nên tránh hành động thay đổi tùy tiện, thay đổi theo ý thích chủ
quan của cán bộ lãnh đạo, quản lý mà ko thật sự cần thiết đối với cơ sở.
Các dấu hiệu nhận biết cần điều chỉnh thường là tình trạng quá tải của đơn
vị; Tình trạng lãng phí trong đơn vị; Nhiệm vụ, yêu cầu có sự thay đổi lớn;
nguồn lực được phát hiện thêm hoặc bị rút bớt đi, môi trường hoạt động chịu
biến động lớn ...
Phương pháp điều chỉnh phổ biến là sử dụng kế hoạch dự phòng, kỹ thuật
phòng tránh rủi do, bảo hiểm. Trong trường hợp các kỹ thuật trên không đáp ứng
thì cần phát huy sức sáng tạo của cá nhân và tập thể trong đơn vị để tìm phương
thức ứng phó.
Nguyên tắc điều chỉnh là luôn luôn hướng tới mục tiêu cơ bản, lâu dài của
tổ chức để cân đối lại các hoạt động. Trong trường hợp điều chỉnh dẫn đến mâu
thuẫn giữa các mục tiêu đã định trước, cần ưu tiên mục tiêu có ý nghĩa quyết
định đối với đơn vị cơ sở.
Nội dung thứ 3:Thực hiện kiểm tra, đánh giá, và xây dựng môi trường làm
việc ở cơ sở
- Xây dựng và điều hành chế độ kiểm tra


Kiểm tra là đo lường và trấn chỉnh hoạt động của đơn vị nhằm đảm bảo
rằng mọi việc, mọi con người trong tổ chức đang thực hiện theo đúng kế hoạch

Đánh giá là đưa ra phán xét tốt, xấu về một công việc nào đó, về một bộ
phận hay con người nào đó. Cơ sở của đánh giá là yêu cầu đối với công việc,
chức năng, nhiệm vụ của bộ phận hay cá nhân.
Nội dung đánh giá bao gồm:
+ Đánh giá công việc: dựa trên các tiêu chuẩn định sẵn cho từng công việc
cụ thể như số lượng, chất lượng, tiến độ, chi phi, định mức ... để đưa ra các kết luận
cụ thể.
+ Đánh giá con người: thường đánh giá theo chức danh và theo tiêu chuẩn
hành nghề với các tiêu chí hoàn thành hay không hoàn thành công việc được
giao; thái độ đối với công việc; Cống hiến cho đơn vị; ảnh hưởng đến người
khác...
Phương pháp đánh giá thường theo tiêu chuẩn, theo thang điểm hoặc theo
nhận xét của số đông đồng nghiệp.


Thẩm quyền đánh giá thường được giao cho cán bộ quản lý cấp trên trực
tiếp hoặc tập thể nơi cá nhân công tác. Cũng có thể sử dụng đánh giá của khách
hàng, đối tác.
Việc xây dựng và điều chỉnh chế độ kiểm tra, đánh giá góp phần nâng cao
chất lượng và hiệu quả công việc, gắn liền với việc thực hiện chế độ động viên,
khuyến khích ( khen thưởng, phê bình, kỷ luật).
- Xây dựng môi trường làm việc hiệu quả ở cơ sở.
Môi trường làm việc ảnh hưởng lớn đến tinh thần và qua đó ảnh hưởng
đến hiệu suất công tác của cán bộ, nhân viên. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở có
trách nhiệm xây dựng môi trường làm việc hiệu quả cho phép không chỉ thu hút
và giữ chân người tài, mà quan trọng hơn là cung cấp môi trường cho họ cống
hiến hế năng lực của họ. Môi trường hoạt động hiệu quả thường phải có các tính
chất: đoàn kết, chia sẻ, thân thiện, cảm thông và hỗ trợ lẫn nhau.
Đồng thời cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở phải quan tâm xây dựng truyền
thống tốt đẹp của đơn vị nhằm tạo dựng niềm tự hào chính đáng cho những người

