BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
TP.HCM. 2010
LỜI CÁM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ của quý Thầy cô Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, đồng nghiệp và bạn bè gần xa.
Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của tất cả giảng viên Khoa
Tâm lý Giáo dục đã trực tiếp giảng dạy tôi, sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô Phòng Công
nghệ - Sau đại học trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt thời gian học
tập vừa qua.
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Phòng, Khoa, Bộ môn,
cùng tập thể cán bộ - giáo viên - công nhân viên trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần
Thơ đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng người đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã nỗ lực, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất
định; rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô trong Hội đồng khoa học cùng các bạn
: Giáo dục và Đào tạo
- GV
: Giáo viên
- HS
: Học sinh
- HV
: Học viên
- NXB
: Nhà xuất bản
- QL
: Quản lý
- THCN
: Trung học Chuyên nghiệp
- THCS
: Trung học Cơ sở
rõ “ phải xây dựng Thành phố Cần Thơ thành đô thị loại I cấp quốc gia trước năm 2010,
Thành phố Cần Thơ là cửa ngỏ của vùng hạ lưu sông Mêkông, là trung tâm công nghiệp,
thương mại – dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ, trung
tâm y tế và văn hóa”.
Căn cứ Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XI của Thành ủy Thành phố Cần Thơ từ
2006-2010.
Căn cứ Thông tư Số 15/TT-LB ngày 21/8/1996 của liên bộ Văn hóa Thông tin – Giáo
dục và Đào tạo về việc đào tạo đội ngũ giáo viên Nhạc – Họa cho các cấp học mầm non, tiểu
học và trung học cơ sở tại các trường Văn hóa Nghệ thuật địa phương.
Cần Thơ là thành phố trung tâm của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối
giao thông thủy bộ quan trọng, nơi trung chuyển và điều tiết hàng hóa trong khu vực. Diện
tích tự nhiên: 1.401km2 . Dân số 1.159.008 ngườivới 03 dân tộc cùng chung sống: Việt –
Hoa – Kh’mer. Mật độ dân số 827người/ km2 gồm 05 quận và 04 huyện.
Ngày nay, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và du lịch của các đối tượng
trong công chúng Thành phố hết sức phong phú và đa dạng. Các hoạt động giao lưu, xuất
nhập khẩu văn hóa phẩm, hoạt động du lịch và các dịch vụ văn hóa – du lịch phát triển rất
nhanh và phức tạp. Các quận, huyện đều có Nhà văn hóa, Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu
niên, công viên văn hóa, khu du lịch sinh thái cùng hàng trăm thiết chế văn hóa khác hoạt
động ngày càng rộng lớn … Tất cả đều đòi hỏi cần có một đội ngũ cán bộ có trình độ tay
nghề chuyên môn cao, có năng lực tổ chức quản lý giỏi … Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ
giáo viên Âm nhạc – Mỹ thuật, cán bộ chuyên trách Thư viện trong các trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông cũng đang là một nhu cầu rất bức xúc.
Đồng bằng sông Cửu Long có 07 trường trung cấp văn hóa nghệ thuật, 04 Trường
nghiệp vụ Văn hóa Nghệ thuật, 01 tỉnh không có trường trung cấp lẫn nghiệp vụ Văn hóa
Nghệ thuật, 01 tỉnh đào tạo Văn hóa Nghệ thuật bậc trung cấp lồng ghép vào 01 Khoa của
Trường đại học. Trong đó, Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ là một trong số ít
trường có uy tín trong vùng về việc đào tạo lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật. Có thể nói, đào tạo
là xương sống của trường, là vấn đề “sống còn” của Trường.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ Chính quy của
Trường TC.VHNT Cần Thơ.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa lý thuyết.
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp phỏng vấn
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý đào tạo. Nhưng phần lớn các
nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục, các luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục tập
trung nhiều vào các chiến lược quản lý công tác đào tạo ở các trường Cao đẳng, Đại học. Cụ
thể, tác giả Lâm Quang Thiệp – nguyên vụ trưởng vụ đại học – Bộ Giáo dục và Đào tạo có
bài: “ Một số giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng cho hệ thống giáo dục đại học” trong đó có
đề cập đến một số giải pháp về tổ chức, quản lý chất lượng giáo dục đại học chính quy và
không chính quy.
