skkn phương pháp giảng dạy môn giáo dục công dân theo hướng gắn với thực tiễn cuộc sống - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Phương pháp giảng dạy môn giáo dục công dân theo
hướng gắn với thực tiễn cuộc sống .
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn .
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Quỳnh

Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 30/12/1983.
Trình độ chuyên môn: Sư phạm Địa - GDCD.
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên
Điện thoại: 0975661962.
4.Chủ đầu tư sáng kiến:
Trường THCS Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương.
Địa chỉ : Tân Phong, Ninh Giang, Hải Dương.
Số đt: 03203.769217
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
-Lớp thực nghiệm.
-Cần có phương tiện hỗ trợ giảng dạy như máy tính, máy chiếu.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu từ: Năm học 2010-2011.

HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)

NGUYỄN THỊ QUỲNH

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN


TÓM TẮT SÁNG KIẾN



hứng thú tích cực học tập, giờ học trở lên sôi nổi, hiệu quả. Từ việc hiểu dẫn
đến những thay đổi hẳn trong hành vi ứng xử của các em. Ý thức của học sinh
và khả năng thích ứng với cuộc sống, kĩ năng ứng biến của các em tốt hơn lên
rất nhiều.
Kết quả của việc áp dụng sáng kiến còn được minh chứng rõ nét hơn ở
kết quả khảo sát học sinh qua mỗi năm học. Tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng lên
đồng nghĩa với điều đó là tỉ lệ học sinh trung bình - yếu giảm hẳn. Kết quả này
là sự khích lệ rất lớn với cả giáo viên và học sinh.
Để mở rộng việc áp dụng sáng kiến và cũng là nâng cao hiệu quả giảng
dạy môn GDCD, tôi đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị với các cấp lãnh đạo
cũng như bản thân các đồng chí là giáo viên trực tiếp giảng dạy như:
- Tuyên truyền làm thay đổi nhận thức của những nhà giáo dục, giáo viên,
phụ huynh học sinh và học sinh về vị trí, vai trò của bộ môn GDCD
- Tổ chức các đợt hội thảo trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng thường xuyên
về phương pháp dạy – học bộ môn ở cấp huyện, cấp tỉnh.
- Sớm đưa môn GDCD vào nội dung thi tốt nghiệp ở các trường phổ
thông.
- Các nhà trường cần xây dựng tủ sách pháp luật.
- Tăng cường các trang thiết bị dạy - học.

3


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Môn Giáo dục công dân (GDCD) là môn học có vai trò quan trọng trong
việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học
sinh. Luật giáo dục đã quy định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học

cầu đối với lứa tuổi của học sinh trường THCS.
Cấu trúc nội dung từng bài gồm 3 phần:
+Phần 1: Đặt vấn đề (là các tình huống, câu chuyện, thông tin, sự kiện
phong phú mang tính thực tiễn cao ) có liên quan đến nôị dung bài học.
+Phần 2 : Nội dung bài học ( được thể hiện một cách ngắn gọn, xúc tích
giúp học sinh dễ học, dễ nhớ).
+ Phần 3 : Bài tập (với sự đa dạng của các dạng bài tập từ nhận biết,
thông hiểu, tình huống)… giúp học sinh luyện tập và củng cố nắm chắc bài học
từ nhiều phương diện.
Với cấu trúc này giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức cho học sinh học tập
với các phương pháp giảng dạy theo hướng gắn với thực tiễn cuộc sống.
2.2. Một số yêu cầu cần có trong tiết dạy GDCD theo hướng gắn với
thực tiễn cuộc sống.
2.2.1. Quá trình dạy học cần tạo ra được sự tác động qua lại giữa vốn
kinh nghiệm sống đã có của bản thân học sinh với các yêu cầu, chuẩn mực đạo
đức và pháp luật đặt ra.
Học sinh THCS đã có vốn kinh nghiệm sống tương đối phong phú, trong
đó có những kinh nghiệm ứng xử được tích luỹ qua môn đạo đức ở bậc tiểu
học. Đó chính là cơ sở giúp các em lĩnh hội tốt các chuẩn mực đạo đức và pháp
luật ở THCS. Vì vậy trong quá trình dạy- học môn GDCD, giáo viên cần dẫn
dắt và khai thác cho được những kinh nghiệm sống đã có của học sinh.
2.2.2. Giờ dạy phải có tính vấn đề cao về nội dung để thu hút sự chú ý,
tạo tính tích cực học tập của học sinh.
Môn GDCD ở THCS, vấn đề bào trùm là mâu thuẫn giữa trình độ nhận
thức, kinh nghiệm ứng xử hàng ngày của học sinh và các chuẩn mực đạo đức,
pháp luật được đặt ra trong mỗi bài học. Vấn đề trong mỗi bài học phải cao hơn
trình độ đã có của học sinh, đủ sức giữ vai trò thu hút trí tuệ, tình cảm của học
sinh mà dẫn dắt hoạt động của các em. Trong vấn đề, những tri thức, kỹ năng,
mẫu hành vi ứng xử, những tình huống đạo đức, pháp luật có tác dụng kích
5

