Cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật nguyên ngọc sau 1975 - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT
NGUYÊN NGỌC SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT
NGUYÊN NGỌC SAU 1975
Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Bạch Văn Hợp

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu ...................................................... 12
4.3. Phương pháp thi pháp học ................................................................. 13
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp ...................................................... 13
5. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 13
6. Cấu trúc của luận văn ............................................................................... 13
Chương 1 ......................................................................................................... 15
NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG...................... 15
TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG ..................... 15
1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng
Việt Nam ...................................................................................................... 15
1.1.1. Về khái niệm cảm hứng .................................................................. 15
1.1.2. Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975............................................................................................... 20


2

1.2. Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc ... 24
1.2.1. Giai đoạn trước 1975 ...................................................................... 24
1.2.2. Giai đoạn sau 1975 ......................................................................... 31
1.3. Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc ............................... 34
1.3.1. Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến ................................... 34
1.3.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống ......................................... 40
1.3.3. Cá tính nhà văn ............................................................................. 43
Chương 2: ........................................................................................................ 49
CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ
THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 - MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN
MẠCH, NHẤT QUÁN ................................................................................... 49
2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 ..................................................... 49
2.2. Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện .......................... 51

1. Lý do chọn đề tài
Sau năm 1975, đất nước đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, trong
đó có văn học. Trong cuộc sống thời bình, con người trở về với cuộc sống đời
thường, với những cái bình thường mà muôn thuở, tất cả những mối quan hệ
phức tạp của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây
quanh con người từng giờ. Đời sống xã hội đã thay đổi rõ rệt. Do đó, văn học
cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với tình hình mới, với cái nhìn toàn diện
và đa diện hơn.
Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng trước năm 1975 với những tác phẩm
viết về người anh hùng như: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng
(tập 1), Rẻo cao. Sau năm 1975, cảm hứng về người anh hùng được tác giả tô
đậm với Trở lại Mèo Vạc, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con
đường mòn trên biển Đông, Tháng Ninh Nông. Ở những tác phẩm này,
Nguyên Ngọc vẫn viết về những người anh hùng. Một mặt, họ vẫn là những
người anh hùng kiên cường sắt thép, mặt khác còn là những con người của
tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu. Trong chiến tranh, họ sống và chiến
đấu vì đất nước, hòa bình họ lại tiếp tục những hành động đẹp của mình để
dựng xây xã hội. Những người anh hùng ấy tuy đời sống hiện tại còn nhiều
khó khăn nhưng bản lĩnh của người cách mạng đã rèn luyện cho họ, vững
vàng hơn, kiên cường hơn đối mặt với mặt trận không tiếng súng, vì thế càng
làm đẹp hơn những hình ảnh của họ trong sự phồn tạp của xã hội hôm nay.
Họ là những tấm gương sáng về sự hy sinh cho ta học tập và noi theo. Vì vậy,
tác phẩm của ông không những có tác dụng giáo dục sâu sắc thế hệ trẻ hôm
nay mà nó còn giúp chúng ta có cái nhìn trung thực hơn về người anh hùng.
Có thể khẳng định rằng Nguyên Ngọc là một cây bút văn xuôi hiện đại


5

có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Ông là

tượng mạnh…tâm hồn Nguyên Ngọc bắt rất nhạy những gì dữ dằn, quyết liệt
và có một vẻ hoang dã như sự sống thời nguyên thuỷ” [55;329]. Và ông kết
luận: “…Vì anh viết bằng lý tưởng, vì anh nhìn đời bằng lý tưởng” [55;339].
“Trong sử thi cổ đại, lấy nguồn ở thần thoại và truyền thuyết lịch sử, là những
tác phẩm lớn, đưa ra một bức tranh toàn cục về đời sống nhân dân thông qua
câu chuyện về người anh hùng qua khứ” [3;83]. Vì thế người anh hùng trong
sử thi là những con người vĩ đại, phi thường, con người chiến đấu vì cộng
đồng, bộ tộc. Theo ông, cái tạo nên phong cách riêng của nhà văn Nguyên
Ngọc là “người thực nhìn qua con mắt đầy lãng mạn của Nguyên Ngọc.
Nguyên Ngọc không phải chỉ viết sử thi, viết văn lãng mạn. Anh thật sự sống
trong không khí sử thi và mang hẳn trong máu mình chất lãng mạn” [55;337].
Phan Tứ người bạn cùng học, người chiến sĩ, là nhà văn cùng thời với
Nguyên Ngọc trong bài Nguyễn Trung Thành cuộc sống và tác phẩm đã
nhận định như sau: “Trong cuộc sống miền Nam muôn màu muôn vẻ, anh
chọn và xoáy sâu vào cái vấn đề sinh tử ấy. Tất cả suy nghĩ và cảm xúc của
anh xói vào hướng ấy như những mũi chông thép song song, có thể nói rằng
toàn bộ những gì anh đã viết – ký tên Nguyễn Trung Thành hoặc vài ba tên
khác, tùy lúc…anh trả lời bằng hình tượng văn học. Anh viết về những con
người gan góc và thông minh đã đánh thắng Mỹ, về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng Việt Nam”[90;120]. Như vậy, ở bài viết này, tác giả đã khẳng định
rằng, Nguyên Ngọc luôn viết về người anh hùng bằng chính lý tưởng của
mình, ngòi bút của ông tập trung vào những vấn đề sinh tử của đất nước, vào
những phẩm chất anh hùng để ngợi ca về những chiến công của họ, người anh
hùng luôn là những con người phi thường như những mũi chông mũi thép,
sẵn sàng xông pha lửa đạn chiến tranh.
Lê Trí Viễn trong bài Theo anh Núp trích trong “Đất nước đứng lên”