Giáo sư Trần Chí Đáo nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có bài “ Các hướng
đổi mới quản lý đại học Việt Nam trước bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay” đã đề cập đến một
vài dự báo về thế kỷ 21. Những thay đổi lớn về hình thái kinh tế và sự phát triển kinh tế thế
giới trước sự thay đổi lớn về khoa học công nghệ đòi hỏi phải thay đổi công tác quản lý giáo
dục. Các hướng đổi mới cơ bản đó là sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng về giáo dục
đào tạo, về sự đổi mới tư duy trong giáo dục và quản lý giáo dục, nêu cao vai trò và tính tự
chủ của các cơ sở đào tạo trong quản lý.
công tác giáo viên trung cấp Văn hóa Thể thao và Du lịch. Nhưng kết quả vẫn chưa thống
nhất được chế độ công tác giáo viên giảng dạy văn hóa, thể thao và dụ lịch. Tháng 6 năm
2010 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Hội diễn Văn hóa Văn nghệ giữa các trường
văn hóa nghệ thuật toàn quốc tại Đà Nẵng. Tất cả hoạt động trên đều nhằm định hướng về
chế độ giáo viên và các vấn đề liên quan đến hoạt động của các trường văn hóa nghệ thuật.
Do nhiều nguyên nhân, hội thảo, hội diễn văn hóa văn nghệ cũng chỉ đi vào từng mảng riêng
lẻ của hoạt động quản lý đào tạo lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Thực tế rất nhiều tác giả đề cập tới công tác quản lý giáo dục đào tạo, quản lý nhà
trường. Nhưng với lĩnh vực quản lý đào tạo tại trường Trung cấp chuyên nghiệp đặc thù về
văn hóa nghệ thuật thì rất ít. Do đó tôi mạnh dạn chọn đề tài này hy vọng tìm thấy cái chung
cho công tác quản lý đào tạo cho trường Trung cấp chuyên nghiệp đặc thù.
1.2. Các khái niệm liên quan đến đến đề tài
1. 2.1 Quản lý
Nhà triết học cổ đại Xôcrat (460-399 T.C.N) đã chỉ ra rằng trong hoạt động quản lý
nếu biết sử dụng con người thì sẽ thành công, trái lại nếu không làm được điều đó sẽ sớm sai
lầm và thất bại.
Theo F. Taylor (1856 – 1915) là người đầu tiên biến các tư tưởng quản lý thành các
nguyên tắc và kỹ thuật lao động cụ thể cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn
muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất, rẻ nhất” [12, tr.89].
Theo nhà lý luận quản lý người Pháp Henry Fayol (1841-1925) “Quản lý hành chính
là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [12, tr.108].
Giáo sư Hoàng Chúng nói rằng “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những
con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên khuyến khích họ trong quá
trình lao động” [10].
Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Lê “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ
thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiểu quả tối ưu
theo mục tiêu đã đề ra” [24].
giác nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức.
- Kiểm tra: là việc đánh giá kết quả, là đo lường và điều chỉnh các họat động của việc
thực hiện các mục tiêu nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm để phát huy hoặc điều chỉnh việc
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.
Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Theo Trần Kiểm thì ở cấp độ vi mô “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những
tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo
dục của nhà trường” [21, tr 36].
Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục hay còn được hiểu là quản lý
trường học, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới
mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học
sinh.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói
riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu hội tụ là quá trình dạy
học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về
chất” [29].
Tác giả chọn khái niệm - quản lý giáo dục là một loại quản lý xã hội chuyên quản lý tổ
chức hoạt động của ngành giáo dục (mà sản phẩm là nhân cách học sinh) trên phạm vi cả
nước hoặc từng địa phương, từng trường học nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu
quả của việc phát triển nền giáo dục.
Quản lý giáo dục có thể được xem xét ở hai cấp độ khác nhau là quản lý vĩ mô (quản
lý hệ thống giáo dục) và cấp độ vi mô (quản lý trường học).
hệ thống quy phạm, quy chế giáo dục.
- Tính hiệu quả: Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và
quản lý. Muốn đạt hiệu quả cao, người quản lý phải nắm được những thành tựu mới của
khoa học kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý.
* Các phương pháp quản lý giáo dục
- Phương pháp tổ chức hành chánh
- Phương pháp kinh tế
- Phương pháp tâm lý xã hội
* Việc kết hợp các phương pháp quản lý
Giáo dục là một hiện tượng sư phạm – xã hội. Ở đây chứa đựng nhiều quy luật thuộc
các lĩnh vực khác nhau. Vì thế, việc áp dụng nhiều phương pháp quản lý là điều đương
nhiên. Vấn đề là không nên tuyệt đối quá một phương pháp nào, người quản lý cần tùy từng
tình huống cụ thể nắm vững và vận dụng những ưu thế và những hạn chế tối đa nhược điểm
của từng phương pháp, kết hợp vận dụng chúng một cách khéo léo nhằm đạt hiệu quả cao
nhất.
