ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
----------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA CÂY LẠC TẠI
PHƯỜNG HƯƠNG CHỮ, THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
HUỲNH VĂN HUY
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
----------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA CÂY LẠC TẠI
PHƯỜNG HƯƠNG CHỮ, THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện:
Giáo Viên Hướng Dẫn:
Huỳnh Văn Huy
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Văn Huy
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HQKT: Hiệu quả kinh tế
TE: Technical Efficiency (hiệu quả kỹ thuật)
AE: Allocative Efficiency (hiệu quả phân phối)
EE: Economic Efficiency (hiệu quả kinh tế)
GO: Gross Output (Giá trị sản xuất)
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations
LĐ: Lao động
NN: Nông nghiệp
BQ: Bình quân
DTBQ: Diện tích bình quân
DTGT: Diện tích gieo trồng
TLSX: Tư liệu sản xuất
ĐVT: Đơn vị tính
HTX: Hợp tác xã
TLSX: Tư liệu sản xuất
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
5
-Phường Hương Chữ là vùng có điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Phần lớn diện tích đất nông nghiệp là đất thịt và cát pha nên rất thích hợp cho trồng lạc
phát triển. Diện tích trồng lạc 133,2 ha chiếm 12,62 % tổng diện tích gieo trồng. Điều
7
đó cho thấy cây lạc chưa thật sự có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây hàng năm của
các hộ.
- Năng suất lạc bình quân của các hộ điều tra là 186,00 kg/sào tuy cao hơn năng
suất bình quân chung của phường, nhưng khoảng cách giữa năng suất tiềm năng và
năng suất thực tế còn lớn. Đây là cơ hội để tăng năng suất lạc của địa phương nếu thực
hiện tốt vấn đề thâm canh.
- Để sản xuất 1 sào lạc, hộ nông dân phải đầu tư 3020,58 nghìn đồng chi phí sản
xuất thu được 4014,33 nghìn đồng giá trị sản xuất. bình quân cứ bỏ ra 1 đồng chi phí
sản xuất thì nông hộ thu được 3,43 đồng giá trị sản xuất và 2,43 đồng giá trị gia tăng.
- Bên cạnh hiệu quả kinh tế đạt được thì vấn đề đầu vào, đầu ra, thời tiết và Sâu
bệnh có ảnh hưởng lớn đến năng suất lạc của các hộ. Việc theo dõi đồng ruộng thường
xuyên sẽ giúp phát hiện sâu bệnh kịp thời. Trên cơ sở đó giúp các hộ lựa chọn được
phương án tiêu diệt các ổ dịch bệnh có hiệu quả nhất góp phần đảm bảo năng suất cây lạc.
- Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của phường trong thời gian qua đã có
những bước phát triển đáng kể, tuy nhiên cơ sở hạ tầng vẫn chưa phát triển toàn diện.
Đa số các hộ nông dân có trình độ và nhận thức chưa đồng đều nên còn khó khăn
trong việc tiếp thu những tiền bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lạc.
- Sản lương sản xuất ra được các hộ dùng để bán là chủ yếu (chiếm 89,83% )
với giá bán từ 14 nghìn đồng đến 25 nghìn đồng/kg tùy vào thời điểm bán.
- Nhu cầu thị trường về lạc là rất lớn, vấn đề tiêu thụ lạc do các trung gian thu
mua thực hiện, gây thiệt hại cho người sản xuất do bị ép giá. Hiện nay trên địa bàn
chưa có một nhà máy hay một cơ sở chế biến để tiến hành thu mua và thúc đẩy sản
xuất lạc phát triển.
- Trong các giải pháp thúc đẩy thâm canh và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc của
diện tích. Vì vậy, lạc là cây trồng quan trọng trong hệ thống xen canh, luân canh với
các loại cây trồng khác, đặc biệt có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cải tạo đất đối
với những vùng đất bạc màu. Cây lạc là loại cây có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng
cao và là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị (Việt Nam hiện là một trong 10 nước xuất
khẩu lạc lớn nhất trên thế giới), đưa lại nguồn thu ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế xã hội của đất nước.