Yếu tố cá tính là những đặc điểm tâm lý của người lãnh đạo (tính cách,
khí chất, trí tuệ, xu hướng, trình độ, V.V.). Đây là những yếu tố có tính ổn định
tưomg đối.
Yếu tố môi trường bao gồm trạng thái hiện tại của tổ chức, đặc điểm
tâm sinh lý của cấp trên, người ngang cấp, cấp dưới, thói quen, truyền thống,
bầu không khí tâm lý, trình độ nguồn nhân lực trong tổ chức, những điều kiện
kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước, hệ thống giá trị đạo đức, hệ tư tưởng, v.v.
những yếu tố trên luôn chi phối phong cách của người lãnh đạo.
Phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện một khoa học và tổ chức của
công tác lãnh đạo, quản lý mà còn thể hiện chí hướng, tài năng, tính độc đáo,
nghệ thuật tác động, ảnh hưởng của người lãnh đạo đến người khác trong hệ
thống quản lý.
Phong cách lãnh đạo là phong cách cá nhân, song nó luôn gắn liền với
tính lịch sử, tính giai cấp, hệ tư tưởng, giá trị đạo đức, tâm lý xã hội, truyền
thống của cộng đồng dân tộc.


Trong xã hội xã hội chủ nghĩa tồn tại phong cách lãnh đạo chung và
phong cách lãnh đạo cá nhân. Phong cách lãnh đạo chung là phong cách của
Đảng Cộng sản cầm quyền, nó định hướng, chỉ đạo cho phong cách lãnh đạo của
từng cá nhân người lãnh đạo.
Mỗi người lãnh đạo trong quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến
người khác luôn có ý thức về hướng ưu tiên nhất định khi lựa chọn mục tiêu,
cách thức hay biện pháp, lối ứng xử trong quá trình thu nhập thông tin, ra quyết
sách hay xử lý một tình huống nhất định.
Sự định hướng về mục tiêu, lề lối ứng xử, cách thức hay phương pháp
ra quyết sách, v.v. được lặp đi lặp lại trở nên ổn định sẽ tạo nên một mẫu hành vi
hay một phong cách hoạt động. Vì thế, nói đến phong cách lãnh đạo trong việc
sử dụng những loại quyền lực, tri thức, trí tuệ và trách nhiệm được giao.
Việc lựa chọn phong cách của người lãnh đạo như thế nào sẽ liên quan

Phong cách làm việc của người lãnh đạo được thể hiện thông qua biện
pháp, phương pháp. Biện pháp hay phương pháp là một phần không thể thiếu
được của phong cách, song trong phong cách còn chứa đựng những nội dung
tâm lý của chủ thể có liên quan đến việc sử dụng biện pháp, phương pháp.
- Cách tiếp cận phong cách từ hành vi.
- Cách tiếp cận này coi phong cách lãnh đạo là một dạng (mẫu) hành
vi là cách tiếp cận được nhiều người thừa nhận và có giá trị thực tiễn.
- Cách tiếp cận khái quát về phong cách lãnh đạo
Theo cách tiếp cận này chúng ta có thể nhìn nhận phong cách lãnh
đạo dựa trên những đặc trưng bản chất như:
Phong cách lãnh đạo được coi là nhân tố quan trọng trong lãnh đạo,
quản lý; nó gắn liền với kiểu người lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo.
Phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện chí hướng, tài năng tính độc
đáo mà còn thể hiện nghệ thuật tác động, ảnh hưởng của người lãnh đạo đến
người khác trong hệ thống quản lý.
Nhìn chung, đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau phong cách
lãnh đạo. Tuy nhiên, các ý kiến trên đều có điểm chung là nói đến hoạt động
lãnh đạo, quản lý là nói đến chủ thể của lao động, người lãnh đạo trong quá trình
thực hiện thẩm quyền của mình, luôn có ý thức lựa chọn mục tiêu, cách thức hay
biện pháp lề lối ứng xử. Sự định hướng về mục tiêu, lề lối ứng xử, cách thức hay
phương pháp ra quyết sách v.v. được lặp đi lặp lại trở nên ổn định sẽ tạo nên
một mẫu hành vi hay phong cách hoạt động. Vì nói đến phong cách lãnh đạo là
nói đến hệ thống các mẫu hành của người lãnh đạo trong sử dụng những loại
quyền lực, tri thức, trí tuệ và trách nhiệm được giao. Trong quá trình thu thập
thông tin, ra quyết sách hay xử lý mọi tình huống nhất định việc lựa chọn hành
vi (phong cách) của người lãnh đạo như thế nào sẽ liên quan đến sự thành công
hay thất bại của người đó và của cả tập thể.
Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà tâm lý học, các nhà tâm lý
học Việt Nam đưa ra khái niệm phong cách như sau:
Phong cách lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo, quản lý là mẫu hành vi mà