Các phương pháp kinh tế, tâm lý – xã hội thuộc loại các tác động gián tiếp nhưng muốn
có hiệu lực cần được thể chế hóa bằng các quyết định có tính chất pháp lý. Như vậy, giữa các
phương pháp không có sự tách rời, càng không có sự đối lập. Chúng điều tiết các mối quan
hệ hành chính, tổ chức, tâm lý, kinh tế xã hội.
- Các chức năng quản lý giáo dục:
Hoạt động quản lý thường được chuyên môn hóa và được gọi là chức năng quản lý.
Quản lý giáo dục có một số chức năng cơ bản sau:
+ Kế hoạch hóa
+ Xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý
+ Thông tin
+ Dự báo
+ Soạn thảo và ra quyết định
+ Công tác ngân sách kinh phí
1.2.4 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là một quá trình có mục đích, có kế hoạch vì vậy nó cần được tổ
chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu đào tạo đã định.
Quản lý hoạt động đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý mà tác động vào các
thành tố của quá trình đào tạo.
Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản sau:
- Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng, sản phẩm đào tạo đạt
được các chuẩn mực đã xác định trước.
- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý: mục tiêu, nội dung chương trình, kế
hoạch đào tạo, quy trình tổ chức giảng dạy như: chiêu sinh, tổ chức lớp, thực hiện chương
trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, nề nếp dạy - học, tổ chức khóa học và thi kết thúc
khóa, đánh giá kết quả học tập, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, kiểm soát các chuẩn mực
đảm bảo chất lượng. Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, vì vậy
quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng.
Tổ chức đào tạo một cách hợp lý có ảnh hưởng lớn đến năng suất của hoạt động đào
tạo. Điểm then chốt của việc tổ chức đào tạo là làm sao hoàn thành được mọi nhiệm vụ và
đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra. Việc tổ chức đào tạo xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu đào
tạo và căn cứ vào đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên và các điều kiện hoạt động
của nhà trường. Thực chất tổ chức đào tạo một cách khoa học là tìm ra một phương án tối
ưu của hệ thống các hoạt động đào tạo trên cơ sở giải quyết tổng hợp đồng bộ các nhiệm vụ,
mục tiêu đào tạo, các vấn đề về xã hội học, tâm lý học, giáo dục học và điều khiển học.
1.3. Công tác quản lý giáo dục - đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Theo nghĩa rộng, giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật là quá trình trang bị và nâng
cao kiến thức hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp của lĩnh
vực văn hóa nghệ thuật … cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời
gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, kể cả
phương tiện truyền thông đại chúng (như phát thanh, truyền hình, báo chí, tranh ảnh, …) với
- một thành phố trẻ nhưng cũng phức tạp về văn hóa, xã hội thì vấn đề này càng có ý nghĩa
to lớn.
Công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đóng vai trò tổ chức, chỉ huy,
phối hợp các lực lượng làm công tác giáo dục đào tạo (trong và ngoài ngành văn hóa nghệ
thuật) nhằm phát triển nền văn hóa nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày
càng cao của nhân dân, hướng mọi người đến những giá trị CHÂN – THIỆN – MỸ.
1.4. Nội dung quản lý đào tạo
1.4.1. Quản lý mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu mà người học phải đạt được về tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp sau một quá trình học tập, đào tạo ở nhà trường. Vì vậy, việc xác định
mục tiêu đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đào tạo. Nó giúp cho
người dạy xác định việc hướng dẫn cho người học nghiên cứu vấn đề gì, mức độ nào, từ đó
lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp, đánh giá khách quan, đúng đắn kết quả học tập
của người học. Nó giúp cho người học biết mình phải học gì để có thể làm được những gì
sau khi học xong.
Việc xác định rõ, chính xác mục tiêu đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của công
tác quản lý đào tạo trong nhà trường. Cơ sở để xác định mục tiêu đào tạo là:
- Mục tiêu giáo dục tổng quát được quy định bởi Luật giáo dục. Trong luật giáo dục
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua
có nêu “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, hinh thành nhân cách và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [11, tr. 8].