9
Để có được thành tựu ấy phải kể đến nỗ lực sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh,
địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh Thừa Thiên Huế. Nằm ở khu vực Bắc
Trung Bộ, có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng. Đặc biệt là phường Hương chữ,
Thị xã Hương Trà có điều kiện khí hậu thuận lợi, người dân có nhiều kinh nghiệm sản
xuất nên cây lạc ở đây đã được trồng với diện tích lớn. Và thị trường tiêu thụ hiện nay
cũng khá thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân nơi đây yên tâm đầu tư sản xuất.
Tuy nhiên, sản xuất lạc hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn do yếu tố chủ quan lẫn
yếu tố khách quan. Trước hết sản xuất lạc của người dân vẫn dựa vào kinh nghiệm bản
thân là chủ yếu, họ chưa tiếp xúc với các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật vì vậy hiệu quả
đạt được chưa cao. Ngoài ra, những khó khăn về vốn, lao động, điều kiện thủy lợi...
cũng gây khó khăn cho sản xuất. Sản xuất nhỏ, manh mún, trình độ áp dụng khoa học
kỹ thuật còn lạc hậu làm cho quá trình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó
kênh phân phối hàng hóa chưa hoàn thiện gây nhiều khó khăn trong tiêu thụ lạc của
người dân, sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng còn qua nhiều khâu trung
gian, người nông dân thường bị ép giá. Nên giá mà người sản xuất nhận được thấp mà
giá người tiêu dùng phải trả lại cao. Cùng với đó là việc phát triển kinh tế theo hướng
hàng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng thì yêu cầu về số lượng cũng như
chất lượng của sản phẩm lạc cũng trở nên cao hơn.
Xuất phát từ những thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “HIỆU QUẢ
KINH TẾ SẢN XUẤT CỦA CÂY LẠC TẠI PHƯỜNG HƯƠNG CHỮ, THỊ XÃ
HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
quả nghiên cứu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và tiêu thụ
lạc của các hộ điều tra.
• Phương pháp so sánh: so sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua các thời kỳ và
so sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa các nhóm hộ.
• Phương pháp phân tổ thống kê: Để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào
đến hiệu quả và kết quả sản xuất lạc.
11
PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo quan điểm của các nhà
thống kê: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: hiệu quả kinh tế đạt được tối ưu khi đạt
hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.
* Hiệu quả kỹ thuật (TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một chi phí
đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật
hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp.
* Hiệu quả phân phối (AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó giá sản phẩm và giá đầu
vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu được trên một đồng chi phí đầu
vào hay nguồn lực.
* Hiệu quả kinh tế (EE) là một phạm trù trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả đạt cả
hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và
giá trị điều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông
quả thu được với toàn bộ chi phí bỏ ra.
H = Q/C
Trong đó:
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Khối lượng sản phẩm thu được
C: Chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét một
đơn vị nguồn lực sử dụng tạo ra bao nhiêu kết quả hoặc một đơn vị kết quả tốn bao
nhiêu đơn vị nguồn lực. Phương pháp này giúp chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy
13
mô khác nhau, giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, giữa các ngành sản xuất và qua
các thời kì khác nhau.
* Phương pháp 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng
thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm chi phí bỏ ra.
∆Q
∆C
H=
Trong đó:
∆Q
∆C
: Khối lượng sản phẩm tăng thêm
:Chi phí tăng thêm
Phương pháp này giúp chúng ta xác định được hiệu quả một đồng chi phí đầu
14
- Giá trị gia tăng trên một đồng chi phí trung gian (VA/IC): Thể hiện một đồng
chi phí trung gian tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
1.1.2 Nguồn gốc và sự phân bố cây lạc
Lạc (Arachis hypogaea L.) vừa là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm
và cũng là cây có dầu có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới, trong số các loại cây có dầu
ngắn ngày, cây lạc được xếp thứ 2 sau đậu tương về diện tích và sản lượng, xếp thứ 13
trong các cây thực phẩm quan trọng, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và xếp thứ 3 về
nguồn protein cung cấp cho người.
Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã phát hiện sự phân bố rộng rãi các vùng
lạc đầu tiên là ở Nam Mỹ thuộc lưu vực sông Amazon từ cách đây khoảng 1500-2000
năm trước công nguyên. vào cuối thế kỷ thứ XV, cây lạc được đưa từ Braxin sang
Châu Phi cùng với các thuyền buôn. Từ châu Phi lạc được đưa sang Châu Á và nam
Châu Âu, từ Châu Âu lạc được đưa sang Bắc Mỹ, từ Châu Á lạc được đưa sang Nga
và các nước Đông Âu. Ở nước ta lạc được đưa từ Trung Quốc sang vào khoảng thế kỷ
thứ XIX.