1.2.3 Phong cách lãnh đạo tự do
Người lãnh đạo có phong cách này thường tham gia ít nhất vào công
việc của tập thể, hầu như giao hết quyền hạn, trách nhiệm cho mọi người. Thông
tin trong tổ chức được cung cấp cho mọi người và cho phép mọi người tự do
hành động theo suy nghĩ, theo cách thức mà mình cho là tốt nhất.
Ưu điểm của phong cách này là phát huy tối đa khả năng củ cấp dưới
song dễ dẫn đến tình trạng người lãnh đạo thiếu trách nhiệm; tình trạng hỗn
loạn, vô chính phủ.
1.2.4 Phong cách lãnh đạo định hướng mục tiêu


Trong loại phong cách lãnh đạo này, có thể chia nhỏ thành cáx phong
cách lãnh đạo như sau:
Phong cách chỉ đạo trực tiếp: Giải thích cho cấp dưới về những gì mà
người lãnh đạo mong đợi ở họ. Người lãnh đạo đưa ra những chỉ dẫn, luật lệ, kế
hoạch và tiêu chuẩn cụ thể.
Phong cách hỗ trợ: Đối xử công bằng và thân thiện với những người
cấp dưới trong khi theo đuổi sự hoàn thiện các hoạt động của họ. Quan tâm tới
nhu cầu khuyến khích họ tạo ra bầu không khí hợp tác và thân thiện.
Phong cách tham gia: Tham vấn với những người dưới quyền, theo
đuổi những đề nghị của họ, quan tâm đặc biệt tới những đề nghị đó khi ra quyết
định.
Phong cách lãnh đạo theo kết quả đạt được: Đặt ra các mục tiêu, thách
thức và khuyến khích cấp dưới làm việc tốt và thể hiện sự tin tưởng và năng lực
của nhóm.
1.2.5 Phong cách lãnh đạo Lêninnít
V.I.Lênin đã đề xuất một cách toàn diện những luận điểm quan trọng
nhất về phong cách lãnh đạo xã hội chủ nghĩa và được gọi là phong cách
lêninnít. Cơ sở của phong cách lãnh đạo này là phương pháp biện chứng mácxít,
là quan điểm cách mạng phê phán.

- Thái độ của người lãnh đạo đối với những sáng kiến, sáng tạo của người
dưới quyền.
- Thái độ nghiêm khắc của người lãnh đạo đối vói chính mình.
2. NHỮNG YÊU CẦU VÀ BIỂU HIỆN ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG
CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ.
2.1. Những yêu cầu của phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo, quản lý cơ
sở
Cấp cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng
và chính sách, pháp luật của nhà nước.
Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao, người lãnh đạo các tổ chức
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở phải gần gũi, sâu sát và am hiểu quần chúng,
có khả năng tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút quần chúng.
Công tác lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở là công tác có tính tổng hợp và rất
phức tạp. Mục tiêu, hiệu quả mà lãnh đạo cấp cơsở hướng tới là sự phát triển
kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở địa
phương, đó là sự đồng thuận, đoàn kết, là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, môi trường lãnh đạo ở xã, phường, thị ừấn liên
quan đến phạm vi cả nước, thậm chí cả khu vực và thế giới.
Cấp cơ sở cũng là cấp đang diễn ra sự thay đổi nhanh chóng về nhiều lĩnh
vực và ngày càng gia tăng tính phức tạp. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển
các khu công nghiệp, v.v. đã làm cho bộ mặt xã, phường thay đổi từng ngày theo
hướng hiện đại, song cũng xuất hiện hàng loạt những vấn đề khó khăn, bức xúc
này sinh như: vấn đề đất đai của người nông dân, chuyển đổi việc làm, tệ nạn xã
hội, môi trường sống, v.v..


Người lãnh đạo Đảng, quản lý nhà nước, lãnh đạo các đoàn thể quần chúng
cần mở rộng dân chủ, bàn bạc, hợp tác, tạo điều kiện cho người dân cùng tham
gia vào việc ra quyết định, giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh thì mới có

Cấp cơ sở là cấp tổ chức thực hiện nên đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải
có năng lực tổ chức, kỹ năng giao tiếp, am hiểu con người và sử dụng con người
đúng việc, đúng chỗ.