viên giảng dạy hầu hết chỉ căn cứ vào các thông tin đã có trong sách giáo khoa.
Trong khi đó thông tin đại chúng đã rất phát triển, việc khai thác thực tiễn vào
giảng dạy rất thuận lợi. Phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình hoặc
6


khá hơn chút là vấn đáp. Phương pháp và hoạt động dạy học còn hết sức đơn
điệu chưa đưa được yêu cầu đổi mới giảng dạy vào môn GDCD.
Bộ môn GDCD chưa được coi trọng trong nhà trường, nhiều trường chưa
có giáo viên được đào tạo GDCD giảng dạy mà do giáo viên Văn, Lịch sử hoặc
Toán đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bộ môn chứ chưa
nói đến đổi mới phương pháp.
Về phía học sinh cũng chưa biết coi trọng bộ môn. Các em hết sức thụ
động trong giờ học, chỉ chú ý học thuộc vẹt phần nội dung bài học. Học sinh
không biết vận dụng những nội dung đã học vào cuộc sống. Đặc biệt là phần
kiến thức Pháp luật, các em nắm một cách mơ hồ. Điều đó làm mất đi giá trị to
lớn của bộ môn GDCD.
Theo một số khảo sát nhanh tại trường về một số mặt
- Có khoảng 70% học sinh không chú trọng học môn GDCD.
- 80% các em không biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
- Khảo sát 100 học sinh (cho làm một đề kiểm tra theo hướng đổi mới):
chỉ có 5% học sinh đạt điểm 8 trở lên.
Trước thực trạng dạy và học môn GDCD như đã nêu trên tôi đã
cố gắng nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp khắc phục. Đó chính là việc nghiên
cứu và đưa vào áp dụng sáng kiến : Phương pháp giảng dạy môn GDCD theo
hướng gắn với thực tiễn cuộc sống.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện.
4.1- Nghiên cứu và cải tiến nội dung bài học.
Trong quá trình chuẩn bị bài học, ở khâu soạn giảng giáo viên cần bổ
sung các thông tin tư liệu thực tế có liên quan, những sự kiện đạo đức pháp luật

đặt vào những điều kiện sư phạm lành mạnh có thể phát triển lên tầm cao hoàn
toàn không thể đoán trước được”.Trong các hình thức này, hình thức cao nhất
là sự tự giáo dục. Lúc này, chủ thể giáo dục đã chiếm lĩnh được, làm chủ được
những mục tiêu, phương pháp, phương tiện mà xã hội, nhà trường, tập thể,
nhóm đã giáo dục mình và chuyển những điều đã chiếm lĩnh được thành của
mình để hoàn thiện nhân cách và lĩnh hội những cái mới.
4.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy - học
Cấu trúc chương trình môn GDCD có 8 chủ đề đạo đức và 5 chủ đề pháp
luật. Ở mỗi chủ đề đạo đức hay pháp luật người giáo viên cần vận dụng linh
hoạt các phương pháp cho phù hợp với từng chủ đề.
8