7



đây bút pháp hữu tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên những cung bậc anh
hùng cao, phù hợp với khung cảnh cuộc sống và con người miền núi gần gũi
với thiên nhiên bao la, rộng rãi, tươi thắm các sắc màu; phù hợp với tính
cách con người chuộng cuộc sống phóng khoáng, tự do” [39;149].
Trong luận văn Thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn – anh hùng trong văn
xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975 [83], tác giả đã khẳng định được phong cách
nghệ thuật của nhà văn Nguyên Ngọc là cảm hứng lãng mạn anh hùng trong
văn xuôi giai đoạn trước 1975. Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên
Ngọc ở giai đoạn trước 1975 là thủ lĩnh, người anh hùng mang màu sắc bi
tráng, oai hùng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với những hành
động gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc ngùn ngụt, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì
tổ quốc. Chiến đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Về mặt nghệ thuật: luận văn cũng khẳng định trong các sáng tác trước 1975
của Nguyên Ngọc là giọng văn hào hùng, ngợi ca, đậm sắc thái anh hùng. Kết
hợp một cách nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ miền núi và ngôn ngữ địa phương
trong sáng tác. Với luận văn này, đã góp thêm hướng nghiên cứu mới, là tiền
đề, là điều kiện cho các nghiên cứu về văn xuôi Nguyên Ngọc ở giai đọan sau
1975.
2.2. Những ý kiến bàn riêng về Cảm hứng anh hùng trong văn xuôi
nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975
Sau 1975, nhiều cây bút lại thể hiện mình trên nhiều thể loại khác nhau,
có người không thể viết tiếp được nữa cũng có người thay đổi cách viết cho
phù hợp với cuộc sống mới, duy chỉ có Nguyên Ngọc, dòng chảy ấy vẫn tiếp
tục và còn mạnh mẽ hơn trước. Ông vẫn viết theo lối cũ. Trần Đăng Khoa
trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn có nhận xét rất xác đáng, như sau:
“Truyện của Nguyên Ngọc hầu hết là thế. Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng
cách mạng.... Bút pháp ông nhất quán trước sau như một, không thay đổi,




10

tư liệu mà còn là sự chính xác của ấn tượng, sự trải nghiệm qua các sự kiện,
sự suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu của cá tính nhà
văn”[71;106,107].
Thúy Nga trong Nỗi lòng của nhớ và quên đã thừa nhận rằng: “Nguyên
Ngọc đã tìm thấy cái lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và
kể về điều đó bằng một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là
“mảnh đất” của riêng Nguyên Ngọc....Điện Bàn viết năm 1971, Cát cháy viết
năm 1998, và bây giờ 2005, mà câu chuyện dữ dội về người và đất Điện Bàn
những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh kỳ lạ như huyền
thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) ba lần được
tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc. Nhất là với bút ký Có
một con đường mòn trên biển Đông, với khúc ca bi tráng của những người
quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của miền Nam ruột thịt”
[57;518].
Nhìn chung, các bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước 1975
và những bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau 1975 của Nguyễn
Đăng Mạnh, Phan Tứ, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh,
Phong Lê, Thúy Nga, Ngô Thảo, Huỳnh Như Phương... chỉ mới dừng lại ở
một số bài báo hay những nhận định, đánh giá, khái quát về phong cách nghệ
thuật của Nguyên Ngọc. Riêng luận văn của tác giả Vũ Thị Thu phần nào đã
khái quát rõ phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc là viết văn với cảm
hứng anh hùng ở giai đoạn trước 1975, còn giai đoạn sau 1975 thì tác giả vẫn
để ngỏ. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những người đi trước, chúng tôi xác lập
hướng nghiên cứu có hệ thống hơn. Xuyên suốt hành trình nghệ thuật của
mình Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng nhưng người anh
hùng trong sáng tác sau 1975 là người anh hùng được phục dựng lại, vẫn là
cảm hứng ngợi ca nhưng cách nhìn người anh hùng đa diện hơn, với thái độ