2.2.2.3. Tác phong làm việc hiệu quả, thiết thực
Tính hiệu quả thiết thực là tiêu chí đánh giá tài - đức của cán bộ lãnh đạo,
đánh giá sự phù hợp hay không của phong cách lãnh đạo.
Cấp cơ sở là nơi hiện thực hóa, đưa đường lối chủ trương, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, vì vậy đòi hỏi tác phong làm việc của
cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực khi
đưa ra các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện.
2.2.2.4. Tác phong đi sâu đi sát quần chúng
Tác phong đi sâu đi sát quần chúng là đặc trưng riêng biệt của phong cách
lãnh đạo cấp cơ sở. Có đi sâu đi sát quần chúng mới có được tác phong khoa
học, dân chủ, tác phong hiệu quả và thiết thực.
2.2.2.5. Tác phong tôn trọng và lắng nghe ý kiến quần chúng
Dân là gốc nước, dân là chủ, mọi nguồn sức mạnh, trí tuệ, sáng tạo đều từ
nhân dân mà ra. Chính vì thế tác phong tôn trọng và lắng nghe quần chúng
không chỉ là đặc trưng cơ bản của phong cách lãnh đạo cấp cơ sở mà còn là
nguyên tắc làm việc, nguyên tắc ứng xử của người lãnh đạo.
2.2.2.6. Tác phong khiêm tốn học hỏi và thực sự cầu thị
Khiêm tốn học hỏi sẽ giúp cho cản bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tiến bộ, có
thêm kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có phong cách khiêm tốn học hỏi và thực
sự cầu thị sẽ dễ gần được quần chúng, chiếm được sự cảm tình, tôn trọng của
quần chúng.
2.2.2.7. Tác phong làm việc năng động và sáng tạo
Người lãnh đạo năng động, sáng tạo phải là người nhạy bén trong việc phát
hiện cái mới, ủng hộ những cái mới tích cực, nh5 nỏ lên thành diện rộng, thành

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần
nhấn mạnh: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; đảng viên, lãnh đạo đều
“từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Người lãnh đạo theo quan
điểm Hồ Chí Minh là “công bộc của dân”, là “đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Chính vì thế trong công tác lãnh đạo phải xuất phát từ quan điểm: Dân là gốc.
Nếu xa dân, tách rời dân chúng sẽ dẫn đến phong cách quan liêu.
Phong cách lãnh đạo không tự nhiên mà có. Xây dựng và hoàn thiện phong
cách lãnh đạo của người cán bộ cơ sở là một quá trình có chủ đích, có định
hướng, đòi hỏi mỗi người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải tự rèn luyện bồi
dưỡng mới có được, đặc biệt là kỹ năng áp dụng linh hoạt, hợp lý các phong
cách, thủ thuật lãnh đạo với một đối tượng cụ thể trong một tình huống cụ thể.
Muốn khắc phục phong cách lãnh đạo quan liêu cần:
- Chú trọng tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, hình thành ý
thức và tâm lý xã hội về chống phong cách quan liêu không chỉ trong đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý mà trong toàn xã hội.
- Xây dựng cơ sở pháp lý chống phong cách lãnh đạo quan liêu.
- Hoàn thiện thể chế lãnh đạo, quản lý trong đó quy định rõ chức năng,
nhiệm vụ của từng vị trí chức danh, quy định sự tương ứng giữa chức vụ, thẩm
quyền và trách nhiệm.


Chú trọng sử dụng thông tin đại chúng, dư luận xã hội đểkhắc phục
phong cách quan liêu. Tăng cường vai trò kiểm của nhân dân.
- Xây dựng văn hóa lãnh đạo, tăng cường thực hiện pháp và trật tự pháp
luật cho mỗi cán bộ, công chức.
Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, những giải pháp nêu cần được tiến hành
đồng bộ, gắn liền với những nội dung cải cách hành chính, nhất là cải cách cơ
cấu tổ chức bộ máy và quá trình chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ, công chức
nói chung và cấp cơ sở nói riêng, khắc phục phong cách quan liêu cần chú trọng
thểhiện đồng bộ các giải pháp khác.