4.3.1 Các chủ đề pháp luật :
- Trước hết, khi nêu ra các quy định của pháp luật, cần chỉ rõ điều đó
xuất phát từ thực tế nào, và nó là thế nào trong thực tế, nhất là thực tế địa
phương.
Ví dụ: công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhưng tại sao
pháp luật lại quy định những trường hợp bắt giữ, giam người: Điều này có cơ
sở thực tế như thế nào ? Cho HS xem một lệnh bắt giữ làm ví dụ. Khi dậy về
tôn trọng tài sản nhà nước và lợi ích công cộng, cần chỉ rõ ở chỗ nào (thôn,
xóm, địa phương nào…) có những hành vi tốt, xấu như thế nào. Ngoài ra
chúng ta có thể sử dụng bài tập điều tra thực tế địa phương, đây là một dạng
rất tích cực, có tác dụng nhiều mặt (vừa gắn với thực tế, vừa là thực hành) .
Có rất nhiều cơ hội cho học sinh làm bài tập dạng này: Điều tra về nạn
tảo hôn, về tự do tín ngưỡng và tôn giáo, về tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất
độc hại, về tệ nạn xã hội, về quyền trẻ em, về các di tích lịch sử, di sản văn
hoá…
Mỗi lần có thể cho nhiều bài tập khác nhau, sử dụng cho từng nhóm học
sinh ở các điểm dân cư khác nhau. Học sinh trong cùng một điểm dân cư có thể

học sinh thực hành thông qua một số tình huống mà giáo viên đã chuẩn bị, vì
thực tế không thể sau mỗi tiết giáo viên lại đưa học sinh đi thực hành mà là một
khâu khác – các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoài trường. Để hướng dẫn học
sinh thực hành, mỗi bài giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh : nội dung thực hành
(làm gì), thực hành vào lúc nào , ở đâu, và kinh nghiệm khi thực hành. Như vậy
là yêu cầu phải hướng dẫn một cách rất cụ thể, sát với điều kiện cụ thể của học
sinh và địa phương.
4.3.2. Các chủ đề đạo đức:
Trong quá trình vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
cần tập trung vào những hoạt động và những vấn đề gần gũi với cuộc sống thực
và liên quan trực tiếp đến học sinh có liên quan đến các chuẩn mực đạo đức,
những tình huống đạo đức.
Ví dụ: Dạy bài “Trung thực” ngay từ khâu vào bài giáo viên có thể đưa
học sinh nhập cuộc vào vấn đề của bài học thông qua một số tình huống :
- Hiện nay ở trường ta trong các giờ kiểm tra cá biệt vẫn còn một số học
sinh giở vở, giở sách ra chép bài, làm hộ bài cho bạn….

10


- Học sinh viết giấy xin phép nghỉ học với lý do là ốm, nhưng thực tế là
nghỉ học để đi chơi điện tử…
- Bao che thiếu sót, khuyết điểm cho bạn giúp đỡ mình
- Nói dối bố mẹ là đi học thêm để đi chơi…
Nhờ đó, các em thấy rõ nội dung và hoạt động dạy học đạo đức là gần
gũi, thiết thực đối với bản thân, chứ không phải cái gì xa lạ đối với mình. Vì
thế, các em có thể vận dụng được những điều đã học vào cuộc sống hàng ngày
của mình (trung thực, dũng cảm, lễ độ…)
Trong quá trình giáo dục, học sinh vừa là đối tượng của dạy (cũng như
của giáo dục), nhưng đồng thời các em lại là chủ thể nhận thức (cũng như chủ

khu di tích.
TH2: Bình là một học sinh cá biệt của lớp. Thường ngày, Bình vẫn đến
lớp muộn, rồi không có khăn quàng, phù hiệu, không sơ vin …. Hằng - trưởng
tổ đã nhiều lần nhắc nhở Bình, nhưng không những không thay đổi mà Bình
còn có nhứng lời nói khiếm nhã đối với Hằng.
- Lựa chọn các vai cho phù hợp.
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị vai (chú ý nêu rõ những yêu cầu cần đạt)
- Bắt đầu “biểu diễn” (hoặc theo kịch bản cho trước, hoặc không theo
kịch bản định sẵn)
Khi dạy bài “Khoan dung” GV có thể cho HS đóng vai tình huống khi
mối bất hoà xuất hiện và cách ứng xử thể hiện lòng khoan dung. Để dễ thực
hiện, GV gợi ý ví dụ: Lan giận Hạnh vì cho rằng Hạnh đã nói xấu mình. Nếu
em là Hạnh, em sẽ ứng xử như thế nào ? (HS thảo luận xây dựng tình huống,
kịch bản, phân vai và thể hiện)
- Cuối cùng giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận, đánh giá, nhận xét
và rút kinh nghiệm.
4.4.2. Phương pháp thảo luận nhóm.
- Giáo viên giới thiệu chủ đề cuộc thảo luận hoặc trình bày tình huống
vấn đề mà cuộc thảo luận sẽ nhằm vào.
Ví dụ: Chủ đề đọc và thảo luận truyện : “Tết ở làng trẻ em SOS Hà Nội”
(GDCD 6)
- Nêu các câu hỏi về chủ để :
+ Tết ở Làng trẻ em SOS diễn ra như thế nào ?
12