Sự phân bố của đậu phộng: Đậu phộng được trồng rộng rãi ở nhiều nước như
Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Braxin và Achentina. Hiện nay ở các nước như Ghana,
Malavi, Mali, Xômali, Sudan, Thái Lan, Việt Nam diện tích trồng đậu phộng đang tăng
lên.
Ở Việt Nam cây lạc diện tích lạc chiếm số lượng lớn trong tổng diện tích cây trồng
hàng năm của nước ta và là cây mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất.
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây lạc
1.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Lạc là một nguồn thực phẩm quý đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong các thành
phần chất béo và protein trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người và là nguồn
cung cấp dầu ăn chủ yếu ở nước ta. Sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc. Khi nghiên
những năm gần đây, sản lượng lạc xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm. Trong
16
năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm cho nền nông
nghiệp gặp nhiều khó khăn, nông sản làm ra nhiều mà không tiêu thụ được, bên cạnh
đó giá của đầu vào tăng cao làm cho diện tích và năng suất giảm xuống tương ứng. Từ
tháng 1 đến tháng 7 là những tháng có giá xuất khẩu cao và ngược lại từ tháng 8 đến
tháng 12 là giá giảm. Việt Nam là một nước có thời vụ thu hoạch không trùng với thời
vụ thu hoạch lạc phổ biến trên thế giới và lại trùng với thời điểm giá lạc ở mức cao.
Điều này được nhìn nhận là một lợi thế về sản xuất lạc của nước ta.
* Về giá trị công nghiệp
Hạt lạc là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm
như: bánh kẹo, bơ, nước chấm, dầu, bột... Trong nông nghiệp các sản phẩm phụ từ cây
lạc như thân, lá, khô dầu lạc, vỏ lạc dùng để làm thức ăn cho ngành chăn nuôi. Ngoài ra,
thân lá lạc dùng làm phân xanh rất tốt, một hecta lạc thu được 3 - 4 tấn thân lá lạc. So
với phân chuồng, phân xanh từ thân lá lạc có tỷ lệ lân và kali xấp xỉ ngang nhau, tỷ lệ
đạm bằng 2,5 lần phân chuồng. Đây là một nguồn hình thành nên nguồn phân hữu cơ
quan trọng trong điều kiện hiện nay lượng phân chuồng có được từ chăn nuôi ngày càng
ít dần do xu hướng sản xuất nông nghiệp ngày càng được cơ giới hóa.
Vỏ lạc còn được dùng làm chất đốt. Tàn tro của vỏ lạc cũng là loại phân tốt,
cung cấp nhiều dinh dưỡng cho đất. Vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh với rễ lạc có thể
tổng hợp đạm tự do trong không khí cung cấp cho đất một lượng đạm đáng kể. Nó có
thể để lại cho đất một hàm lượng đạm khá cao. Trong những điều kiện tối ưu, cây lạc
có thể cố định dược 72 - 124 kgN/ha . Nâng cao chất lượng đất đồng nghĩa với việc
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội môi trường.
*Giá trị nông nghiệp
- Giá trị chăn nuôi
Giá trị làm thức ăn gia súc của lạc được đánh giá trên các mặt: Khô dầu lạc, thân
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất lạc
1.1.4.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Mỗi loại cây trồng đều sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện nhất
định. Đối với cây lạc cũng vậy, nếu như biết được những điều kiện thích hợp với cây
lạc về thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng, mùa vụ... thì chúng ta có thể khai thác tốt điều
kiện tự nhiên thuận lợi để tăng năng suất lạc và hạn chế được những bất lợi, khó
18
khăn nhằm giảm được rủi ro cho người nông dân.
* Ánh sáng:
Ánh sáng mặt trời là nguồn gốc của mọi sự sống. Mỗi loại cây trồng thích hợp
với cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong ngày nhất định. Chất lượng ánh
sáng cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Hầu
hết các giống lạc được trồng ở nước ta thích nghi với điều kiện ánh sáng ít nên người
ta có thể trồng lạc xen với những cây trồng khác như sắn, ngô, đậu…
Số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng đến lượng hoa ra nhiều hay ít. Thời kỳ ra
hoa làm quả có số giờ chiếu sáng là 200giờ/tháng là thuận lợi nhất. Nếu số giờ chiếu
sáng thích hợp, cây lạc sẽ ra hoa nhiều và tập trung.