3.2.5. Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ chức cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở để rèn luyện, đổi mới phong cách lãnh
đạo
Trong phong cách lãnh đạo những đặc điểm về mặt nghiệp vụ - tổ chức có
vị trí hết sức quan trọng vì nó phản ánh hoạt động của người lãnh đạo, quản lý.
Để xây dựng, đổi mới phong cách lãnh đạo theo hướng dân chủ, khoa học,
thiết thực đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải chú trọng rèn luyện để
có được quan điểm khoa học, tính tổng hợp, tầm nhìn xa, kỹ năng tổ chức, kiểm
tra và giám sát.
Một yêu cầu không thể thiếu đối với người lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện
nay trong công tác cần phải chú trọng rèn luyện kỹ năng đánh giá và sử dụng
cán bộ, kỹ năng đổi mới kỹ thuật và đổi mới tổ chức, cần biết tiếp thu và vận
dụng linh hoạt, sáng tạonhững thành tựu của khoa học lãnh đạo hiện đại, hình
thành nhí kỹ năng lãnh đạo hiện đại; đảm bảo tính hiệu quà trong công tác phải
tháo vát, nhạy bén, có kỹ năng cập nhật những thay đổi trong quá trình phát triển
về kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v..
3.2.6. Rèn luyện, đổi mới phong cách lãnh đạo thông qua thực tiễn sự nghiệp
đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Muốn lãnh đạo được tin, dân yêu, đội
ngũ cán bộ cấp cơ sở phải học tập, rèn luyện thực tiễn. Chính thực tiễn sôi động
của sự nghiệp đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế giúp cho người cán bộ cơ sở
tự ý thức được sự hạn chế, thiếu hụt của bản thân để có kế hoạch học tập rèn
luyện. Đồng thời, giúp cán bộ cấp cơ sở bổ sung, hoàn thiện thêm những thiếu
hụt về kiến thức, năng lực, kinh nghiệm và năng công tác, vận động quần chúng
đáp ứng với yêu cầu của sựnghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Thực tiễn là môi trường rèn luyện tài - đức của cán bộ lãr đạo. Lãnh đạo ở
cấp trung gian và cấp cơ sở là nơi hiện thực hóa đưa đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Vì thế đòi hỏi tác
phong làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải được rèn luyện
trong thực tiễn sựnghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế sâu rộng, đảm bảo các

+ Cán bộ là những người được hình thành qua con đường bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
+ Công chức là những người được hình thành qua con đường tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
+ Cán bộ, công chức cấp xã:
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội;
(Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 về chức danh, số
lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị
trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã)
+ Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ ở cấp xã (sau đây
gọi chung là cán bộ cấp xã), gồm:
Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức


danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
+ Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
Trưởng Công an;

mưu phá hoại từ bên trong của các thế lực thù địch.
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đánh giá cán bộ:
Theo Người, ''cán bộ là gốc của công việc'', Người cho rằng để nhận xét
được cán bộ tốt thì Đảng phải thường xuyên đánh giá cán bộ và có phương pháp
đánh giá đúng. Đánh giá đúng cán bộ tức là xác định chính xác ai tốt, ai xấu, ai
mạnh chỗ nào, yếu chỗ nào, khả năng hoàn thành công việc đến đâu, quan hệ
với quần chúng ra sao để từ đó ''tìm thấy những nhân tài mới... những người hủ
hoá cũng lòi ra''
Thực tiễn cho thấy,Đánh giá cán bộ là công việc cực kỳ khó khăn nhưng rất
hệ trọng, vì vậy việc đánh giá phải có nguyên tắc, quy trình, quy chế chặt chẽ,
thống nhất trong toàn Đảng, mọi cấp, mọi ngành, bảo đảm cho công tác cán bộ
có hiệu quả.
1.2. Các kỹ năng đánh giá cán bộ ở cơ sở
1.2.1.Nguyên tắc đánh giá cán bộ ở cơ sở
Một là, Cấp uỷ Đảng mà thường xuyên và trực tiếp là ban thường vụ Đảng
uỷ cấp cơ sở thống nhất quản lý công tác đánh giá trong phạm vi trách nhiệm
được phân công
- Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung tối cao: Đảng trực tiếp và
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ.
Nguyên tắc này chỉ rõ: Trách nhiệm đánh giá cán bộ thuộc về cấp uỷ, tổ
chức đảng và lãnh đạo cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác; cơ quan quản lý cấp
trên trực tiếp của cán bộ và bản thân cán bộ tự đánh giá.
Tập thể lãnh đạo cấp trên trực tiếp quản lý cán bộ phân tích, đánh giá ưu
điểm, khuyết điểm của cán bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao để kết
luận: Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành ở mức thấp, không hoàn thành, hoặc
có nhiều thiếu sót, khuyết điểm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status