12

- Có một con đường mòn trên biển Đông (bút ký) (1998)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyên Ngọc
ở lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật sau 1975 với sự tiếp nối cảm hứng về người
anh hùng trong một hoàn cảnh mới. Từ đó, khẳng định sự nhất quán, liền
mạch trong phong cách của nhà văn. Với cảm hứng ngợi ca, trân trọng cùng
những chia sẻ với cuộc sống của người anh hùng trong hiện tại, nhà văn
Nguyên Ngọc đã có cái nhìn mới về họ. Luận văn góp tiếng nói khẳng định vị
trí xứng đáng của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam sau 1975.
Để thấy rõ sự nhất quán trong phong cách của Nguyên Ngọc, người viết sẽ
tiến hành so sánh các tác phẩm trước và sau 1975 để thấy được cảm hứng
trong sáng tác của ông là cảm hứng anh hùng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, xuất phát từ mục đích
của đề tài, trên cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu văn học, người viết
sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp lịch sử
Khi nghiên cứu các sáng tác của Nguyên Ngọc phải gắn liền với hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam những năm trước và sau 1975 để thấy được
sự tác động của hoàn cảnh đối với hoạt động sáng tác của nhà văn từ việc
hình thành cảm hứng, lựa chọn đề tài, xác định chủ đề đến tổ chức kết cấu tác
phẩm, xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn từ, chọn điểm nhìn trần thuật và
lựa chọn giọng điệu.
4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Để thấy rõ sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc
với những nhà văn cùng thời cũng như cảm hứng về người anh hùng ở hai giai



14

chương được trình bày như sau:
Chương 1 - được trình bày từ trang 15 đến trang 48. Ở chương này,
người viết tập trung làm rõ nội hàm khái niệm cảm hứng, cảm hứng anh hùng
trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn trước 1975. Từ đó thấy được
cảm hứng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 cũng vẫn là cảm hứng
anh hùng với những trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc đời, đặc biệt là về cuộc
đời người anh hùng trong hiện tại. Đồng thời ở chương này, người viết cũng
trình bày khái quát hành trình nghệ thuật qua hai giai đoạn sáng tác trước và
sau 1975 của Nguyên Ngọc để thấy được sự nhất quán trong cảm hứng của
nhà văn. Từ đó, lí giải cội nguồn của cảm hứng anh hùng trong sáng tác của
Nguyên Ngọc.
Chương 2 – được trình bày từ trang 49 đến trang 76. Ở chương này,
người viết sẽ trình bày sự tiếp nối và bổ sung cảm hứng về người anh hùng
trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc giai đoạn sau 1975 tìm hiểu về bối
cảnh xã hội Việt Nam sau 1975. Từ cách chọn đề tài, chủ đề thể hiện đến cách
xây dựng tính cách anh hùng đa diện. Tất cả những yếu tố đó đã cho thấy
được sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Từ đó, tìm hiểu
về thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng.
Chương 3 – được trình bày từ trang 77 đến trang 108. Ở chương này,
người viết tập trung làm rõ bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc thể hiện
trong các sáng tác sau 1975. Từ cách tiếp cận nhân vật anh hùng gián cách
mang đầy hoài niệm với những cảm thông sâu sắc và chia sẻ những mất mát
của chính họ. Thể hiện kết cấu lồng ghép đan xen quá khứ, hiện tại là cách tác
giả đưa người đọc trở về với quá khứ để có cái nhìn nhiều chiều về người anh
hùng của hôm qua và cuộc sống hiện tại của họ hôm nay. Đồng thời thấy
được sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cũng như cách miêu tả giàu ấn tượng để
làm bộc lộ tính cách chân thật, giản dị, đời thường của nhân vật.



16

lòng rộng mở, biết ngạc nhiên dù là với một vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, rất
nhạy cảm với những thay đổi chung quanh “nhà văn hiện thực, hoàn toàn
không phải là chiếc máy hát cần mẫn tái hiện lại những khúc nhạc được ghi
trên đĩa hát”[37;88] mà là người phải biết thể hiện những vẻ đẹp của cuộc
sống bằng chính trái tim của mình, tức là thể hiện cuộc sống khách quan qua
lăng kính chủ quan của mình.
Khái niệm cảm hứng được đề cập đến từ lâu trong lý luận nghệ thuật ở
châu Âu. Có lẽ Hegel là nhà mỹ học đầu tiên đưa ra một lý luận tương đối
hoàn chỉnh về cảm hứng và đưa nó vào một trong các phạm trù mỹ học. Hegel
cho rằng cảm hứng là trung tâm của vương quốc nghệ thuật. “Tình cảm tạo
nên trung tâm thực sự trên vương quốc chân chính của nghệ thuật; thể hiện
tình cảm là cái chủ yếu trong tác phẩm nghệ thuật, cũng như trong cảm thụ
của công chúng” [28;244]. Hegel xem cảm hứng là “sức mạnh của tâm hồn
tự thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và ý chí tự do”
[28;299]. Hegel cho rằng cảm hứng thực sự có được khi có một nội dung đã
được quy định. Đồng tình với quan điểm của Hegel, nhà phê bình Nga
Bêlinski cũng đề cao vai trò của cảm hứng. Ông xác định vai trò và nguồn
gốc tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính
tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo
điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng
chan hòa trong pha lê. Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm
hứng chủ đạo của chúng. Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say
mê và sự ham thích một tư tưởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết
quả chủ đạo phải thấm đượm. Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu
được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả
năng khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [7;111].

đã tạo nên linh hồn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chỉnh
thể nghệ thuật sinh động. Chính nhà văn là người thâm nhâp vào đối tượng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status