Nhiệm vụ chính trị xã hội của nhà trường: Trường Văn hóa Nghệ thuật là một thiết
chế chính trị xã hội và phải phục vụ cho việc phát triển xã hội. Sự phát triển của nhà trường
chịu sự quy định của nhà nước, lịch sử, sự phát triển và tiến bộ xã hội. Mục tiêu đào tạo có
nhiều cấp độ khác nhau:
Mục tiêu đào tạo tổng quát: Là mục tiêu chung nhất do Luật giáo dục quy định.
huấn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
+ Hiệu trưởng quyết định việc tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên để cụ
thể hóa các văn bản pháp qui về tổ chức thực hiện và quản lý chương trình đào tạo cho nhà
trường.
+ Căn cứ vào chương trình đào tạo, Phòng đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo khóa
học, năm học, … để Hiệu trưởng duyệt và báo cáo Hội đồng giáo dục của nhà trường trước
khi tiến hành năm học mới.
+ Vào đầu năm học Hiệu trưởng giao Phòng đào tạo tổ chức cho học sinh học tập
nghiên cứu mục tiêu, nội dung, kế họach đào tạo của khóa học, năm học, học kỳ…. Học sinh
sẽ được phổ biến đầy đủ về quy chế đánh giá học tập và rèn luyện, Quy chế quản lý học sinh,
Quy chế khen thưởng, kỷ luật, … để chủ động xây dựng kế hoạch phấn đấu cho cá nhân.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo: cho khóa học, năm học, học kỳ; xây dựng kế hoạch
đánh giá và phương pháp đánh giá học sinh; xây dựng kế hoạch bài giảng; kế hoạch triển
khai các phương pháp giảng dạy; kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy và học; xây
dựng kế hoạch biên soạn tài liệu giảng dạy; xây dựng cơ sở thực tập, thực tế; xây dựng kế
hoạch công tác giáo viên
- Quản lý nội dung đào tạo: dựa vào chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành và chương trình chi tiết do Bộ VHTT & DL hoặc nhà trường xây dựng, Hiệu
trưởng thông qua Phòng đào tạo giao kế hoạch giảng dạy cho các Khoa, Bộ môn, giáo viên
[5].
- Phát triển chương trình đào tạo:
+ Quyết định phần mềm của chương trình đào tạo: Chương trình khung đào tạo qui
định 75% -80% là phần cứng, các trường bắt buộc phải thực hiện đầy đủ, 20% -25% được
phép mềm để nhà trường lựa chọn nội dung đào tạo mang tính đặc thù của trường [19].
+ Đảm bảo tiến độ thực hiện chương trình: theo dõi và kịp thời điều chỉnh tiến độ
thực hiện chương trình là nhiệm vụ của phòng đào tạo. Tốt nhất việc điều chỉnh được thực
hiện ngay từ cấp bộ môn và thực hiện trong tuần hoặc trong tháng. Các giáo viên, Tổ Bộ
môn, Phòng đào tạo căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch môn học, học kỳ, năm học để
Bài soạn giảng bao gồm các kiến thức cốt lõi của môn học và các câu hỏi bài tập cho
người học chuẩn bị trước khi ôn luyện và bài giảng là giải pháp đảm bảo giảng dạy hiệu quả
nhất chứ không phải giáo trình.
Tài liệu tham khảo không chỉ bao gồm Tiếng Việt, mà nên có các đoạn trích tiếng
nước ngoài để người học từng bước làm quen với các thuật ngữ, các ký hiệu, … và tạo thêm
hứng thú tra tìm tài liệu qua Internet chuẩn bị cho việc làm tiểu luận môn học hay khóa luận.
* Tổ chức học:
Vào đầu của khóa học, nhất thiết phải phổ biến đầy đủ nội qui chế và phương pháp
học cho học sinh. Cung cấp cho người học chương trình chi tiết môn học để họ chủ động
trong học tập, trong việc tìm hiểu tài liệu tham khảo.
Định kỳ, sau 1/3, sau 2/3 và sau khi kết thúc môn học, nên tổ chức lấy ý kiến người
học về nội dung, phương pháp giảng dạy và hiệu quả học môn học để kịp thời điều chỉnh hay
rút kinh nghiệm.
* Tổ chức kiểm tra đánh giá:
Căn cứ vào chương trình chi tiết môn học đã ban hành, lịch trình giảng dạy của giáo
viên và kế hoạch của học kỳ. Người quản lý đào tạo tổ chức và theo dõi các hoạt động kiểm
tra giữa và cuối kỳ.
Kiểm tra giữa kỳ, hiện qui chế đào tạo chưa qui định thành một thành phần của môn học, nên
có thể giao cho giáo viên chủ động tổ chức, nhưng phải có báo cáo để xét điều kiện dự thi
cuối môn học.