+ Em có nhận xét gì về cuộc sống của trẻ em thể hiện trong truyện
trên ?
- Chia lớp thành những nhóm nhỏ (từ 5- 6 em)
- Các nhóm tiến hành thảo luận và ghi tóm tắt kết quả thảo luận ra giấy

- Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần giải trừ mệt mỏi, căng
thẳng trong giờ học.
- Tăng khả năng giao tiếp giữa các HS và giữa GV với HS.
Ví dụ: Trò chơi về an toàn giao thông:
Trò chơi này có thể tổ chức khi dạy bài “Thực hiện trật tự an toàn giao
thông”. Có thể chơi theo nhóm hoặc cả lớp, tuỳ điều kiện của lớp học.
Cách chơi:
- Mỗi nhóm cử 1 HS đóng vai cảnh sát giao thông.
- HS trong nhóm lần lượt đóng vai người đi đường (đi bộ, đi xe đạp, điều
khiển xe cơ giới…)
- Khi cảnh sát giao thông đưa mỗi biển báo ra thì người đi đường tiến
lên, đứng yên hay lùi lại (theo quy ước và ý nghĩa biển báo giao thông)
Khi dạy bài có nội dung pháp luật có thể tổ chức cho HS chơi trò chơi
“Đến trung tâm tư vấn pháp luật”
Cách chơi :
- Mỗi nhóm cử một HS tham gia đóng vai các “Luật sư” của trung tâm
tư vấn pháp luật.
- Mỗi HS trong lớp chuẩn bị câu hỏi có liên quan đến nội dung bài học
để hỏi các “luật sư”.
- Khi các “công dân” nêu ra các câu hỏi, các “luật sư” có thể trao đổi
tìm đáp án và cử đại diện trả lời.
4.4.5. Phương pháp đề án.
Để có được một đề án tốt, HS cần :
- Xác định mục tiêu trong đầu
- Nói lên cách đạt mục tiêu đó như thế nào ?
- Xác định xem cần phải kết hợp với những ai.
- Xác định các bước trong việc thực hiện đề án.
- Thời gian thực hiện đề án
- Triển khai thực hiện đề án
14

4.4.6. Phương pháp nêu gương.

15


“Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống”. Trong
qúa trìng giáo dục nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng không thể chỉ
dựa vào lời nói và tư tưởng. Những tấm gương về hành động và hành vi đạo
đức, pháp luật của những người khác trong xã hội có ý nghia to lớn. Vì vậy nêu
gương tích cực là một phương pháp giáo dục có hiệu quả cao.
Ý nghĩa của phương pháp nêu gương tích cực đối với việc giáo dục là ở
chỗ học sinh có khuynh hướng bắt chước và làm theo những hành vi và hành
động mà các em cho là có ý nghĩa và có tác dụng củng cố giá trị của bản thân.
Thực tế trong xã hội hiện nay bên cạnh những biểu hiện tiêu cực đương bị xã
hội lên án, đã và đang xuất hiện nhiều tấm gương tích cực của con người Việt
Nam năng động, sáng tạo, vươn lên chiến thắng nghèo khổ, bệnh tật, dốt nát,
chiến thắng nguy cơ tụt hậu...
Khi sử dụng phương pháp nêu gương trong dạy- học cần lựa chọn các
tấm gương qua đó học sinh có thể nhận thức một cách toàn diện lý tưởng đạo
đức mới, lý tưởng kết hợp với tính tư tưởng và chính trị cao, chiều sâu của tình
cảm đạo đức và sự trong sáng của hành vi . Vì vậy ta cần sử dụng không chỉ
những tấm gương của những học sinh xuất sắc, những người sản xuất tiên tiến,
những chiến sĩ bảo vệ tổ quốc, và các nhân vật trong các tác phẩm văn học mà
cần nhấn mạnh rằng trong hoà bình và thời kỳ “mở cửa” hiện nay, khi tình
trạng đạo đức đang bị xáo động thì những tấm gương “đời thường” rất cần
được coi trọng.
VD: Tấm gương về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh có một sức
mạnh to lớn trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Chúng ta có
thể tổ chức một số hoạt động như nghiên cứu các tác phẩm của người, tổ chức
các buổi nói chuyện, thảo luận… để có thể khai thác đầy đủ những nét phẩm