* Nhiệt độ:
Cây lạc thích hợp với nhiệt độ nóng ẩm, là loài không chịu được rét: Trong
thời kỳ sinh trưởng, lạc còn có tổng tích ôn khoảng 2600- 3500 0C. Với nhiệt độ
450C, hạt lạc sẽ mất sức nảy mầm. Nếu nhiệt độ < 15 0C kéo dài thì cây lạc
sẽ ngừng sinh trưởng và chết.
+ Thời kỳ nảy mầm, nhiệt độ thích hợp là 28- 300C
+ Thời kỳ cây con đến trước khi ra hoa, nhiệt độ thích hợp là 25-300C
+ Thời kỳ ra hoa, đâm tia, nhiệt độ thích hợp là 25-280C
+ Nhiệt độ thích hợp để hình thành quả là 31- 34 0C. Nếu nhiệt độ quả cao thì
lạc sẽ ra hoa ít và quả nhỏ.
* Nước:
trong tự nhiên để cung cấp cho cây. Tuy nhiên, chúng ta phải cung cấp thêm lượng
đạm tốt để cây sinh trưởng phát triển tốt. Đạm có thể giúp cho cây hình thành các cơ
quan sinh trưởng và sinh sản như: rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt.
+ Lân: Lân là yếu tố cần thiết làm tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật
trong đất giúp thúc đẩy sự phát triển của các nốt sần làm tăng khả năng huy động đạm
20
cho cây. Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc, có tác động tốt đến việc ra hoa,
thụ phấn và làm cho tăng sức sống của hạt làm cho lạc chín sớm.
+ Kali: Kali có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển
của quả tăng khả năng giữ nước của tế bào. Cây thiếu kali sẽ sinh trưởng chậm lại, các
lá bị chết khô, thường xuất hiện quả một hạt.
+ Vôi: Vôi ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm và chất lượng của hạt. Nó có tác dụng
làm tăng độ pH trong đất và khử độc cho đất. Nếu thiếu vôi, tỷ lệ đậu hoa giảm, hạt
không đẩy và chắc.
Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến sản xuất lạc như: các
nguyên tố vi lượng, đa lượng, sâu bệnh...
1.1.4.3 Yếu tố kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự phân bố sản xuất lạc cũng như
mức độ đầu tư cho quá trình sản xuất.
Lao động: Đây là yếu tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất lạc. Trình độ và
kinh nghiệm lao động có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Người lao động có trình độ cao
sẽ nắm bắt nhanh kỹ thuật mới và áp dụng được những thành tựu công nghệ đó.
Những người lao động có kinh nghiệm sản xuất lâu năm sẽ ứng phó được với
điều kiện thời tiết thay đổi, hạn chế được rủi ro trong sản xuất
Vốn: Trong quá trình sản xuất, vốn là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng
nhất. Nếu có đủ vốn để đầu tư, người sản xuất sẽ có điều kiện để thâm canh nhằm khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược
lại, trong quá trình sản xuất nếu thiếu vốn sẽ làm hạn chế khả năng đầu tư của người
giới 40.185.600 tấn.( FAO, 2014).
Nhìn chung sản lượng lạc ở khu vực Châu Á cao hơn so với các khu vực khác.
Song tiềm năng sản xuất lạc trên thế giới còn khá lớn, một số nước Châu Á diện tích
lớn nếu như được đầu tư thâm canh sẽ đạt năng suất cao góp phần tăng sản lượng lạc
đáp ứng được nhu cầu lạc trong khu vực và trên thế giới.
Bảng 1: Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
12 quốc gia hàng đầu sản xuất Lạc (số liệu năm 2014)
22
Quốc gia
Sản lượng (tấn)
Ghi chú
1. Trung Quốc
15.782.813
A
2. Ấn Độ
6.557.000
*
3. Nigeria
669.329
*
10. Cameroom
614.000
11. Mali
538.000
12. Việt Nam
453.332
*
Thế giới
40.185.600
A
F = FAO ước đoán, * = nguồn bán chính thức, C = nguồn ước tính, A = nguồn tổng
hợp (gồm sản lượng chính thức, bán chính thức và ước đoán);
Nguồn: Food And Agricultural Organization of United Nations: Economic And
Social Department: The Statistical Devision
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở trong nước
464,5
(Nguồn: )
Lạc phân bố khắp các vùng trong nước từ Bắc tới Nam, nhưng tập trung chủ
yếu ở vùng trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng.