giảng dạy của mỗi tiết. Hiệu quả lớn nhất là giúp học sinh có thêm nhiều kiến
thức xã hội, các em không chỉ hiểu mà còn biết vận dụng vào thực tiễn cuộc
sống. Đó là điều kiện giúp các em hoà nhập vào cuộc sống thực tế một cách tốt
nhất. Không chỉ có vậy các em còn có thể mang hiểu biết của mình giúp các
thành viên trong gia đình và những người xung quanh có hiểu biết đúng về các
chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

17


6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng.
Giáo viên trực tiếp giảng dạy phải là những người yêu nghề, có sự tâm
huyết với nghề. Từ đó đầu tư thời gian, công sức nghiên cứu để đổi mới trong
từng tiết dạy.
Ban giám hiệu nhà trường quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị
và thường xuyên tạo điều kiện để giáo viên và học sinh có thời gian nghiên cứu
và học tập bộ môn.
Sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức dạy thực nghiệm trên nhiều
trường.

18


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Khi đã sáng kiến vào áp dụng tôi nhận thấy hiệu quả giảng dạy nâng lên
rõ rệt. Học sinh hứng thú tích cực học tập, các em có những thay đổi hẳn trong
hành vi ứng xử của bản thân.
Mỗi năm học tôi đều kiểm tra 70 học sinh bất kì trong khối. Sau đây
là kết quả :

35
38

%
32,9
42,9
50,0
54,3

Trung bình
SL
%
37
52,8
25
35,7
16
22,9
10
14,3

Như vậy với kết quả kiểm tra trên tôi thấy mức độ hiểu bài của học
sinh tương đối tốt. Tình trạng học sinh không nắm được bài không còn tồn
tại. Học sinh hứng thú tích cực học tập, giờ học trở lên sôi nổi, hiệu quả
Cần chú ý đến phương pháp giảng dạy trong từng bài học, tạo ra những
tình huống gắn với thực tiễn cuộc sống đê đưa vào bài dạy. Tổ chức khéo léo
các hoạt động như sắm vai hay các cuộc thi nhỏ như: hát, vẽ tranh…liên quan
đến các vấn đề nóng trong thực tiễn.
Đối với học sinh cần giúp các em biết quan sát cuộc sống xung quanh
mình, quan sát các cách ứng xử của mọi người để rút ra cách ứng xử đúng cho

Sách nghiệp vụ giảng dạy đạo đức và pháp luật….
+ Tăng cường các trang thiết bị dạy - học :
Tranh ảnh, hiện vật, các mô hình, các sơ đổ, biểu đồ….
Các phương tiễn kỹ thuật : đèn chiếu, máy chiếu……

PHỤ LỤC
20


1. Giáo án minh hoạ :
Giáo dục công dân 8: Tiết 22: Bài 15.
PHÒNG NGỪA TAI NẠN VŨ KHÍ,
CHÁY, NỔ VÀ CÁC CHẤT ĐỘC HẠI
I.Mục tiêu:
1. Kiến thức :
- Nhận dạng được các loại vũ khí thông thường, chất nổ, độc hại và tính chất
nguy hiểm, tác hại của các loại đó với con người và xã hội.
- Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy,
nổ và các chất độc hại.
2. Kĩ năng :
- Biết phòng, chống tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại trong cuộc
sống hàng ngày .
3. Thái độ:
- Thường xuyên cảnh giác, đề phòng tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc
hại ở mọi lúc, mọi nơi.
- Có ý thức nhắc nhở mọi người đề phòng tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất
độc hại.
4. Phát triển năng lực:
- Năng lực hợp tác, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ, giải quyết vấn đề, năng lực
giải quyết vấn đề các nhân và hợp tác giải quyết vấn đề xã hội.