Lạc du nhập vào Việt Nam từ lâu đời và từ đó đến nay đã gắn bó với đời sống người
dân Việt Nam. Diện tích trồng lạc ở nước ta trong những năm gần đây không mở rộng
23
mà ngày càng có xu hướng thu hẹp. Năm 2010 là 231,4 nghìn ha đến năm 2014 chỉ có
209.0 nghìn ha. Song năng suất lại ổn định và có xu hướng tăng qua các năm từ 21,1
tạ/ha năm 2010 đã tăng lên 22,2 tạ/ha năm 2014. Có được thành quả này là nhờ việc
chú trọng đầu tư vào sản xuất. Bên cạnh đó kỹ thuật canh tác được cải thiện là nhân tố
thúc đẩy hiệu quả trong sản xuất, không những thế việc áp dụng giống mới có năng
suất cao, có khả năng chịu hạn, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu thời vụ cây trồng đã
làm cho năng suất lạc tăng lên.
Mặc dù năng suất lạc tăng nhưng diện tích lạc giảm, kéo theo giảm đi trong sản
lượng từ 487,2 tấn năm 2010 xuống 464,5 năm 2014. Sản lượng lạc giảm làm các
ngành công nghiệp chế biến Việt Nam gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu cho sản
xuất chế biến ảnh hưởng đến xuất khẩu và giảm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế
quốc dân.
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3: Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2012-2014
Chỉ tiêu
Đvt
Diện tích Ha
Năng suất Tạ/ha
-2,95
-4,6 -20,20
-1879 -22,93
lượng
( Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế 2014)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, diện tích trồng lạc trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế đang có xu hướng giảm dần qua các năm, cụ thể: năm 2012 diện tích trồng lạc là
3705 ha đến năm 2013 là 3599 ha, giảm 106 ha tương ứng với giảm 2,86% so với năm
trước. Năm 2014 diện tích trồng lạc tiếp tục giảm xuống còn 3493 ha giảm 2,95% so
với năm 2013. Diện tích trồng lạc qua các năm giảm là do một phần đất trồng lạc nơi
đầy chuyển đổi sang đất trồng cây khác hoặc đất xây dựng. Mặc dù diện tích gieo
trồng có xu hướng giảm nhưng năng suất lạc lại tăng giảm không điều do chịu ảnh
hưởng của sâu bệnh và thời tiết. Năm 2013 năng suất đạt 22,77 tạ/ha tăng 4,07 tạ/ha
24
tương ứng với tăng 0,89% so với năm 2012. Đến năm 2014 năng suất đạt 18,1 tạ/ha
giảm 4,6 tạ/ha tương ứng với giảm 20,20% so với năm 2013.
Tỉ lệ tăng giảm không điều của năng suất cùng với diện tích gieo trồng giảm đã
là cho sản lượng qua các năm cũng tăng giảm không điều. Năm 2013 sản lượng đạt
8195 tấn tăng 89 tấn tương ứng với tăng 1.09% so với năm 2012. Sang năm 2014 thì
sản lượng đạt 6316 tấn giảm 1879 tấn tương ứng giảm 22,93% so với năm 2013.
1.2.4 Tình hình sản xuất lạc ở thị xã Hương Trà
Thị xã Hương Trà là khu vực có diện tích gieo trồng lạc khá lớn và cây lạc có vị
trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng hàng năm của thị xã. Thời gian qua, tình hình sản
xuất lạc có nhiều biến động. Diện tích gieo trồng năm 2014 là 987,83 ha so với năm
2013 tăng 7,83 ha tương ứng với tỷ lệ tăng 0,80% và năm 2015 so với 2014 giảm 7,87
ha tương ứng với tỷ lệ giảm 0,80%.
18,21
1798,7
6
26,72
-8,19
2618, -788,68
5
7
980
31,02
-30,48
2015/2014
+/%
-7,87
-0,80
8,51
820,13
46,73
45,60
9
( Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Hương Trà 2015)