chất nổ và chất độc hại.
H: Em hãy kể tên các loại vũ khí, chất
cháy, chất nổ và các chất độc hại mà
em biết?
- Phát vấn HS.
- GV chuẩn kiến thức:

khí Các loại súng, đạn, lựu
thông
đạn, bom, mìn, lưỡi
thường
lê...
Chất cháy Xăng, dầu hỏa
Chất nổ
thuốc nổ, thuốc pháo,
ga...
Chất độc chất phóng xạ, chất
hại
độc da cam, thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc bảo
vệ thực vật, thủy
ngân...
(Trình chiếu một số hình ảnh minh
họa)
-Gv giới thiệu với HS các thông tin
trong sách giáo khoa. Giải thích do các
thông tin này là số liệu từ rất lâu rồi. Vì
vậy cô đã đưa vào bài những số liệu
mới để các em cùng tìm hiểu.(Trình
chiếu)

Từ tháng 1/2010
730
23.526
151
đến tháng 6/2014.
(Theo cục an toàn thực phẩm – Bộ y tế)

Hoạt động nhóm
-Nội dung: Tìm hiểu về thực trạng và
hậu quả của các tai nạn do bom mìn,
chất cháy, chất nổ và các chất độc hại.
- Nhóm 1: Dựa vào thông tin 1: Tìm
hiểu tai nạn do bom mìn.
- Nhóm 2: Dựa vào thông tin 2: Tìm
hiểu tai nạn do cháy.
- Nhóm 3: Dựa vào thông tin 3: Tìm
hiểu về ngộ độc thực phẩm.
+ Thời gian 3 phút.
+ Các nhóm cử đại diện trình bày.
- GV chuẩn kiến thức:
Loại tai nạn
Tai nạn do
bom mìn.

Thực trạng
- Vẫn thường trực đe dọa
cuộc sống người dân, đặc
biệt là với trẻ em.
- Số vụ cháy còn nhiều:
22.876. Nguy cơ xảy ra ở

Nội dung bài học.
Hoạt động 2
II.Nội dung bài học
23


1. Con người vẫn phải đối mặt với
thảm họa do vũ khí, cháy, nổ và
các chất độc hại. Gây tổn thất lớn
H: Em hãy kể một số ví dụ về tai nạn vầ người và tài sản.
do vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại
xảy ra quanh em?
- Phát vấn học sinh.
- GV nêu thêm: Nổ xưởng sản xuất pháo
hoa của Bộ Quốc Phòng, cháy công ti
TNHH Sakata INX ở Bình Dương,
Tháng 12/2013 ở Hạ Long – Quảng Ninh
đã xảy ra các vụ ngộ độc rượu nếp 29 –
Hà Nội lô sản xuất ngày 12/10/2013 làm
6 người tử vong...
+ Chiếu video về cháy trung tâm
thương mại Hải Dương.
-Phát vấn HS về:
+Thời gian cháy ? (1h sáng ngày
15/9/2013)
+Nguyên nhân cháy ? (Do thiếu trách
nhiệm của nhân viên bảo vệ và ban quản
lí trung tâm thương mại).
+Hậu quả ?( Từ 400 – 500 tỉ đồng, nhiều
hộ dân trắng tay, hiện đã phá đi hoàn

H: Cho biết Nhà nước có những quy
định gì nhằm phòng ngừa các tai nạn
nêu trên?
-Phát vấn HS.
-GV nhận xét, chiếu các quy định .
-Cấm tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán, sử dụng trái phép.
-Chỉ những cơ quan, tổ chức, cá
nhân được Nhà nước giao nhiệm vụ
mới được giữ, chuyên chở và sử
dụng.
- GV: Để đảm bảo cho những quy định -Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trên được thực hiện nghiêm chỉnh, Nhà trách nhiệm...phải được huấn luyện
nước cụ thể hóa các quy định này trong về chuyên môn, có đủ phương tiện
các văn bản pháp luật như:
và luôn tuân thủ các quy định về an
+Luật hình sự: Điều 232, 233, 234, 235, toàn.
236, 237, 238, 239, 240 .
+Luật phòng cháy chữa cháy.
-HS đọc .
H: Theo em trên cả nước việc thực
hiện các quy định này đã tốt chưa ?
-Nhiều nơi thực hiện tốt .
-GV: Trong thực tế, hầu hết các địa
phương trên cả nước ta đang nỗ lực thực
hiện tốt các quy định trên. Một địa
phương đi đầu trong việc thực hiện là
Quảng Trị.
Trong cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mĩ, Quảng Trị được mệnh danh là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status